Xu Hướng 3/2024 # Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Nhất # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Nhất được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn văn bài Sóng – Xuân Quỳnh trang 156 SGK ngữ văn 12 tập 1 các bạn tham khảo soạn bài tốt hơn.

Câu 1 trang 156 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

– Âm điệu, nhịp điệu của bài thơ là âm điệu, nhịp điệu của những con sóng trên biển và cũng là những con sóng lòng tràn đầy xúc cảm của người phụ nữ đang yêu.

– Âm điệu, nhịp điệu trên được tạo bởi các yếu tố sau:

+ Thể thơ năm chữ ngắn gọn cùng cách ngắt nhịp linh hoạt, phóng túng.

+ Phương thức tổ chức ngôn từ và hình ảnh, sử dụng những đối sánh liên tiếp phân thành hai cực (dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, sông – biển, ngày xưa – ngày sau, lòng sâu – mặt nước, ngày – đêm, xuôi – ngược, phương Bắc – phương Nam, dài – rộng) tạo nhịp sóng xô ra – vào của con sóng biển, sóng lòng.

Câu 2 trang 156 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

– Cũng như sóng, khát vọng tình yêu của tuổi trẻ là muôn đời: Ngày xưa – ngày sau, vẫn thế, bồi hồi (khổ 2).

Câu 3 trang 156+157 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

– Hai hình tượng sóng và em có mối quan hệ gắn bó, mật thiết, cùng song hành xuyên suốt bài thơ. Thực chất, đó sóng là sự phân thân của em, giúp em diễn tả tình yêu một cách kín đáo, ý nhị, tinh tế. Hai hình tượng này ẩn hiện trong nhau và làm nổi bật lẫn nhau.

– Bài thơ có kết cấu sóng đôi

– Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái của tâm hồn mình với con sóng, đó là: sự mâu thuẫn, phức tạp; những khát khao mãnh liệt; nỗi nhớ tha thiết cồn cào; sự trường tồn vĩnh cửu:

+ Con sóng ở tự nhiên mênh mông biển lớn kia có rất nhiều đối cực khác nhau, trạng thái khác nhau. Cũng như tình yêu vậy, tình yêu cũng có rất nhiều cung bậc, trạng thái và cuối cùng điều muốn nói nhất ở đây chính là như tâm hồn người phụ nữ có những mặt mâu thuẫn mà thống nhất (Hai câu đầu khổ 1)

+ Cuộc hành trình có thể nói đầy táo bạo của sóng khi tìm ra với biển khơi hay nói khác đi đó cũng chính là cuộc hành trình của tình yêu hướng về cái vô biên, tuyệt đích. Và phải chăng nó giống như tâm hồn người phụ nữ không chịu chấp nhận sự chật hẹp, tù túng (hai câu cuối khổ 1)

+ Điểm khởi đầu bí ẩn của sóng chính là điểm khởi đầu và sự mầu nhiệm, mọi việc, mọi chuyện dường như khó nắm bắt của tình yêu (Phân tích các khổ 3, 4 )

+ Sóng luôn luôn vận động như tình yêu gắn liền với những khát khao mãnh liệt, trăn trở cứ lặp đi lặp lại không yên, và cũng như người phụ nữ khi yêu luôn da diết nhớ nhung, cồn cào ước vọng về một tình yêu vững bền, chung thủy (Phân tích các khổ 5, 6, 7, 8 )

+ Sóng còn chính là hiện tượng thiên nhiên vĩnh cửu và lấy cái vĩnh cửu của sóng để nói , để ví von với tình yêu. Và đó là khát vọng muôn đời của bất cứ ai trong cuộc đời khi yêu nồng cháy. Và trước hết là người phụ nữ (nhân vật trữ tình trong bài thơ) muốn dâng hiến cả cuộc đời cho một tình yêu đích thực (khổ cuối)

Câu 4 trang 157 SGK Ngữ văn 12, tập 1 

Bài thơ là lời tự bạch của người phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn chân thành, đằm thắm, luôn da diết khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc. Tình yêu của người phụ nữ ấy qua bài Sóng thật thiết tha, chung thủy, mạnh mẽ, mong muốn vượt lên trên thử thách của thời gian, khó khăn trong cuộc đời và sự hữu hạn của kiếp người.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 157 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

– Biển (Xuân Diệu)

– Thuyền và biển (Xuân Quỳnh)

– Bên biển (Huy Cận)

Bố cục

Bố cục( 4 phần)

– Phần 1 (khổ 1+2) : Sóng – Khát vọng tình yêu của người con gái

– Phần 2 (khổ 3+4) : Ngọn nguồn của sóng – Truy tìm sự bí ẩn của tình yêu

– Phần 3 (khổ 5+6+7) : Sóng – Nỗi nhớ thủy chung trong tình yêu

– Phần 4 (Khổ 8+9) :  Những suy tư về cuộc đời và khát vọng trong tình yêu.

