Vietjack Soạn Bài Cô Tô / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Bài Lớp 6: Cô Tô

Soạn bài lớp 6: Cô Tô

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 6 học kì II

1. Thể loại

Kí là “một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể – chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút,…” (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi: Từ điển thuật ngữ văn học, sđd).

Các bài học: Cô Tô (của Nguyễn Tuân), Cây tre Việt Nam (của Thép Mới), Lòng yêu nước (của I.Ê-ren-bua), Lao xao (của Duy Khán) thuộc thể loại kí.

2. Tác giả

Nhà văn Nguyễn Tuân (còn có các bút danh khác: Ngột Lôi Quất, Thanh Hà, Nhất Lang, Tuân, Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc) sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 tại Hà Nội. Quê quán: làng Mọc, thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (nay là phường Nhân Chính), quận Thanh Xuân, Hà Nội; mất ngày 28 tháng 7 năm 1987 tại Hà Nội; Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Thời thanh, thiếu niên, Nguyễn Tuân theo gia đình làm ăn sinh sống ở nhiều nơi, đặc biệt ở các tỉnh miền Trung: Khánh Hoà, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh và Thanh Hoá. Ông học đến bậc trung học ở thành phố Nam Định. Năm 1929, do tham gia phong trào bãi khoá, bị đuổi học và sau đó, do phản đối chế độ thuộc địa, ông đã hai lần bị bắt, bị tù (một lần tại Băng Cốc – Thái Lan và bị giam tại Thanh Hoá (1930) và lần thứ hai bị bắt tại Hà Nội, giam tại Nam Định (1941).

Từ những năm 30 của thế kỉ XX, Nguyễn Tuân bắt đầu viết văn và làm báo, chủ yếu đăng trên các báo, tạp chí: Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tao đàn, Hà Nội tân văn, Thanh nghị, Tiểu thuyết thứ bảy. Từ 1937, ông chuyên sống bằng nghề viết văn và nổi tiếng từ 1938, 1939 với Một chuyến đi, Vang bóng một thời,…

Sau Cách mạng, năm 1946, Nguyễn Tuân cùng với đoàn văn nghệ sĩ vào công tác tại Khu Năm (Trung Bộ). Năm 1947, ông phụ trách một đoàn kịch lưu động. Từ năm 1948 đến 1996, ông giữ trách nhiệm Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Thời gian này, ông đã tham gia nhiều chiến dịch và về các vùng sau lưng địch để sáng tác. Sau 1954, Nguyễn Tuân sống và hoạt động văn nghệ ở Hà Nội. Từ năm 1958, ông là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam và là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khoá I và II).

Những tác phẩm đã xuất bản: Ngọn đèn dầu lạc (phóng sự, 1939); Vang bóng một thời (truyện ngắn, 1940); Chiếc lư đồng mắt cua (tùy bút, 1941); Tóc chị Hoài (tuỳ bút, 1943); Tuỳ bút II (tuỳ bút, 1943); Nguyễn (truyện ngắn, 1945); Chùa Đàn (truyện, 1946); Đường vui (tuỳ bút, 1949); Tình chiến dịch (bút kí, 1950); Thắng càn (truyện, 1953); Chú Giao làng Seo (truyện thiếu nhi, 1953); Đi thăm Trung Hoa (bút kí, 1956); Tuỳ bút kháng chiến (tuỳ bút, 1955); Tùy bút kháng chiến và hoà bình (tuỳ bút, 1956); Truyện một cái thuyền đất (truyện thiếu nhi, 1958); Sông Đà (tuỳ bút, 1960); Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (tuỳ bút, 1972); Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập I: 1981, tập II: 1982).

Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn viết tiểu luận phê bình văn học và dịch giới thiệu văn học. Nhà văn đã được nhận: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, năm 1996).

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài văn có thể chia làm ba đoạn:

Đoạn 1 (Từ đầu đến “theo mùa sóng ở đây”): Cảnh đẹp của Cô Tô sau trận bão đi qua.

Đoạn 2 (Từ “Mặt trời lại rọi lên” đến “là là nhịp cánh”): Cảnh tượng tráng lệ và hùng vĩ khi mặt trời mọc trên biển.

Đoạn 3 (Từ “Khi mặt trời đã lên” đến hết): Cảnh sinh hoạt buổi sáng trên đảo Cô Tô.

2. Vẻ đẹp của đảo Cô Tô sau khi trận bão đi qua được tác giả thể hiện qua các từ ngữ (đặc biệt là tính từ), hình ảnh đáng chú ý:

Ở đây, các tính từ chỉ màu sắc và ánh sáng (trong trẻo, sáng sủa, trong sáng, xanh mượt, lam biếc, vàng giòn) trong kết cấu câu văn đặc tả nhấn mạnh (thêm, hơn) đã làm nổi bật các hình ảnh (bầu trời, nước biển, cây trên núi đảo, bãi cát), khiến cho khung cảnh Cô Tô được hiện lên thật trong sáng, tinh khôi.

