Xu Hướng 1/2023 # Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc ( Nguyễn Đình Chiểu ). # Top 8 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc ( Nguyễn Đình Chiểu ). # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc ( Nguyễn Đình Chiểu ). được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bùi Đức Quân

Website Luyện thi online miễn phí,hệ thống luyện thi trắc nghiệm trực tuyến miễn phí,trắc nghiệm online, Luyện thi thử thptqg miễn phí

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc HOC247, Đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nội dung Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Soạn, hoàn cảnh sáng tác bài “văn tế nghĩa sĩ cần giuộc” là, Chúng mình Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc la tiếng khóc mang tầm vóc sử thi, Phần Lung khởi bài văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Wiki

PHẦN MỘT: TÁC GIẢ.

I. Cuộc đời.

– Nguyễn Đình Chiểu – Đồ Chiểu( 1822 – 1888) Tự là Mạnh Trạch, hiệuTrọng Phủ, Hối Trai ( cái phòng tối )

– Sinh tại quê mẹ: Làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định.

– Xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên vào Gia Định làm thư lại, lấy bàTrương Thị Thiệt người Sài Gòn làm vợ thứ, sinh ra Nguyễn Đình Chiểu.

– 1833 ông Huy đưa Nguyễn Đình Chiểu vào Huế ăn học, 1840 Nguyễn Đình Chiểu về Nam, 1843 thi đỗ tú tài, 1846 ra Huế thi tiếp nhưng đến 1949 lúc sắp thi thì mẹ mất, bỏ thi về Nam đội tang mẹ. Trên đường đi bị đau mắt nặng vì khóc mẹ quá nhiều nên đã bị mù hai mắt.

– Bị mù từ năm 27 tuổi, Nguyễn Đình Chiểu vẫn mở lớp dạy học, làm thuốc chữa bệnh cho người nghèo và sáng tác thơ văn chống Pháp.

– 1859 Pháp đánh Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu đánh giặc và sáng tác nhiều thơ văn chiến đấu.

-Thực dân Pháp biết ông là người có tài tìm cách dụ dỗ, mua chuộc, nhưng ông tỏ thái độ bất hợp tác.

– 1888 ông qua đời. Cuộc đời ông là một tấm gương sáng về nghị lực và đạo đức, suốt đời chiến đấu không biết mệt mỏi cho lẽ phải, cho quyền lợi nhân dân.

II. Sự nghiệp thơ văn.

1. Tác phẩm chính.

– Sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm.+ Truyện Lục Vân Tiên và Dương Từ – Hà Mậu.+ Chạy giặc+ Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.+ Văn tế Trương Định+ Thơ điếu Trương Định+ Thơ điếu Phan Tòng+ Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh.+ Ngư Tiều y thuật vấn đáp. ( Truyện thơ dài)

2. Nội dung thơ văn.

– Lý tưởng đạo đức nhân nghĩa.+ Nhân: Tình yêu thương con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn.+ Nghĩa: Là những quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội.à Tất cả sáng tác của ông đều đặc biệt đề cao chữ nghĩa, là những bài học về đạo làm người. Đạo lí làm người của Nguyễn Đình Chiểu manh tinh thần Nho gia, nhưng lại rất đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc. Những nhân vật trong tác phẩm của ông đều là nhưng mẫu người lý tưởng, sống nhân hậu, thủy chung, ngay thẳng, dám xả than vì nghĩa lớn…– Lòng yêu nước thương dân.+ Thơ văn ông ghi lại chân thực một thời đại đau thương của đất nước, khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân. Đồng thời nhiệt liệt biểu dương những anh hùng nghĩa sĩ đã chiến đấu, hi sinh cho Tổ Quốc.+ Ông còn tố cáo tội ác xâm lăng gây bao thảm họa cho nhân dân. Ông khóc than cho đất nước gặp buổi đau thương. Ông căn uất chửi thẳng vào mặt kẻ thù. Ông dựng lên bức tượng đài bất tử về người nông dân nghĩa sĩ.à Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời, có tác dụng động viên, kích lệ không nhỏ tình thần và ý chí cứu nước của nhân dân.