ND chính

Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

Bài Soạn Sóng Của Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Ở Ngữ Văn Lớp 12

Tham khảo bài soạn Sóng của Xuân Quỳnh ngắn gọn ở ngữ văn lớp 12 được blog chọn lọc và chia sẻ trong bộ tài liệu học tốt môn ngữ văn lớp 12, nhằm mang đến tài liệu tham khảo hay.

Hướng dẫn soạn bài Sóng của Xuân Quỳnh ở ngữ văn lớp 12

Câu 1:

* Về âm điệu, nhịp điệu bài thơ.

-Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước…

* Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố:

– Thể thơ năm chữ

– Những câu thơ liền mạch, từng không ngắt nhịp

– Các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần

– Nhịp thơ gợi dư âm sóng biển

– Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

Câu 2:

Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng.

– “sóng” mang nghĩa tả thực: con sóng với nhiều trạng thái mâu thuẫn, trái ngược nhau. Sóng được miêu tả chân thực, sinh động ngoài biển khơi. Sóng có tính cách, tâm trạng, tâm hồn.

– Nghĩa biểu tượng của “sóng”:

+ Sức sống và vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng.

+ Hình tượng sóng được gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu: dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thì thầm sâu lắng, gợi âm hưởng của những đợt sống miên man, vô tận.

+ Là hình tượng ẩn dụ, sự hoá thân của nhân vật trữ tình “em”. Xuân Quỳnh lấy hình tượng sóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi, chân thành và dạt dào khát vọng.

Câu 3:

* Hai hình tượng là “sóng và em”: song hành, tuy hai mà một, khi hoà nhập, khi tách rời diễn tả sâu sắc,sinh động,mãnh liệt khát vọng của Xuân Quỳnh.

* Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch trong dòng suy nghĩ và cảm xúc

* Sự tương đồng trong tâm hồn người phụ nữ với các con sóng:

Câu 4:

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu. Người phụ nữ trong tình yêu, tình yêu thật đằm thắm, thật dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương, thật chung thủy. Người phụ nữ đã táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian, nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

Luyện tập:

Một số bài thơ viết về tình yêu có sự so sánh với sóng và biển:

+ Biển (Xuân Diệu):

“Bờ đẹp đẽ cát vàng

Thoai thoải hàng thông đứng

Như lặng lẽ mơ màng

Suốt ngàn năm bên sóng

Anh xin làm sóng biếc

Hôn mãi cát vàng em

Hôn thật khẽ, thật êm

Hôn êm đềm mãi mãi…”

+ Khúc thơ tình người lính biển (Trần Đăng Khoa):

“…Biển ồn ào, em lại dịu êm

Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽ

Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía

Biển một bên và em một bên”

Sưu tầm

Phân Tích Sóng Xuân Quỳnh Hay Nhất

I. Tìm hiểu chung để phân tích Sóng Xuân Quỳnh

Mở bài Sóng cần giới thiệu thông tin sơ lược về tác giả và tác phẩm:

1. Tác giả

-  Xuân Quỳnh (1942-1988) là nữ thi sĩ nổi tiếng trong nền thơ ca Việt Nam.

 Nữ thi sĩ Xuân Quỳnh (1942-1988)

– Xuân Quỳnh sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình trung lưu, bà sớm phải xa mẹ từ nhỏ, bố hay đi công tác nên nhà thơ học được cách tự lập từ nhỏ khi sống với bà.

– Sự nghiệp Xuân Quỳnh để lại cho đời với hàng loạt các tác phẩm thơ ca nổi tiếng như: Tiếng gà trưa, Thuyền và biển, Sóng, …

 2. Tác phẩm

-  Bài thơ Sóng Xuân Quỳnh được sáng tác năm 1967, lấy cảm hứng trong một chuyến đi thực tế tại bãi biển Diêm Điền – Thái Bình và in trong tập Hoa dọc chiến hào.

– Đây là bài thơ tình yêu nổi tiếng nhất tiêu biểu cho phong cách thơ nữ tính, trữ tình của Xuân Quỳnh.