Nghệ thuật dùng tính từ đặc tả nói trên kết hợp với việc chọn điểm nhìn từ trên cao, tác giả giúp người đọc cùng hình dung và cảm nhận về vẻ đẹp tươi sáng về toàn cảnh Cô Tô.

4. Trong đoạn cuối, cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo được miêu tả qua những chi tiết, hình ảnh:

Quanh giếng nước ngọt: vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền (sử dụng hình ảnh so sánh);

Chỗ bãi đá, bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp (sử dụng lượng từ không xác định);

Thùng và cong và gánh nối tiếp đi đi về về (sử dụng liên từ và điệp từ);

Đó là cảnh sinh hoạt và lao động khẩn trương, tấp nập. Đó cũng là khung cảnh của cuộc sống thanh bình sau bão: “Trông chị Châu Hoà Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành”. Hình ảnh so sánh liên tưởng độc đáo này thể hiện sự đan quyện trong cảm xúc giữa cảnh và người, đồng thời thể hiện đặc sắc tình yêu Cô Tô của riêng một Nguyễn Tuân – “người đi tìm cái đẹp” toàn bích và hài hoà.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1. Cách đọc

Khi đọc bài văn, chú ý nhấn giọng thể hiện sắc thái miêu tả qua các từ ngữ (đặc biệt là tính từ), hình ảnh có tính gợi cảm; các liên tưởng độc đáo của tác giả khi tái hiện cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo.

2. Viết một đoạn văn tả cảnh mặt trời mọc (trên biển, trên sông, trên núi hay ở đồng bằng) mà em quan sát được.

Gợi ý: Khi miêu tả, cần tập trung vào các chi tiết sau (chú ý vào những nét riêng ở mỗi miền):

Quang cảnh lúc mặt trời chưa lên? (cả không gian trong một mầu mờ mờ trắng đục).

Mặt trời nhú dần lên như thế nào? (suy nghĩ để lựa chọn được những hình ảnh so sánh độc đáo).

Không gian cảnh vật lúc mặt trời lên có gì đổi khác?

Soạn Văn 6 Vnen Bài 24: Cô Tô

Soạn văn 6 VNEN Bài 24: Cô Tô

A. Hoạt động khởi động

Câu 1 (trang 64 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN).

Đọc 2 đoạn văn về quần đảo Cô Tô sau đây:

(1) Hãy cho biết sự khác nhau về cách viết trong hai đoạn văn trên.

(2) Đoạn văn của Nguyễn Tuân cho thấy tình cảm của tác giả đối với Cô Tô như thế nào?

Trả lời:

(1) Sự khác nhau về cách viết trong 2 đoạn:

Đoạn 1: Cô Tô được tả chỉ bằng những câu văn tự sự.

Đoạn 2: tự sự kết hợp miêu tả, biểu cảm.

(2) Phải là một người yêu thiên nhiên, yêu Tô Cô lắm thì tác giả mới có cái nhìn và cảm nhận về Tô Cô chân thực và đẹp đến vậy.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

Câu 1 (trang 65, 66, 67 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Đọc văn bản sau: Cô Tô

Câu 2 (trang 67, 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Tìm hiểu văn bản

Câu a (trang 67 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Văn bản Cô Tô được chia làm ba đoạn. Đọc lướt văn bản, nối nội dung tương ứng giữa cột A và cột B để hiểu ý chính mỗi đoạn:

Trả lời:

Đoạn 1 (…): Toàn cảnh vẻ đẹp Cô Tô sau trận bão.

Đoạn 2 (…): Cảnh mặt trời mọc trên Cô Tô.

Đoạn 3 (…): Cảnh sinh hoạt và lao động của dân chài trên đảo vào sáng sớm quanh chiếc giếng nước ngọt ở rìa đảo.

Câu b (trang 67 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Đọc kĩ văn bản Cô Tô, hoàn thành Phiếu học tập sau:

Trả lời:

Câu c (trang 67, 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Hãy nhận xét về ngôn ngữ miêu tả của Nguyễn Tuân trong văn bản ở các khía cạnh sau:

(1) Nhà văn thường sử dụng các từ loại nào? Tác dụng của việc sử dụng các từ loại đó là gì?

(2) Phép tu từ nào được tác giả sử dụng nhiều nhất để làm nổi bật vẻ đẹp của cảnh? Ghi lại một số câu văn có sử dụng phép tu từ ấy và nêu tác dụng của nó.

(3) Thử rút ra đặc điểm câu văn của Nguyễn Tuân.