3. Nghệ thuật thơ văn.

– Có nhiều đóng góp, nhất là văn chương trữ tình đạo đức. Bút pháp trữ tình xuất phát từ cõi tâm trong sáng, nhiệt thành, đầy tình yêu thương.– Thơ văn Nguyên Đình Chiểu còn mang đậm chất Nam Bộ: Từ lời ăn tiếng nói mộc mạc, bình dị, đến tâm hồn nồng nhiệt, chất phác.– Các sáng tác thiên về chất chuyện kể, mang màu sắc diễn xướng rất phổ biến trong văn học dân gian Nam Bộ.à Hơn một thế kỷ trôi qua, tiếng thơ Đồ Chiểu vẫn ngân vang giữa cuộc đời. Tên tuổi nhà thơ mù yêu nước xứ Đồng Nai vẫn rực sáng trên bàu trời văn nghệ dân tộc bởi nhân cách cao đẹp  và những cống hiến lớn lao của ông cho văn học nước nhà.

PHẦN HAI: TÁC PHẨM.

I. Đọc hiểu tiểu dẫn.

1. Xuất xứ.

– Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An. Trận Cần Giuộc là một trận đánh lớn của quân ta diễn ra đêm 14/ 12/ 1861, hơn 20 nghĩa quân đã hi sinh anh dũng. Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang đã yêu cầu cụ Đồ Chiểu viết bài văn tế. Ngay sau đó vua Tự Đức ra lệnh phổ biến bài văn tế trong các địa phương khác.– Như vậy Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không đơn thuần là sản phẩm của  nghệ thuật cá nhân mà còn là sản phẩm mang tính chất nhà nước, thời đại.

2. Thể loại và bố cục.

– Văn tế: Văn khóc, điếu văn.– Bố cục: 4 phần.+ Lung khởi: khái quát bối cảnh của thời đại và khẳng định ý nghĩa cái chết bất tử của ng­ười nông dân.+ Thích thực: Hồi tưởng lại hình ảnh và công đức người nông dân – nghĩa sĩ.+ Ai vãn: Bày tỏ lòng th­ương tiếc, sự cảm phục của tác giả đối với người nghĩa sĩ.+ Khốc tận ( Kết ): Ca ngợi linh hồn bất tử của các nghĩa sĩ.

3. Chủ đề.

– Văn tế nghĩa Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là một bài ca lớn, nó ca ngợi những con người nghèo khó theo Trương Công Định đáng giặc và họ đã hi sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến Cần Giuộc.

II. Đọc hiểu văn bản.

1. Đọc.

2.Tìm hiểu từ khó và điển cố.

– Chú thích SGK.

3. Giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản.

3.1. Phần lung khởi.– Mở đầu là tiếng than: Hỡi ôi!….đó là tiếng khóc của Đồ Chiểu. Lời than mở đầu đã nóng bỏng trong cái dữ dội của chiến tranh, đặt người nghĩa sĩ vào thử thách lớn của lịch sử. – Vận nước là thước đo lòng người: Súng giặc…lòng dân trời tỏ. – Cách dùng từ và lối so sánh mộc mạc, giản dị trong câu văn biền ngẫu đối xứng, bộc lộ ý nghĩa cao quí của sự hi sinh trong chiến đấu chống Pháp của người dân lao động Nam Bộ.