II. Phân tích Sóng Xuân Quỳnh chi tiết

1. Bản chất của “sóng” và “em” trong khổ 1 và 2

– Mở bài Sóng thể hiện ngay những cảm xúc rõ ràng của một tâm hồn khao khát được yêu đương mãnh liệt đang đăm chiêu tìm kiếm một tình yêu rộng lớn hơn ngoài kia.

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ“

Sóng dữ dội

Sóng dịu êm

– Bộ ba “sông”, “sóng”, “bể” hỗ tương cho sự tồn tại của nhau : Sông và bể tạo nên cuộc đời sóng, nhưng sóng chỉ thực sự là mình, được sống với cuộc đời thực của mình và được tự do bay nhảy khi sóng hòa vào với biển khơi bao la, rộng lớn.  

 “Ôi con sóng… và ngày sau vẫn thế”

–         Thán từ “ôi”: Nét nồng nàn, nữ tính trong giọng thơ Xuân Quỳnh, là tiếng lòng đầy thổn thức yêu đương từ trái tim chân thành của người phụ nữ đang đắm chìm trong tình yêu.

– Nghệ thuật đối lập “ngày xưa” – “ngày sau”: sự đối lập khẳng định sự trung thành, nhất quán.

     “Nỗi khát vọng tình yêu… ngực trẻ”

– “Bồi hồi”: trạng thái tâm lý bất định, thể hiện rõ nét sự nôn nao, khắc khoải, da diết của tình yêu trọn đời, trọn kiếp đang cháy trong “ngực trẻ”.

2. Những suy nghĩ trăn trở về cội nguồn tình yêu trong khổ 3 và 4

– Chính vì tác giả cũng “Không hiểu nổi mình” nên bà đặt ra những thắc mắc về biển cả và tình yêu.

– Trong đoạn này, nhà thơ sử dụng điệp ngữ “em nghĩ về” và câu hỏi tu từ “Từ nơi nào sóng lên”

“Em cũng không biết nữa – Khi nào ta yêu nhau”

– Xuân Quỳnh đã lấy chính quy luật tự nhiên để tìm ra nguồn gốc của sóng, của tình yêu, gợi lên những bí ẩn của tình yêu cần khám phá.

 “Sóng bắt đầu từ gió”

“Gió bắt đầu từ đâu?”

“Em cũng không biết nữa”

“Khi nào ta yêu nhau”

3. Nỗi nhớ và lòng thủy chung của người con gái khi yêu trong khổ 5 và 6

– “Dưới lòng sâu”, “trên mặt nước”: Nghệ thuật tương phản, gợi mở trên nhiều không gian và phạm vi đa dạng khác nhau.

– “Ngày” – “đêm”: thời gian cũng linh động đa dạng khác nhau.

– “Ngày đêm không ngủ được”

– Người phụ nữ không còn giấu diếm nỗi nhớ của mình thêm được nữa mà trực trào ra bên ngoài cử chỉ, điệu bộ, thói quen hàng ngày một cách trực tiếp, chân thành và, mạnh dạn.

“Lòng em nhớ đến anh”

“Cả trong mơ còn thức”

– Nghệ thuật tương phản “xuôi – ngược”, “bắc – nam”: Hành trình của con sóng lăn lộn ngược xuôi, vẫy vùng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu mà người phụ nữ đang kiếm tìm giữa cuộc đời quá rộng, vô chừng.

4. Khát vọng tình yêu vĩnh cửu trong khổ 7,8 và 9

– “Con nào chẳng tới bờ … Dù muôn vời cách trở”: Đó vốn là quy luật muôn đời của thiên nhiên, cũng giống như “em” – dù tình yêu có trải qua bao thăng trầm, ngọt bùi, cay đắng thì em cũng vẫn hướng về phương anh với một tình yêu thủy chung duy nhất và em tin bằng tình yêu chân thành rồi sẽ có trái ngọt hoa thơm.

– “Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua”: chính cuộc đời hữu hạn mang đến cho ta cảm giác thật cô đơn và nhỏ bé, bắt đầu có những nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước sự vô cùng của thời gian, cuộc đời.

– “Như biển kia … bay về xa”: người phụ nữ bắt đầu sợ sự đổi thay nơi lòng người khó mà biết trước được. Nhưng khi vượt qua bao phong ba bão táp, qua những hoài nghi, những đổi thay để theo đuổi sự tích cực trong tình yêu và luôn hướng về nhau, cùng nhau phát triển thì tình yêu sẽ có thêm dư vị, sẽ đẹp và đáng trân trọng hơn.