Trả lời:

(1) – Nhà văn thường sử dụng từ loại: Tính từ

– Tác dụng: Tính từ kết hợp điểm nhìn trên cao tạo hình dung bao quát và cảm nhận vẻ đẹp tươi sáng toàn cảnh Cô Tô.

(2) – So sánh được sử dụng nhiều nhất (vd: chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi, tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn,…)

– Tác dụng: Từ ngữ chọn lọc, hình ảnh so sánh rực rỡ, tráng lệ thể hiện được tài quan sát miêu tả tinh tế của tác giả, cảnh mặt trời mọc như khung cảnh lớn bao la, niềm tin hân hoan giữa sự giao hòa con người

– vũ trụ.

(3) Đặc điểm các câu văn của Nguyễn Tuân: kết hợp so sánh, nhân hóa, hoán dụ, ẩn dụ và các từ láy đặc tả khiến câu văn hay, ngắn gọn, súc tích; ngôn từ trong sáng, giàu hình ảnh, đậm chất văn học.

Câu d (trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Nhận xét về cảnh được miêu tả trong từng đoạn của văn bản. (Ở mỗi đoạn, cần chỉ rõ: Nhà văn đứng ở vị trí nào để tả cảnh? Cảnh có đặc điểm gì? Cảnh được miêu tả theo trình tự như thế nào?)

Trả lời:

Câu e (trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Hoàn thành sơ đồ sau để tìm hiểu cảm xúc của tác giả.

Trả lời:

– Cảm xúc chủ đạo của tác giả: tình cảm yêu mến với thiên nhiên, mảnh đất Cô Tô và con người, đó cũng thể hiện niềm tự hào về vẻ đẹp quê hương đất nước.

– Cảm xúc chủ đạo của tác giả trong đoạn 1: yêu mến hòn đảo như chính những người dận nơi đây.

– Cảm xúc chủ đạo của tác giả trong đoạn 2: sự tò mò, say mê trước cảnh đẹp thiên nhiên, tình yêu quê hương đất nước.

– Cảm xúc chủ đạo của tác giả trong đoạn 3: thân thiết khi hòa cùng cuộc sống của người dân nơi đây.

Câu g (trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Cô Tô của Nguyễn Tuân là một bài kí hiện đại. Từ việc trả lời các câu hỏi ở mục b), c), d), e) hãy cho biết đặc điểm của thể kí bằng việc chọn các phương án trả lời đúng:

A. Ghi lại một cảnh vật mà nhà văn mắt tai nghe, thường trong các chuyến đi.

B. Sử dụng nhiều chi tiết kì ảo, hoang đường để làm tăng sức dẫn của tác phẩm.

C. Biểu hiện khá trực tiếp cảm xúc, suy nghĩ của tác giả.

D. Kết hợp linh hoat các phương thức miêu tả, tự sự, biểu cảm.

E. Khuyên nhủ, răn dạy con người về một bài học nào đó trong cuộc sống.

Trả lời:

Chọn A, C, D

Câu h (trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Văn bản Cô Tô của Nguyễn Tuân mang đến cho em những hiểu biết và cảm xúc gì?

Trả lời:

Cô Tô cho ta thấy một vùng biển đảo với thiên nhiên và con người hài hòa thật đẹp. Cô Tô – vùng đất trong sáng, tươi đẹp. Ngôn từ tác giả điêu luyện và tinh tế, chính xác, giàu hình ảnh cảm xúc với các biện pháp tu từ khiến Cô Tô trong lòng Nguyễn Tuân tuôn trải trên trang giấy thật hiền hòa, tráng lệ, rộng lớn, tấp nập và cũng thanh bình.

Câu 3 (trang 68, 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Tìm hiểu về các thành phần chính của câu.

Câu a (trang 68 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Nhắc lại tên các thành phần của câu mà em đã đọc ở cấp Tiểu học.

Trả lời:

Tên các thành phần chính của câu đã học ở Tiểu học:

– Chủ ngữ

– Vị ngữ

– Trạng ngữ.

Câu b (trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Tìm các thành phần câu trong câu sau:

Sau trận bão, hôm nay hợp tác xã Bắc Loan Đầu cho mười tám thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng.

Trả lời:

– Trạng ngữ: Sau trận bão

– Chủ ngữ: hôm nay hợp tác xã Bắc Loan Đầu

– Vị ngữ: cho mười tám thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng.

Câu c (trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Thử lần lượt bỏ từng phần câu trong câu trên rồi rút ra nhận xét:

(1) Những thành phần nào bắt buộc phải có mặt trong câu để câu có cấu tạo hoàn chỉnh và diễn đạt được môt ý trọn vẹn (nghĩa là có thể hiểu đầy đủ mà không cần gắn với hoàn cảnh nói năng)?

(2) Những thành phần nào không bắt buộc phải có mặt trong câu? Vì sao?