3.2. Phần thích thực.* Nguồn gốc.– Xuất thân từ tầng lớp nông dân lao động nghèo khổ, cần cù, chất phác, hiền lành. Không phải lính chuyên nghiệp, chỉ quen công việc đồng áng, cuốc cày.* Tâm hồn.– Khi giặc Pháp xâm lược, người nông dân lam lũ bỗng chốc trở thành người lính can trường, có lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc. Đất nước có giặc họ tự nguyện tham gia giết giặc.àNhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã đủ can đảm để bước ra khỏi toà lâu đài của ngôn ngữ bác học đến với túp lều cỏ của ngôn ngữ bình dân, phô bày hết lòng căm thù giặc của nông dân một cách mãnh liệt. Hệ  thống ngôn từ Nam Bộ mạnh mẽ dứt khoát lột tả bản chất người nông dân quyết không đội trời chung với giặc. Nếu không có lòng yêu nước Nguyễn Đình Chiểu không thể hiểu thấu lòng người dân đến như vậy được.* Trang bị.– Thô sơ, thiếu thốn. Không biết võ nghệ, không học binh thư, không phải lính chuyên nghiệp, đối lập hoàn toàn với kẻ thù.* Chiến đấu dũng cảm và anh dũng hi sinh– Tiến công như vũ bão: Đâm, chém, đạp, lướt, xô, liều, đẩy…– Coi cái chết nhẹ như lông hồng, hiên ngang trên chiến địa, chiến đấu hết mình, quên mình.– Ngôn ngữ góc cạnh, chính xác, hình ảnh so sánh, động từ mạnh, thể hiện sự xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân.– Nguyễn Đình Chiểu không hề tô vẽ, mà cứ để nguyên một đám đông lam lũ, rách rưới, tay dao tay gậy aò ào xông vào đồn giặc. Lần đầu tiên Nguyễn Đình Chiểu đưa vào văn học bức tượng đài nghệ thuật về người nông dân lao động hoành tráng, hết mình, quên mình trong chiến đấu.3. 3. Phần ai vãn.– Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ hiện lên từ dòng nước mắt của Đồ Chiểu, bao trùm toàn bộ bài văn tế là hình tượng tác giả.– Tiếng khóc Đồ Chiểu hợp thành bởi 3 yếu tố : Nước, Dân, Trời. Đồ Chiểu nhân danh vận nước, nhân danh lich sử mà khóc cho những người anh hùng xả thân cho Tổ Quốc. Tiếng khóc ấy có tầm vóc sử thi, tầm vóc thời đại.

– Giọng điệu đa thanh giàu cung bậc tạo nên những câu văn thật vật vã, đớn đau.– Hình ảnh gia đình tang tóc, cô đơn, chia lìa, gợi không khí đau thương, buồn bã sau cuộc chiến.– Nhịp câu trầm lắng, gợi không khí lạnh lẽo, hiu hắt sau cái chết của nghĩa quân.– Tác giả sử dụng hình ảnh đẹp biểu hiện bề sâu cái chết cao quí của nghĩa sĩ.

3.4. Phần khốc tận ( kết ).– Tác giả đề cao quan niệm : Chết vinh còn hơn sống nhục. Nêu cao tinh thần chiến đấu, xả thân vì nghĩa lớn của nghĩa quân. Họ ra trận không cần công danh bổng lộc mà chỉ vì một điều rất giản đơn là yêu nước.– Đây là cái tang chung của mọi người, của cả thời đại, là khúc bi tráng về người anh hùng thất thế.4. Kết luận.– Bài văn tế là hình ảnh chân thực về người nông dân Việt Nam chống Pháp với lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc, tinh thần chiến đấu hi sinh anh dũng tuyệt vời của người nông dân Nam Bộ trong phong trào chống Pháp cuối XIX.

– Với bài văn tế này lần đầu tiên trong lịch sử VH dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ. 

Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

Bài giảng: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Phần 2: Tác phẩm) – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu

II. Đôi nét về tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Tác phẩm được viết theo yêu cầu của Đỗ Quang – tuần phủ Gia Định, để tế nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận tập kích đồn quân Pháp ở Cần Giuộc đêm ngày 16 tháng 12 năm 1861

– Ngay khi ra đời bài văn tế đã được truyền tụng khắp cả nước, làm xúc động lòng người

2. Bố cục

– Lung khởi (từ đầu đến tiếng vang như mõ): cảm tưởng khái quát về cuộc đời những người sĩ Cần Giuộc.

– Thích thực (từ Nhớ linh xưa… đến tàu đồng súng nổ) : hồi tưởng cuộc đời và công đức của người nghĩa sĩ.

– Ai vãn (từ Ôi! Những lăm lòng nghĩa lâu dùng đến cơn bóng xế dật dờ trước ngõ) : lời thương tiếc người chết của tác giả và người thân của các nghĩa sĩ.