III. Tổng kết bài phân tích Sóng Xuân Quỳnh

1. Giá trị nội dung

Xuân Quỳnh luôn có những rung cảm tình yêu rất đời thường mà rất riêng và ta cũng cảm nhận được điều đó qua bài thơ Sóng của bà. Bà chúa thơ tình thể hiện những cảm xúc, rung động tinh tế và những nét đặc trưng trong tình yêu của người phụ nữ mà ta đều thấy mình trong đó. Cảm nhận bài thơ Sóng Xuân Quỳnh còn cho ta thấy được quan niệm tình yêu mới mẻ của Xuân Quỳnh, vượt qua mọi rào cản, hủ tục và quan niệm xưa cũ của xã hội để sống hết mình với tình yêu và luôn khao khát một tình yêu đích thực, chân thành.

2. Gía trị nghệ thuật

–         Các biện pháp nghệ thuật được sử dụng linh hoạt, đa dạng như: tương phản – đối lập, ẩn dụ, nhân hóa.

–         Ngôn từ giản dị nhưng giàu sức gợi mở, liên tưởng.

–         Thể thơ ngũ ngôn liền mạch.

Soạn Bài Sóng Xuân Quỳnh Hay Nhất

Bài thơ được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), là một trong các bài thơ đặc sắc nhất viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào.

Bài thơ được chia làm 3 phần

Phần 1: 2 khổ thơ đầu

Nội dung: Mối quan hệ giữa sóng và em

Phần 2: 4 khổ thơ tiếp theo

Nội dung: Nỗi nhớ của người con gái trong tình yêu và sự lí giải về cội nguồn của tình yêu

Phần 3: Còn lại

Nội dung: Khát vọng được thấu hiểu, được hòa mình vào tình yêu lớn của nhà thơ

Bài văn chi tiết và đầy đủ phân tích bài thơ Sóng hay nhất

II. Tìm hiểu chi tiết bài thơ Câu 1 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Nhận xét về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ Sóng

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do 5 chữ, diễn tả mạch lạc và cảm xúc dồi dào của người con gái trong tình yêu. Bài thơ tựa như một lời bài hát với giai điệu ngọt ngào, lãng mạn và không kém phần bay bổng.

– Về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ:

+ Nhịp thơ lúc nhịp nhàng, lúc dồn dập

+ Vần thơ: đa dạng, linh hoạt bằng các vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các đợt sóng nối tiếp nhau.

+ Nhịp điệu bài thơ mô phỏng nhịp điệu của sóng biển: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước…

– Những âm điệu, nhịp điệu ấy được tạo thành bởi các yếu tố:

+ Những câu thơ liền mạch, không ngắt nhịp

+ Các khổ thơ được gắn kết với nhau bằng cách nối vần

+ Nhịp thơ gợi dư âm sóng biển

Câu 2 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Hình tượng bao trùm toàn bộ bài thơ và xuyên suốt theo bài thơ chính là hình tượng sóng

– Khổ thơ 1 và 2: Hình tượng sóng diễn tả những cảm xúc, tâm trạng của người con gái trong tình yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

Từ đó, nhà thơ khái quát lên quy luật của tình yêu: rằng con người muốn vượt qua những cái nhỏ bé, tầm thường để vươn mình đến với tình yêu. Tình yêu ấy còn được khẳng định sẽ mãi trường tồn, bất diệt với thời gian:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế”

– Khổ 3+4+5+6: Sự đắm chìm của người con gái trong tình yêu thông qua việc lí giải cội nguồn của hình tượng sóng, cũng là cội nguồn của tình yêu:

“Sóng bắt đầu từ gió

Gió bắt đầu từ đâu?

Em cũng không biết nữa

Khi nào ta yêu nhau”

Hình tượng sóng đi theo từ đầu bài thơ cho đến khi nữ thi sĩ muốn lí giải cội nguồn của tình yêu, chị cũng phải tìm đến cội nguồn của hình tượng sóng. Chính vì không lí giải được hết tường tận cội nguồn của các con sóng ngoài biển khơi nên nhà thơ cũng không thể hiểu nổi tình yêu của mình bắt đầu từ khi nào, chỉ biết rằng khi đã chìm đắm trong tình yêu thì chỉ có nỗi nhớ da diết:

“Ôi con sóng nhớ bờ

Ngày đêm không ngủ được

Lòng em nghĩ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

Nhà thơ Xuân Quỳnh cũng dùng hình ảnh sóng để nhắc về nỗi nhớ dành cho người yêu. Rõ ràng, hình tượng sóng luôn thể hiện và có những nét tương đồng trong tâm trạng của người con gái trong tình yêu.