Trả lời:

(1) Những thành phần bắt buộc phải có mặt để câu hoàn chỉnh: chủ ngữ và vị ngữ.

(2) Thành phần không bắt buộc phải có mặt trong câu: trạng ngữ. Khi bỏ thành phần trạng ngữ trong câu, nội dung chính của câu không đổi.

Câu d (trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Vị ngữ là thành phần chính của câu có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ quan hệ thời gian và trả lời cho các câu hỏi Làm gì?, Làm sao?, Như thế nào?, hoặc Là gì? Vị ngữ thường là động từ hoặc cụm động từ, tính từ, hoặc cụm tính từ, danh từ hoặc cụm danh từ. Câu có thể có một hoặc nhiều vị ngữ.

Phân tích cấu tạo của vị ngữ trong các câu sau bằng cách trả lời các câu hỏi: Vị ngữ là từ hay cụm từ? Vị ngữ thuộc từ loại hay cụm từ loại nào? Mỗi câu có mấy vị ngữ? Vị ngữ trong câu trả lời cho câu hỏi nào?

(1) Một buổi chiều, tôi ra đứng cửa hang như mọi khi, xem hoàng hôn xuống.

(Tô Hoài)

(2) Chợ Năm Căn nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui, tấp nập.

(Đoàn Giỏi)

(3) Sau trận bão, chân trời, ngấn bể sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi.

(Nguyễn Tuân)

Trả lời:

(1) Vị ngữ: ra đứng cửa hang như mọi khi, xem hoàng hôn xuống. (Vị ngữ là cụm từ, có 2 vị ngữ đều là cụm động từ. Vị ngữ trả lời cho câu hỏi Ai làm gì?)

(2) Vị ngữ: nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui, tấp nập. (Vị ngữ là cụm từ, có 1 vị ngữ và là cụm tính từ. Vị ngữ trả lời cho câu hỏi Như thế nào?)

(3) Vị ngữ: sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi. (Vị ngữ là cụm từ, có 1 vị ngữ là cụm tính từ. Vị ngữ trả lời cho câu hỏi Như thế nào?)

Câu e (trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Chủ ngữ là thành phần chính của câu nêu tên sự vật, hiện tượng có hành động, đặc điểm, trạng thái,… được miêu tả ở vị ngữ. Chủ ngữ thường trả lời cho các câu hỏi Ai? Con gì? Hoặc Cái gì?. Chủ ngữ thường là danh từ, đại từ hoặc cụm danh từ. Trong những trường hợp nhất định, động từ, tính từ hoặc cụm động từ, cụm tính từ cũng có thể làm chủ ngữ.

Dựa vào những gợi ý trên hãy cho biết: Trong ba câu văn nêu ở mục d), chủ ngữ của mỗi câu trả lời cho câu hỏi nào? Chủ ngữ có thể được cấu tạo bằng từ loại nào?

Trả lời:

Trong ba câu văn nêu ở mục d), chủ ngữ của mỗi câu trả lời cho câu hỏi:

a) Một buổi chiều, ai ra đứng cửa hang như mọi khi, xem hoàng hôn xuống?

b) Nơi đâu nằm sát bên bờ sông, ồn ào, đông vui, tấp nập?

c) Sau trận bão, cái gì sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi?

Chủ ngữ có thể được cấu tạo nằng đại từ (tôi), danh từ, cụm danh từ (Chợ Năm Căn, chân trời, ngấn bể).

C. Hoạt động luyện tập

Câu 1 (trang 69 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Xác định và phân tích cấu tạo của chủ ngữ, vị ngữ trong những câu sau:

Chỗ bãi đá nuôi sáu mươi vạn con hải sâm ngoài kia,bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp đổ nước ngọt vào. Sau trận bão, hôm nay hợp tác xã Bắc Loan Đầu cho mười tám thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng. Anh hùng Châu Hòa Mãn cùng bốn bạn xã viên đi chung một thuyền

(Nguyễn Tuân, Cô Tô)

Trả lời:

Câu 2. a (trang 70 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Dựa vào văn bản Cô Tô, tự đặt ba câu văn theo yêu cầu sau:

– Một câu có vị ngữ trả lời câu hỏi Làm gì? Cô Tô Để kể lại một hoặc một số việc nhân vật “tôi” đã làm.

– Một câu có vị ngữ trả lời câu hỏi Như thế nào? để tả mặt trời.

– Một câu có vị ngữ trả lời câu hỏi Là gì? để giới thiệu nhân vật Châu Hòa Mãn.

Trả lời:

– Sáng nay, tôi cùng bố chạy bộ ở công viên.

– Mặt trời lặn ban chiều trên cánh đồng như viên ngọc đỏ lựng ném sau ngọn núi.

– Châu Hòa Mãn là anh hùng vùng đảo Cô Tô.