– Kết (còn lại) : tình cảm xót thương của người đứng tế đối với linh hồn người chết.

3. Giá trị nội dung

– Tác phẩm là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì Tổ quốc

4. Giá trị nghệ thuật

– Bài văn là thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và chất hiện thực, ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động

III. Dàn ý phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1. Lung khởi

– Mở đầu là lời than đầy ai oán, xót thương: Hỡi ôi

– Tiếp theo đó là khí thế tinh thần sôi sục của thời đại khi đất nước có giặc ngoại xâm: Súng giặc đất rền, lòng dân tỏ rõ,…

– Nghệ thuật so sánh có tính chất đối lập giữa nổi dậy và không nổi dậy khởi nghĩa đã khẳng định sâu sắc ý nghĩa sự hi sinh để lại tiếng thơm cho đời

2. Thích thực

– Xuất thân của người nghĩa sĩ:

+ là những người nông dân quanh năm côi cút làm ăn, hiền lành chất phác, ngòi bút tác giả vừa chân thực vừa sống động làm nổi lên cuộc sống bình dị khát vọng của người dân cày nghèo

+ nhấn mạnh cái gốc nông dân của người nghĩa sĩ là một bước tiến một cái nhìn tiến bộ của ông Đồ Chiểu trong nền văn học bấy giờ (văn học trung đại thường ngợi ca những anh hùng là quan tử, nho sĩ mà bỏ qua người nông dân)

+ Nguyễn Đình Chiểu chính là người đầu tiên mở đường cho hình tượng người nông dân nghĩa sĩ bước vào văn học

– Phẩm chất người nông dân nghĩa sĩ:

+ họ hiền lành chất phác, chăm chỉ cần cù, lời ăn tiếng nói mang đậm chất Nam Bộ

+ khi đất nước bị xâm lược họ mang trong mình lòng căm thù giặc sâu sắc thề không đội trời chung với giặc

+ họ có ý thức tự tôn dân tộc, lòng mến nghĩa, tinh thần tự nguyện đánh giặc

⇒ Họ là hiện thân cho hai nét tính cách của người nông dân Việt Nam: giản dị- anh hùng

3. Ai vãn

– Khóc cho những người nghĩa sĩ Cần Giuộc

– Khóc cho người thân của họ

– Khóc cho non sông đất nước đang trong cảnh ngoại xâm dày xéo

⇒ Tiếng khóc của Nguyễn Đình Chiểu đau thương mà không hè bi lụy vì nó tràn đầy niềm tự hào kính phục và ngợi ca những người nông dân đã chiến đấu hi sinh cho dân tộc

– Thay mặt nhân dân tác giả ca ngợi tấm gương các anh hùng nghĩa sĩ ấy. Qua đó tác giả khẳng địng quam niệm : Thà chết vinh còn hơn sống nhục

– Lúc này ta thấy tiếng khóc còn hướng về cuộc sống hiện tại về những kiếp người đang lầm than trong bom đạn chiến tranh

4. Kết

– Khẳng định sự hi sinh cao cả của anh hùng nghĩa sĩ

– Câu cuối trở lại hiện thực khóc thương, ngợi ca tấm lòng người nghĩa sĩ

5. Nghệ thuật

– Cảm xúc chủ đạo là bi tráng

– Nghệ thuật đối được sử dụng thành công

– Ngòi bút tác giả hoàn toàn xứng đáng với hành động cao cả của người nghĩa sĩ với những tư tưởng cực kì lớn lao mà tác giả đã phát hiện trong hành động tự nguyện giết giặc cứu nước của họ.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

tac-gia-tac-pham-lop-11.jsp

Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Của Nguyễn Đình Chiểu

Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.

1. Tác giả.

– Nguyễn Đình Chiểu(1822-1888) tự là mạch trạch, hiệu trọng phủ, hối trai, sinh ra huyện Bình Dương tỉnh Gia Định nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh. – Xuất thân trong một gia đình nhà nho, ông là một người có tấm lòng yêu nước thương dân cả cuộc đời của ông đều có gắng đóng góp cho đất nước. – Vào những năm 50 Nguyễn Đình Chiểu bị mù và về quê dạy học. – Cuộc đời của nhà thơ là tấm gương sáng, cao đẹp cho nhân cách và nghị lực của con người tuy bị mù những những đóng góp của ông không hề nhỏ và những tác phẩm của ông đậm chất hiện thực và phê phán sâu sắc.