– Ba khổ thơ cuối (khổ 7,8,9): hình tượng sóng vươn ra biển khơi cũng chính là khát vọng được hòa mình vào biển lớn của nữ sĩ Xuân Quỳnh.

Câu 3 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Hình tượng “sóng” và hình tượng “em”

– Đây là hai hình tượng sóng đôi, đồng hành cùng nhau xuyên suốt cả bài thơ:

+ Sóng và em lúc hòa hợp, lúc tách rời

+ Kết cấu song hành làm tăng hiệu quả của nhận thức, khám phá chủ thể trữ tình, tình yêu thủy chung, bất diệt

– Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ, cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, quan sát và suy ngẫm về tình yêu, những biến chuyển tinh tế dọc theo mạch cảm xúc dâng trào.

Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn với những con sóng

+ Sự đa dạng muôn màu sắc, trạng thái: dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ

+ Không rõ cội nguồn, không thể định nghĩa, lý giải được

+ Sự mãnh liệt, sâu sắc trong khát khao sống, yêu thương

+ Sự chung thủy, gắn bó bền chặt

→ Sóng và em là sự cộng hưởng trọn vẹn trong suốt bài thơ, trải qua nhiều cung bậc tình yêu để hòa quyện vào nhau

→ Hình tượng sóng là ước vọng đời thường trong tình yêu của người phụ nữ

Câu 4 (Trang 156 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Đó là một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu. Người phụ nữ trong tình yêu thật đằm thắm, thật dịu dàng, thật hồn hậu dễ thương mà cũng thật chung thủy. Người phụ nữ đã táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn vững tin vào sức mạnh của tình yêu.

5 Bài Thơ Hay Nhất Của Xuân Quỳnh

Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, được biết đến rộng rãi trong làng thơ Việt bởi bút danh Xuân Quỳnh. Nữ thi sĩ sinh năm 1942 và qua đời vào năm 1988. Xuân Quỳnh thể hiện niềm đam mê với nghệ thuật ngay từ khi còn nhỏ. Cô từng là diễn viên múa từ năm 13 tuổi. Bài thơ đầu tiên của cô được đăng báo vào năm cô 19 tuổi. Xuân Quỳnh ‘chính thức’ trở thành nhà thơ chuyên nghiệp sau khi trải qua lớp bồi dưỡng của Hội Nhà Văn Việt Nam. Đây là lớp bồi dưỡng dành cho những người viết văn trẻ, và là khoá đầu tiên của Hội (1962-1964). Dù tuổi thọ, tuổi thơ không dài, nhưng Xuân Quỳnh được tôn vinh là nữ thi sĩ hàng đầu nửa cuối thế kỷ 20.

Đọc thơ Xuân Quỳnh, độc giả sẽ có một cảm nhận rất ‘lạ’. Cảm giác như thể cô không hề ‘chế tạo’ câu chữ, ‘gượng ghép’ thành thơ. Thơ Xuân Quỳnh giống như những dòng hồi ký, kể lại những gì chính tác giả đã sống, đã trải. So với lớp thi sĩ cùng thời, nét riêng của Xuân Quỳnh đã được lột tả rõ ràng bởi chính khía cạnh nội tâm đó.

Thơ Xuân Quỳnh đầy tâm trạng cá nhân chứ không phải thứ tháp ngà phi hiện thực, tách xa đời sống. Đọc thơ của cô, độc giả cảm nhận đời sống đích thực, như chính đời sống của nữ thi hào trong giai đoạn lịch sử đó. Giai đoạn này, Việt Nam vẫn đang bị chia cắt, chiến tranh vẫn hiện diện. Sự nghèo khó, gian truân, nỗi lo toan con cái, cơm áo gạo tiền phảng phất trong mỗi vần thơ. Xuân Quỳnh – một người phụ nữ làm thơ, ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn.