Câu b (trang 70 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Gạch dưới chủ ngữ trong những câu em vừa đặt. Cho biết chủ ngữ ấy trả lời cho những câu hỏi nào. Phân tích cấu tạo của các chủ ngữ ấy.

Trả lời:

Câu 3 (trang 70 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Trong bài Cô Tô, Nguyễn Tuân có đoạn viết về anh hùng Châu Hòa Mãn như sau:

” Anh hùng Châu Hòa Mãn cùng bốn bạn xã viên đi chung một thuyền……..Vo gạo bằng nước bể thôi.”

Dựa vào nội dung trên, viết đoạn văn (khoảng 12- 15 dòng) tả anh hùng Châu Hòa Mãn bằng lời văn của em. Trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một phép so sánh. Chia sẻ bài viết của em với các bạn.

Trả lời:

Con người Cô Tô đẹp và hiền hậu, sống chan hòa với thiên nhiên. Dân chài lao động khó khăn. Châu Hòa Mãn là một anh hùng đảo Cô Tô. Anh cũng là đại diện cho người dân nơi biển đảo chân chất, chịu khó và kiên cường. Vốn là một thanh niên khỏe mạnh, Châu Hòa Mãn mang dáng dấp những bắp thịt cuồn cuộn, cường tráng. Giọng nói trầm ấm cùng tác phong hòa nhã, thân thiện nên trông anh càng dễ mến. Như nhiều người dân khác, ngày ngày anh ra khơi. Là người đàn ông của gia đình, có hôm được mẻ cá lớn, anh về nhà sớm để vợ chồng cùng ăn. Nhưng cuộc sống và những chuyến ra khơi cũng là gia đình của anh, có hôm anh đi tận mười ngày. Những ngư dân biết lo xa, Hòa Mãn đã lo tính cho nước ngọt vào sạp để dành uống chứ không được vo gạo nấu cơm”. Châu Hòa Mãn là đại diện cho những người dân nghèo, chất phác. Họ luôn phải đối mặt với những nguy hiểm gian khó ngoài biển khơi. Họ là những anh hùng lao động đáng khâm phục.

Câu 4 (trang 70 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Cho các đề văn sau:

a. Tả một người thân yêu và gần gũi nhất với em.

b. Tả lại hình ảnh bố hoặc mẹ em trong các tình huống sau:

– Lúc em ốm.

– Khi em mắc lỗi

– Khi em làm được một việc tốt.

c. Tả lại hình ảnh thầy, cô giáo đang giảng bài.

Chọn một trong các đề văn trên, lập dàn ý và viết thành một bài văn hoàn chỉnh.

Trả lời:

Chọn đề a: Tả một người thân yêu và gần gũi nhất với em.

Mở bài: Giới thiệu gia đình em và người gần gũi với em nhất: Bố.

Thân bài:

– Ngoại hình của bố: dáng cao dỏng, tóc hơi xoăn, vẻ không được người ngoài đánh giá là đẹp trai nhưng mẹ lúc nào cũng khen bố đẹp trai hài hước.

– Tính cách của bố: vô cùng hài hước (dẫn chứng), chiều chuộng em, hay bị em bắt nạt. Bố trong công việc luôn rất nghiêm túc.

– Vị trí của bố trong gia đình: tuy là người đàn ông bản lĩnh khi ở Công ty, nhưng ở nhà, bố là người đàn ông quyền lực sau mẹ, và đôi khi là sau các con.

– Các thành viên trong gia đình dù đôi lúc trêu chọc nhưng luôn yêu thương giúp đỡ lẫn nhau.

Kết bài: Cảm nghĩ của em về bố.

D. Hoạt động vận dụng

– Hãy cho biết, biển và đảo có vai trò gì đối với kinh tế và giao thông biển, an ninh

– quốc phòng?

– Là học sinh, em có thể làm gì để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc?

Trả lời:

– Vai trò của biển và đảo:

+ Với kinh tế: nơi giao thương buôn bán, nguồn cung cấp thủy hải sản lớn cho người dân và xuất khẩu, tiềm năng du lịch.

+ Với giao thông biển: đường nối giao thông quốc tế quan trọng.

– Với an ninh quốc phòng: tăng chiều sâu phòng thủ đất nước ra hướng biển.

– Là học sinh chúng em cần có ý thức học tập, nghiên cứu, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, đảo.

Câu 2 (trang 70, 71 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Giả sử trong kì nghỉ hè, gia đình em và một số gia đình khác cùng tổ chức một chuyến du lịch biển. Hãy lên kế hoạch cho chuyến đi theo gợi ý sau:

– Vùng biển mà gia đình em và một số gia đình khác định đến thuộc địa phương nào? Vùng biển ấy có những đặc điểm gì nổi bật?

– Mọi người đến vùng biển đó bằng phương tiện gì?