2. Tác phẩm.

– Văn tế: là loại văn thường gắn với phong tục tang lễ, nhằm bày tỏ lòng tiếc thương đối với người đã mất, văn tế thường có nội dung cơ bản, kể lại cuộc đời công đức phẩm hạnh của người đã mất và bày tỏ tấm lòng xót thương sâu sắc. – Bố cục của bài văn tế gồm: 4 phần: + Phần 1 từ lung đầu đến vang như mỏ: đây là cơ sở bàn bạc về lẽ sống và cái chết. + Phần 2: Tiếp đến tàu đồng súng nổ: Đây nói về những công lao của những người chí dũng, những anh hùng đã thân vì đất nước những người chiến sĩ cần giuộc. + Phần 3: tiếp đến dật dờ trước ngõ: đây là niềm xót thương đối với người đã khuất và tấm lòng xót thương sâu sắc của tác giả đối với những người đã hy sinh vì đất nước. + Phần 4: Còn lại: Ca ngợi tinh thần bất diệt của những người chiến sĩ.

2. Hình ảnh người nông dân nghĩa sĩ được tái hiện:

– Xuất thân: Những người chiến sĩ cần giuộc đều xuất thân từ những người nông dân chất phát cần cù làm ruộng, “việc cuốc việc cày việc bừa tay đã làm quen”, đây là những người nông dân chất phát cần cù những lại có một lý tưởng rất cao đẹo những người chiến sĩ này đã chăm chỉ và nêu cao lý tưởng cách mạng vì đọc lập dân tộc. – Vẻ bề ngoài chỉ là những người nông dân nhưng họ lại có những phẩm chất rất đáng ngợi khen, do hoàn cảnh nghèo đói túng thiếu những người chiến sĩ này phải chăm chỉ làm ăn và có những chiến công vang dội cho dân cho nước. – Họ có một tấm lòng rất đáng quý dam xả thân vì đất nước tuy tay cày tay bừa nhưng khi có chiến tranh họ sẵn sàng cầm súng để chiến đấu, không một kẻ thù nào có thể đánh bại ý chí kiên cường của những người chiến sĩ cần giuộc. – Những biểu hiện của lòng câm thù giặc: bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan, ngày xem ông khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ… đây là những biểu hiện của lòng căm thù quân giặc không có một hành đọng nào của kẻ thù mà nhân dân ta bỏ qua, muốn tới ăn gan, cắn cổ đây là những biểu hiện thẻ hiện lòng căm thù mọt cách sâu sắc.

– Công cụ chiến đấu và trang bị cá nhân của những người chiến sĩ rất thô sơ và mộc mạc, những manh áo vải, ngọn tầm vông, những lưỡi dao phay tất cả những công cụ đó rất quen thuộc đối với nhân dân thì nay nó lại trở thành những công cụ chiến đấu đắc lực của những người chiến sĩ cần giuộc, đói lập với công cụ chiến đâu của ta thì kẻ thù lại có những đạn to đạn nhỏ tàu đồng, ta thì vũ khí thô sơ, nhưng điều đó không làm cho nhân dân ta nản chí và lùi bước những hành động và những động từ mạnh được tác giả sử dụng đó là đam ngang, đâm chéo… Những hành động cao cả của những người chiến sĩ đã phán ánh được tinh thần yêu nước quật cường của những người chiến sĩ này.

3. Tiếng khóc bi thương của tác giả.

– Tác giả đau xót cho những người đã mất, những người dã hy sinh cho đất nước: những người chiến sĩ nằm lại nơi chiến trường để lại ở nhà con thơ và những người mẹ leo đơn, tác giả đã khóc thương cho số phận của những người chiến sĩ những nỗi đau xót xa không bao giờ nguôi, nối đau này không bao giờ bi bi lụy bởi những sự hy sinh của những người chiến sĩ này rất to lớn, nó có thể để lại suy nghĩa cho bao thế hệ hôm nay và mai sau có thể biết ơn và noi theo tinh thần xả thân của những người chiến sĩ cách mạng.