Thời kỳ đó, rất nhiều bài thơ mang hơi hướng phản ánh sự kiện chính trị, xã hội. Một số nhà thơ đưa tâm trạng chung của xã hội vào thơ, chứ không hẳn là cảm xúc của bản thân. Xu hướng ‘vui buồn của thi sĩ hòa trong buồn vui chung của công dân’ dễ dàng được tìm thấy. Nhưng thơ Xuân Quỳnh thì hoàn toàn khác. Thơ của cô là vần thơ tâm trạng mang đúng chất Xuân Quỳnh. Tâm trạng đó nảy sinh từ đời sống của chính cô, từ hoàn cảnh của riêng cô chứ không phải ai khác.

Thơ Xuân Quỳnh khác lắm. Có bài thơ về chiến tranh, viết trên đường 20, nhưng lại mang nỗi lòng của cô gái đang yêu. Có bài thơ lại tràn đầy chi tiết hiện thực, giống như một ký sự. Nhưng đó không phải một ký sự về Hà Nội những ngày chống Mỹ, mà lại là những dòng thơ thấm đẫm nỗi lòng riêng của Xuân Quỳnh. Vần thơ viết ra theo dòng cảm xúc của cô gái, đã tạo nên một mạch trữ tình. Mạch trữ tình đó lại vô thức xâu chuỗi các chi tiết rời rạc của ngày thường, tổ chức nó thành kết cấu độc đáo của bài thơ.

Tinh tế, sâu sắc, đậm tình ý nhưng lẩn khuất phía sau những vần thơ Xuân Quỳnh lại là tư tưởng nhân văn, triết luận (Cơn mưa không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loài người, Những người mẹ không có lỗi…). Đó không phải những triết lý tư biện, viễn vọng, ‘vô phương ứng dụng’. Đó là những tâm tư đúc kết từ đời thực, đầy tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho độc giả trên khía cạnh nhận thức và ứng xử trong cuộc đời.

Sự tinh tế trong quan sát có lẽ chính là khả năng thiên bẩm của Xuân Quỳnh. Cô quan sát không chỉ bằng thị giác, mà bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Những chi tiết vốn gần gũi bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị đậm đà cho câu thơ.

Một màu cỏ mùa xuân:

“Cỏ bờ đê rất lạ Xanh như là chiêm bao…” “Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh…”

Hay tiếng mưa trên lá cọ:

Cũng có thể vì có tài quan sát mà ở một số bài Xuân Quỳnh ham tả, ham kể. Kể có duyên nhưng vẫn làm loãng chất thơ. Những bài thơ dài của Xuân Quỳnh thường dài vì quá dày chi tiết.

Một số tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp của Xuân Quỳnh

Truyện: – Bến tàu trong thành phố, NXB Kim Đồng, 1984 – Vẫn có ông trăng khác (tập truyện ngắn), NXB Kim Đồng, 1988 – Bao giờ con lớn (truyện tranh), NXB Kim Đồng, 1975 – Mùa xuân trên cánh đồng, NXB Kim Đồng, 1981 – Bầu trời trong quả trứng, NXB Kim Đồng, 2005

Thơ: – Gió Lào cát trắng, NXB Văn học, 1974 – Hoa dọc chiến hào, NXB Văn học, 1968 – Tự hát, NXB Tác phẩm mới, 1984 – Lời ru trên mặt đất, NXB Tác phẩm mới, 1978 – Sân ga chiều em đi, NXB Văn học, 1984 – Truyện Lưu, Nguyễn (truyện thơ), NXB Kim đồng, 1983 – Thơ viết tặng anh Tp. Hồ Chí Minh, Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1988

Dịch: – Bố ơi, bố làm con sợ đi (truyện tranh, t/g: Tamara Đăngblông), NXB Kim Đồng, 1989

5 bài thơ hay nhất của nhà thơ Xuân Quỳnh

(Biển Diêm Điền, 29-12-1967)

1. Sóng 2. Thuyền và biển

Em sẽ kể anh nghe Chuyện con thuyền và biển:

Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió”

3. Tự hát 4. Thơ tình cuối mùa thu

chúng tôi

5. Chuyện cổ tích về loài người

Soạn Bài Sóng Của Xuân Quỳnh

2. Tóm tắt nội dung bài học

Vẻ đẹp tâm hồn và khát khao nhận thức của người phụ nữ về một tình yêu thủy chung, bất diệt.

Tác giả diễn tả cụ thể các trạng thái khác thường vừa phong phú vừa phức tạp trong một trái tim đang cồn cào, khao khát tình yêu.

Người phụ nữ đang yêu có nhu cầu tìm hiểu, lí giải cội nguồn của tình yêu.

Tình yêu gắn liền với nỗi nhớ – nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi.