– Mọi người đến vùng biển đó trong bao lâu? Nơi ở trong thời gian nghỉ tại vùng biển đó.

– Lịch trình của những ngày du lịch ở vùng biển đó như thế nào? Em dự định làm gì sau khi kết thúc chuyến đi ấy?

Trả lời:

– Điểm tới của chuyến đi: vùng biển Nha Trang. Đó là một vùng biển xanh mát, tươi đẹp vô cùng, khí hậu ôn hòa.

– Phương tiện di chuyển: từ Hà Nội mua vé đi tàu hỏa vào Nha Trang.

– Chuyến đi kéo dài 3 ngày 2 đêm, được bạn cùng Công ty của bố dẫn đi nên được hướng dẫn tận tình.

– Lịch trình: Vịnh Ninh Vân (đậm nét hoang sơ), Viện Hải dương học, tháp Bà Ponagar, bãi biển Đại Lãnh, chợ Đầm…

Câu 3* (trang 71 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Đọc văn bản Cô Tô (Nguyễn Tuân), em có cảm xúc và suy nghĩ gì về biển đảo Việt Nam.

Trả lời:

Đọc Cô Tô, em thấy biển đảo Việt Nam thật xinh đẹp, thiên nhiên đa sắc màu. Con người và thiên nhiên chung sống hài hòa. Những dải cát trắng, những vùng biển mênh mông, những hòn đảo xinh tươi… đó là những tiềm năng du lịch rất lớn đối với kinh tế Việt Nam. Biển đảo không chỉ là tiềm lực kinh tế mà còn đóng vị trí củng cố quốc phòng an ninh của quốc gia dân tộc.

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

Câu 1 (trang 71 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Sưu tầm một số bài/đoạn văn tả người, trong đó có sử dụng phép so sánh, nhân hóa để tham khảo.

Trả lời:

Rồi cả nhà – trừ tôi – vui như tết khi bé Phương, qua giới thiệu của chú Tiến Lê, được mời tham gia trại thi vẽ quốc tế. Luật của cuộc thi là thí sinh phải vẽ một bức tranh theo đề tài tự chọn ngay trước mắt ban giám khảo…

(Tạ Duy Anh, Bức tranh của em gái tôi)

Câu 2 (trang 71 sgk Ngữ văn 6 tập 2 VNEN). Tìm thêm các tư liệu từ sách báo, mạng In- ter- net,… nói về quần đảo Cô Tô để hiểu thêm về vùng biển này.

Trả lời:

– Cô Tô là quần đảo phía đông của đảo Vân Đồn (Quảng Ninh). Cô Tô có khoảng hơn 50 đảo lớn nhỏ.

– Địa hình đồi núi thấp, ít sông suối.

– Các địa điểm du lịch nổi tiếng: Khu Di tích lưu niệm Hồ Chủ tịch trên đảo Cô Tô, bãi đá Cầu Mỵ, ngọn Hải Đăng, con đường tình yêu, bãi biển Vàn Chảy, khu công viên Cô Tô Park…

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k9: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn lớp 6 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 6 Tập 1, Tập 2 chương trình VNEN mới.

Soạn Bài Lớp 6: Cô Tô Soạn Bài Môn Ngữ Văn

Soạn bài lớp 6: Cô Tô

1. Thể loại

Kí là “một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể – chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, kí sự, nhật kí, tuỳ bút,…” (Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi: Từ điển thuật ngữ văn học, sđd).

Các bài học: Cô Tô (của Nguyễn Tuân), Cây tre Việt Nam (của Thép Mới), Lòng yêu nước (của I.Ê-ren-bua), Lao xao (của Duy Khán) thuộc thể loại kí.

2. Tác giả

Nhà văn Nguyễn Tuân (còn có các bút danh khác: Ngột Lôi Quất, Thanh Hà, Nhất Lang, Tuân, Ân Ngũ Tuyên, Tuấn Thừa Sắc) sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910 tại Hà Nội. Quê quán: làng Mọc, thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (nay là phường Nhân Chính), quận Thanh Xuân, Hà Nội; mất ngày 28 tháng 7 năm 1987 tại Hà Nội; Hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957).

Thời thanh, thiếu niên, Nguyễn Tuân theo gia đình làm ăn sinh sống ở nhiều nơi, đặc biệt ở các tỉnh miền Trung: Khánh Hoà, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh và Thanh Hoá. Ông học đến bậc trung học ở thành phố Nam Định. Năm 1929, do tham gia phong trào bãi khoá, bị đuổi học và sau đó, do phản đối chế độ thuộc địa, ông đã hai lần bị bắt, bị tù (một lần tại Băng Cốc – Thái Lan và bị giam tại Thanh Hoá (1930) và lần thứ hai bị bắt tại Hà Nội, giam tại Nam Định (1941).