4. Sức gợi cảm của bài văn chủ yếu qua:

– Hình tượng xây dựng nhân vật của tác giả, tác giả đã rất thành công trong việc kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực, ngôn ngữ của bài văn tế giản dị gần gũi mang đạm chất Nam Bộ, những hình ảnh người chiến sĩ thật sinh động qua những tấm áo rách, những công cụ chiến đấu thô sơ nhưng tinh thần chiến đấu vẫn rất kiên cường.

– Bài văn tế là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương những vĩ dại cho cả một dân tộc, những hình ảnh về người chiến sĩ cần giuộc sẽ còn mãi trong thơ văn việt nam.

Lời Bài Thơ Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)

văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Hỡi ơi ! Súng giặc đất rền, Lòng dân trời tỏ. Mười năm công vỡ ruộng, xưa ắt còn danh nổi như phao, Một trận nghĩa đánh Tây, thân tuy mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa Côi cút làm ăn, Riêng lo nghèo khổ, Chưa quen cung ngựa đưa tới trường nhung Chỉ biết ruộng trâu ở theo làng hộ;

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn làm quen; Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

Tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng, trông tin quan như nắng hạn trông mưa. Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

Đêm thấy bòng bong che trắng lớp, những muốn ăn gan; Ngày xem ống khói chạy đen xì, toan ra cắn cổ.

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hưu; Hai vầng nhật nguyệt chói lòa, đâu dung lũ treo dê bán chó.

Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình. Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay

Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo giòng ở lính diễn binh; Chẳng qua là dân ấp, dân làng, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; Chín chục trận binh thư, không chờ bài bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bao ngòi, Trong tay dùng một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gỗ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ

Chi nhọc quan Quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không. Mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém dọc, làm cho mả tà, mả ái hồn kinh. Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

Những lăm lòng nghĩa sau dùng, đâu biết xác phàm vội bỏ. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, xá đợi gươm hùm treo mộ Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Chẳng phải án cướp, án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm. Vốn không giữ thành, giữ lũy bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng

Tấc đấc ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó?

Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương? Vì ai xui hào lũy tan hoang, xiêu mưa ngà gió?

Sống làm chi theo quân tả đạo, quẳng vùa hương, xô bàn độc nghĩ lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mả tà, chia rượu ngọt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

Thà thác mà đặng câu dịch khái, về sau tổ phụ cũng vinh, Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi

Chùa Lão Ngộ năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm; Đồn Tây Dương một khắc đặng rửa hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.

Đau đớn mấy, mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều, Não nùng thay, vợ yếu chạy tìm chồng, con bóng xế vật vờ trước ngõ.

Ôi!

Một trận khói tan, Nghìn năm tiết rỡ.

Binh tướng nó hày đóng sông Bến Nghé, còn làm cho bốn phía mây đen. Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh cũng đều khen; Thác mà ưng đền miếu để thờ, tiếng hay trải muôn đời ai cũng mộ

Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh muôn kiếp nguyện được trả thù kia Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành một chữ ấm đủ đền công đó.

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo,thương vì hai chữ thiên dân. Cây nhang nghĩa khí thắp nên thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ơi! Có linh xin hưởng.

Soạn Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu

Soan bai Van te nghia si Can Giuoc – Soạn bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Tác giả Nguyễn Đình Chiểu

Câu 1: Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu: – Nguyễn Đình Chiểu(1822-1888) tự là Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ. Ông sinh tại quê mẹ, làng Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Cha của ông là Nguyễn Đình Huy, người Thừa Thiên. Mẹ là Trương Thị Thiệt. + Năm 1843 ông đỗ tú tài tại trường Gia Định, năm 1846, ông ra Huế chuẩn bị thi tiếp, nhưng không may khi ông ra Huế thi thì được tin mẹ mất. Ông trở về chịu tang mẹ, ông vừa ốm nặng vừa thương khó mẹ nên bị mù cả hai mắt. Ông về quê dạy học và chuyển sang học thuốc.