Trái tim đang yêu rất nhạy cảm trước sự trôi chảy của thời gian, khát khao bất tử hóa tình yêu.

2.2. Nghệ thuật

Hình tượng nghệ thuật:

Sóng – hình tượng nghệ thuật ẩn dụ, cái tôi trữ tình nhập vai đẹp, xác đáng.

Sóng và em tuy hai mà một, lúc phân đôi để soi chiếu, lúc hòa nhập để cộng hưởng lan tỏa.

Kết cấu độc đáo trên cơ sở nhận thức sự tương đồng, hòa hợp giữa hai hình tượng sóng và em.

Thể thơ năm chữ, nhịp linh hoạt tạo nên nhịp điệu của những con sóng (khi dạt dào, sâu lắng, khi sôi nổi, mãnh liệt) cho toàn bài thơ.

3. Soạn bài Sóng chương trình chuẩn

Câu 1: Anh (chị) có nhận xét gì về âm điệu, nhịp điệu của bài thơ? Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

Với thể thơ năm chữ rất thành công, với tính nhạc dìu dặt, nhịp nhàng, bài thơ như một khúc hát âm vang vẫn ngân nga những giai điệu đắm say của nó trong những trái tim đang yêu. Tình yêu chính là bài ca muôn đời của cuộc sống mà ở đó cái tôi trữ tình – cái tôi đang yêu được bộc lộ chân thực là mình. Xuân Quỳnh đã sống đắm say, đã yêu hết mình, đã khao khát rất mực chân thành trong những dòng thơ tình yêu đầy mê mải, thiết tha của mình.

Câu 2: Hình tượng bao trùm và xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liên kết các khổ thơ là những khám phá về sóng. Hãy phân tích hình tượng này.

Sóng được khắc họa qua những từ ngữ diễn tả đặc điểm, trạng thái: dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, dưới lòng sâu, trên mặt nước…

Đặc biệt qua âm điệu dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thầm thì sâu lắng (được tạo nên từ thể thơ năm chữ, từ phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh). Âm điệu đó mô phỏng âm hưởng của những con sóng lúc miên man dịu dàng, lúc cuồn cuộn vỗ bờ, lúc trào dâng bạc đầu, lúc lặng chìm đáy nước biển khơi…

Ý nghĩa:

Ý nghĩa tả thực: miêu tả chân thực, sinh động hình ảnh của sóng ngoài biển khơi. Sóng có tính cách, tâm trạng, tâm hồn.

Ý nghĩa biểu tượng: tính cách, tâm trạng và khát vọng của nhân vật trữ tình em. Sóng là hình tượng ẩn dụ, hóa thân của cái tôi trữ tình nhà thơ.

⇒ Âm điệu bài thơ cũng là nhịp sóng lòng của em, là dòng tâm tình của người phụ nữ đang yêu được khơi nguồn khi đứng trước biển cả, đối diện với những con sóng vô hạn vô hồi.

Câu 3: Giữa sóng và em trong bài thơ có mối quan hệ như thế nào? Anh (chị) có nhận xét gì về nghệ thuật kết cấu của bài thơ. Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ta sự tương đồng đó.

Giữa sóng và em có mối quan hệ song hành với nhau. Có lúc hòa nhập làm một, vừa phân đôi để soi chiếu vào nhau và cộng hưởng nghệ thuật với nhau, nhằm biểu đạt một cách trọn vẹn thế giới tâm tình người phụ nữ đang yêu. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để hiểu tận đáy lòng mình và nhờ con sóng biển mà biểu hiện những trạng thái tâm hồn mình trong tình yêu.

Bài thơ có kết cấu nghệ thuật sóng đôi dựa trên sự tương đồng giữa tâm trạng người phụ nữ đang yêu với những con sóng. Tác giả đã mượn những cung bậc của sóng để gửi gắm tình yêu của con người.

Sự tương đồng giữa sóng và em:

Từ tình yêu của sóng khao khát tìm ra với biển lớn đến những thức đập, xô vỗ bờ,…con sóng đều đang chứa đựng những nhịp điệu tâm hồn của người phụ nữ đang yêu. Con sóng dưới lòng sâu hay con sóng trên mặt biển đều diễn tả cái sâu thẳm, vời vợi của tình yêu con người.