Từ những năm 30 của thế kỉ XX, Nguyễn Tuân bắt đầu viết văn và làm báo, chủ yếu đăng trên các báo, tạp chí: Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tao đàn, Hà Nội tân văn, Thanh nghị, Tiểu thuyết thứ bảy. Từ 1937, ông chuyên sống bằng nghề viết văn và nổi tiếng từ 1938, 1939 với Một chuyến đi, Vang bóng một thời,…

Sau Cách mạng, năm 1946, Nguyễn Tuân cùng với đoàn văn nghệ sĩ vào công tác tại Khu Năm (Trung Bộ). Năm 1947, ông phụ trách một đoàn kịch lưu động. Từ năm 1948 đến 1996, ông giữ trách nhiệm Tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam. Thời gian này, ông đã tham gia nhiều chiến dịch và về các vùng sau lưng địch để sáng tác. Sau 1954, Nguyễn Tuân sống và hoạt động văn nghệ ở Hà Nội. Từ năm 1958, ông là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam và là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khoá I và II).

Những tác phẩm đã xuất bản: Ngọn đèn dầu lạc (phóng sự, 1939); Vang bóng một thời (truyện ngắn, 1940); Chiếc lư đồng mắt cua (tùy bút, 1941); Tóc chị Hoài (tuỳ bút, 1943); Tuỳ bút II (tuỳ bút, 1943); Nguyễn (truyện ngắn, 1945); Chùa Đàn (truyện, 1946); Đường vui (tuỳ bút, 1949); Tình chiến dịch (bút kí, 1950); Thắng càn (truyện, 1953); Chú Giao làng Seo (truyện thiếu nhi, 1953); Đi thăm Trung Hoa (bút kí, 1956); Tuỳ bút kháng chiến (tuỳ bút, 1955); Tùy bút kháng chiến và hoà bình (tuỳ bút, 1956); Truyện một cái thuyền đất (truyện thiếu nhi, 1958); Sông Đà (tuỳ bút, 1960); Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (tuỳ bút, 1972); Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập I: 1981, tập II: 1982).

Ngoài ra, Nguyễn Tuân còn viết tiểu luận phê bình văn học và dịch giới thiệu văn học. Nhà văn đã được nhận: Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I, năm 1996).

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài văn có thể chia làm ba đoạn:

Đoạn 1 (Từ đầu đến “theo mùa sóng ở đây”): Cảnh đẹp của Cô Tô sau trận bão đi qua.

Đoạn 2 (Từ “Mặt trời lại rọi lên” đến “là là nhịp cánh”): Cảnh tượng tráng lệ và hùng vĩ khi mặt trời mọc trên biển.

Đoạn 3 (Từ “Khi mặt trời đã lên” đến hết): Cảnh sinh hoạt buổi sáng trên đảo Cô Tô.

2. Vẻ đẹp của đảo Cô Tô sau khi trận bão đi qua được tác giả thể hiện qua các từ ngữ (đặc biệt là tính từ), hình ảnh đáng chú ý:

Ở đây, các tính từ chỉ màu sắc và ánh sáng (trong trẻo, sáng sủa, trong sáng, xanh mượt, lam biếc, vàng giòn) trong kết cấu câu văn đặc tả nhấn mạnh (thêm, hơn) đã làm nổi bật các hình ảnh (bầu trời, nước biển, cây trên núi đảo, bãi cát), khiến cho khung cảnh Cô Tô được hiện lên thật trong sáng, tinh khôi.

Nghệ thuật dùng tính từ đặc tả nói trên kết hợp với việc chọn điểm nhìn từ trên cao, tác giả giúp người đọc cùng hình dung và cảm nhận về vẻ đẹp tươi sáng về toàn cảnh Cô Tô.

4. Trong đoạn cuối, cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo được miêu tả qua những chi tiết, hình ảnh:

Quanh giếng nước ngọt: vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền (sử dụng hình ảnh so sánh);

Chỗ bãi đá, bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp (sử dụng lượng từ không xác định);

Thùng và cong và gánh nối tiếp đi đi về về (sử dụng liên từ và điệp từ);

Đó là cảnh sinh hoạt và lao động khẩn trương, tấp nập. Đó cũng là khung cảnh của cuộc sống thanh bình sau bão: “Trông chị Châu Hoà Mãn địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành”. Hình ảnh so sánh liên tưởng độc đáo này thể hiện sự đan quyện trong cảm xúc giữa cảnh và người, đồng thời thể hiện đặc sắc tình yêu Cô Tô của riêng một Nguyễn Tuân – “người đi tìm cái đẹp” toàn bích và hài hoà.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1. Cách đọc

Khi đọc bài văn, chú ý nhấn giọng thể hiện sắc thái miêu tả qua các từ ngữ (đặc biệt là tính từ), hình ảnh có tính gợi cảm; các liên tưởng độc đáo của tác giả khi tái hiện cảnh sinh hoạt và lao động của người dân trên đảo.