+ Trên đường về chịu tang mẹ năm 1849 ông đã bị đau mắt nặng và dẫn đến mùa lòa. + Với sự can đảm, không khuất phục trước số phận, ông quyết định về Gia Định mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân. + Khi giặc Pháp đánh vào Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu đứng đầu trong tuyến đầu của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. + Ông cũng các vị lãnh tụ nghĩa quân, bàn mưu tính kế cho cuộc kháng chiến.

* Cuộc đời của nhà thơ: + Mặc dù bị mù cả hai mắt nhưng với tinh thần không khuất phục trước số phận ông đã mở trường dạy học ở Gia Định để dạy học, bốc thuốc giúp dân, với tinh thần luôn vì dân vì nước, ông có tấm lòng trong sáng, giàu nghị lực, là người thầy giáo giỏi, là vị thầy thuốc có tâm. NHững tác phẩm của ông có tác dụng to lớn trong việc phản ánh hiện thực của cuộc sống, tố cáo tội ác của bọn thực dân.

Câu 2: Tìm hiểu giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu: + Thông qua những tác phẩm đã hoc, có thể thấy lý tưởng đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu được xây dựng trên tinh thần nhân nghĩa, ông luôn coi trọng đạo đức, giữ đúng chuẩn mực của một nhà nho yêu nước. + Ông có tinh thần yêu nước, thương dân, mắt tuy không sáng, nhưng lại có tâm trong sáng.

-Nội dung trữ tình yêu nước trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu: Ông tố cáo tội ác của bọn cường hào, bọn xâm năng, ông nêu cao hình tượng của người nông dân nghèo khổ, ông căm thù bọn chúng. + Điều đó được thể hiện qua mặc dù bị mù nhưng khi thực dân Pháp tràn vào Gia định xâm lược, ông vẫn cùng những vị lĩnh tụ của cuộc kháng chiến làm nên được những giá trị to lớn cho dân tộc.Nêu cao được tinh thần yêu nước, thương dân.

+ Thơ văn của ông đề cao về đạo đức, nhân nghĩa, là những bài thơ nói lên tiếng lòng của những người nông dân nghèo họ, họ căm ghét những cuộc chiến tranh xâm lược. + Những tác phẩm của ông nói lên tiếng đau khổ của người nông dân khi phải chịu đựng những khổ cực của cuộc chiến tranh, đau khổ luôn vì nước, vì dân. Những sáng tác của ông đều có tác động mạnh mẽ đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nó góp phần tố cáo tội ác của thực dân Pháp.

+ Hơn nữa ông còn ca ngợi tinh thần đoàn kết keo sơn của người nông dân Việt Nam, những con người luôn vì dân vì nước, sẵn sàng hy sinh xương máu vì dân tộc Việt Nam. *Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện ở cách miêu tả nhân vật của ông. + Nhân vật trong tác phẩm của ông là người nông dân hiền lành, chất phát, những người nông dân phải chịu đựng những khó khăn vất vả. + Những người chiến sĩ kiên cường, dám đối mặt với những khó khăn, thử thách để dành được độc lập cho dân tộc.

Câu 3: Tư tưởng nhân nghĩa giữa hai nhà thơ này: + Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi đều có những điều gần gũi về tư tưởng nhân nghĩa. Nhưng mỗi tác giả lại có cách miêu tả tư tưởng đó có điểm riêng biệt: + Ở Nguyễn Trãi ông lấy nhân nghĩa đó là ông đề cập đến quyền lợi của người nông dân. + Ở Nguyễn Đình Chiểu, tinh thần nhân nghĩa đó thể hiện ở nỗi khổ của nhân dân, ông xuất phát từ nỗi đau khổ của nhân dân.

CÁC BẠN LIKE FANPAGE ĐỂ THEO DÕI CÁC BÀI VĂN MỚI NHẤT NHÉ!

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc ( Nguyễn Đình Chiểu ). trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!