Cái cồn cào, khắc khoải trong nỗi nhớ của em với anh được diễn tả bằng nỗi nhớ của sóng với bờ, trong một nhịp điệu xao xuyến của tình yêu. Xuân Quỳnh đã mượn hình ảnh sóng nhớ bờ để diễn tả nỗi nhơ khôn cùng của em. Sóng không ngủ hay là em thao thức, sóng nhớ bờ hay trái tim em cồn cào, thao thức đập vì anh?

Biển không bao giờ vắng bóng sóng, cũng như tình yêu của con người mãi mãi bất tử. Dù muôn vời cách trở sóng vẫn tìm đến bờ, giống như em nguyện dâng trọn đời cho em. Bờ là nơi đến của sóng và anh là nơi đến của tình em. Những cung bậc tha thiết của tình yêu đã được Xuân Quỳnh gửi gắm trong những nhịp xôn xao của sóng.

Câu 4: Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh (chị), tâm hồn người phụ nữ đó có đặc điểm gì?

Tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu có đặc điểm:

Chân thành, tha thiết, nồng nàn, mãnh liệt trong tình yêu, một khi đã yêu thì ai cũng yêu hết mình, không có gì ngăn trở được đặc biệt người phụ nữ lại càng như vậy.

tình yêu của người phụ nữ rất đời thường, từ cực này sang cực khác, ước vọng của họ cũng rất khiêm nhường, chỉ mong được làm “con sóng nhỏ giữa biển lớn tình yêu để ngàn năm còn vỗ”, nhưng đó không phải là thứ tình yêu chật hẹp, tầm thường mà luôn vươn tới một tình yêu rộng lớn, cao đẹp hơn: khi “sóng không hiểu nổi mình” thì dứt khoát “sóng tìm ra tận bể” ⇒ Có thể xem đây là một tư duy mới trong thơ tình vêu của Xuân Quỳnh.

Mod Ngữ văn sẽ cập nhật bài soạn trong thời gian sớm nhất!

Có nhiều câu thơ, bài thơ so sánh tình yêu với sóng và biển. Hãy sưu tầm những câu thơ, bài thơ đó.

Những bài thơ hay so sánh tình yêu với sóng và biển: Biển (Xuân Diệu), Thuyền và biển (Xuân Quỳnh), Hai nửa vầng trăng (Hoàng Hữu), Thơ tình người lính biển (Trần Đăng Khoa), Chuyện tình biển và sóng (Trần Ngọc Tuấn),…

Thơ tình người lính biển

Trần Đăng Khoa

Mây treo ngang trời những cánh buồm trắngPhút chia tay, anh dạo trên bến cảngBiển một bên và em một bên.Em vừa nói câu chi rồi mỉm cười lặng lẽAnh như con tàu, lắng sóng từ hai phíaBiển một bên và em một bên.Ngày mai, ngày mai khi thành phố lên đèn Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắcThăm thẳm nước trôi nhưng anh không cô độcBiển một bên và em một bên.Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên.Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắngAnh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắngBiển một bên và em một bên.Vòm trời kia có thể sẽ không emKhông biển nữa. Chỉ còn anh với cỏ.Cho dù thế thì anh vẫn nhớBiển một bên và em một bên.”

Chuyện tình biển và sóng

Trần Ngọc Tuấn

“Có một lần biển và sóng yêu nhau,Người ta bảo biển là tình đầu của sóng.Sóng dữ dội vỡ bờ cát trưa nóng bỏng,Biển rì rầm hát mãi khúc tình ca.Có một lần sóng nông nổi đi xa,Bao kẻ đến và tỏ tình với biển.Biển sợ rằng sóng không về vĩnh viễn,Nên đành rằng hò hẹn với vầng trăng.Sóng trở về thế là biển ăn năn,Sóng đâu nợ để biển xanh kia vô tội.Tình chỉ đẹp khi không còn gian dối,Và bỏ đi kể từ đó không về.Có một lần anh đã kể em nghe.Chuyện tình yêu của chúng mình vốn không đơn giản,Anh phiêu lưu còn em thì lãng mạn,Và thời gian hò hẹn cũng mong manh.Sóng bạc đầu từ đó phải không anh?Còn biển kia vẫn xanh màu huyền bí?Không phải đâu em biển kia không chung thủy,Dẫu bạc đầu sóng vẫn mãi thủy chung.Anh dắt em giữa biển nghìn trùng,Nghe dã tràng kể chuyện xưa xa vắng.Dẫu không phải tình đầu em trong trắng,Chỉ mong anh một lòng với cổ tích biển ngày xưa!”

Cập nhật thông tin chi tiết về Xuân Quỳnh Ngắn Gọn Nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!