2. Viết một đoạn văn tả cảnh mặt trời mọc (trên biển, trên sông, trên núi hay ở đồng bằng) mà em quan sát được.

Gợi ý: Khi miêu tả, cần tập trung vào các chi tiết sau (chú ý vào những nét riêng ở mỗi miền):

Quang cảnh lúc mặt trời chưa lên? (cả không gian trong một mầu mờ mờ trắng đục).

Mặt trời nhú dần lên như thế nào? (suy nghĩ để lựa chọn được những hình ảnh so sánh độc đáo).

Không gian cảnh vật lúc mặt trời lên có gì đổi khác?

Giáo Án Bài Cô Tô (Nguyễn Tuân) (Tiết 1)

– GV nêu yêu cầu đọc:

+ Chú ý các tính từ, động từ miêu tả, các so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, mới lạ, đặc sắc.

+ Đọc giọng vui tươi hồ hởi;

– GV đọc mẫu 1 đoạn sau đó gọi HS đọc

– Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm?

Nêu xuất xứ đoạn trích Cô Tô?

– Cho HS đọc chú thích SGK

– GV giải thích thêm một số từ khó.

I.Đọc và tìm hiểu chú thích:1. Đọc2. Tìm hiểu chú thích:a. Tác giả:

– Nguyễn Tuân (1910-1987), quê ở Hà Nội, là nhà văn nổi tiếng, sở trường về thể tuỳ bút và ký.

– Tác phẩm của ông luôn thể hiện phong

cách độc đáo tài hoa, sự hiểu biết phong phú nhiều mặt và vốn ngôn ngữ giàu có, điêu luyện.

b. Tác phẩm:

Đoạn trích ở phần cuối của bài kí Cô Tô – Tác phẩm ghi lại những ấn tượng về thiên nhiên, con người lao động ở vùng đảo Cô Tô mà nhà văn thu nhận được trong chuyến ra thăm đảo.

c. Giải nghĩa từ khó:

– Ngư dân: người đánh cá.

– Chài: Lưới đánh cá, nghề đánh cá.

– Ghe: Thuyền nhỏ.

Hoạt động 2: Đọc hiểu văn bản

– Bài văn có thể chia làm mấy đoạn? Nêu nội dung chính của mỗi đoạn?

– Như vậy, bài văn có 3 nét cảnh. Nét cảnh nào hấp dẫn hơn cả đối với em? – HS: Cảnh mặt trời mọc, vì cách tả cảnh đặc sắc gây ấn tượng mới lạ về cảnh tượng lộng lẫy, kì ảo.

Có thể là cảnh sinh hoạt của con người vì nó đã gợi sự sống giản dị, thanh bình, hạnh phúc nơi đây.

– Gọi HS đọc đoạn 1

– Dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân, cảnh Cô Tô sau cơn bão hiện lên qua các chi tiết nào?

– ở đây, lời văn miêu tả có gì đặc sắc về cách dùng từ?

GV bình: Tính từ vàng giòn tả đúng sắc vàng khô của cát biển, một thứ sắc vàng có thể tan ra được. đó là sắc vàng riêng của cát CôTô trong cảm nhận của tác giả.

– Nhận xét về NT miêu tả của tác giả?

– Lời văn miêu tả của tác giả đã có sức gợi lên một cảnh tượng thiên nhiên như thế nào trong cảm nhận của em?

– Tác giả có cảm nghĩ gì khi ngắm toàn cảnh Cô Tô?

– Em hiểu gì về tác giả qua cảm nghĩ đó của ông?

II. Đọc hiểu văn bản:1. Tìm hiểu chung về văn bản:

– PTBĐ: Miêu tả + biểu cảm.

– Thể loại: kí.

– Bố cục: Chia làm ba phần.

a) Từ đầu đến “ở đây” – Toàn cảnh Cô Tô một ngày sau bão (Điểm nhìn miêu tả: trên nóc đồn biên phòng Cô Tô).

b) Từ “Mặt trời” đến “nhịp cánh”: Cảnh mặt trời lên trên biển Cô Tô (vị trí: Nơi đầu mũi đảo).

c) Phần còn lại: Cảnh buổi sớm trên đảo Thanh Luân (vị trí từ cái giếng nước ngọt ở rìa đảo).

2. Phân tích:

a. Cảnh Cô Tô sau cơn bão:

– Trong trẻo, sáng sủa;

– Cây thêm xanh mượt

– Nước biển lam biếc đậm đà

– Cát vàng giòn hơn

– Cá nặng lưới

– NT miêu tả: bao quát từ trên cao thu lấy những hình ảnh chủ yếu đập vào mắt. Qua đó bộc lộ tài quan sát và cách chọn lọc từ ngữ trong vốn từ vựng giàu có của tác giả.