Tự Học Tiếng Anh Pháp Lý / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Ngữ Pháp Trong Tiếng Anh Pháp Lý

Một nguyên tắc chung khi viết thư tiếng Anh cho khách hàng là ngôn ngữ phải giản dị trong khi đó các hợp đồng, đạo luật và các văn bản pháp luật “chính thức” khác có khuynh hướng chứa các cấu trúc có thể khó hiểu cho những người không thuộc chuyên môn, chưa kể những sinh viên không phải người bản xứ. Cần lưu ý rằng, đa số ác luật sư ở Anh đều dựa vào các mẫu khi viết hợp đồng.

Tại sao tiếng Anh Pháp lý lại khác tiếng Anh thông thường?

Cách viết luật pháp tiếng Anh có nguồn gốc từ hỗn hợp của tiếng Pháp, Latin, tiếng Anh và tiếng Na Uy cổ (ngôn ngữ Viking). Đó là vì những nước khác nhau xâm chiếm nước Anh hàng trăm năm trước.

Trong 300 năm, tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của nước Anh và trong khi tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi của dân chúng, tiếng Pháp được sử dụng trong tố tụng tòa án và tiếng Latin được sử dụng cho các tài liệu chính thức.

Đây là một câu được viết bằng tiếng Anh pháp lý (ngôn ngữ đặc biệt của luật sư):

“I return here with the stipulation to dismiss the above case; the same being duly executed by me.”

Câu này bao gồm một hỗn hợp các từ tiếng Pháp, Latin và Anh và là câu phổ biến trong luật tiếng Anh. Một số luật sư vẫn viết như thế này trong các văn bản tiếng Anh Pháp lý. Nhưng nó được diễn đạt đơn giản trong tiếng Anh là gì?

“I enclose the document to dismiss the case which has been signed by me.”

Mặc dù đây là một câu dễ hiểu hơn nhưng nó không có vẻ mang tính pháp lý lắm. Đây có lẽ là một lý do khác khiến các luật sư Anh và Mỹ có khuynh hướng sử dụng các thuật ngữ pháp luật hơn – họ cần phải chứng tỏ học thức cao của mình.

Nếu bạn hỏi một luật sư lý do ông ta dùng danh từ thay vì động từ, viết bằng thể bị động hoặc sử dụng cụm từ Latin, họ sẽ nói rằng đó là để tránh sự không chắc chắn, nhưng nhiều người cho rằng điều này là vô nghĩa vì nếu bạn có khả năng tiếng Anh tốt, bạn có thể viết một tài liệu chặt chẽ mà không cần các thuật ngữ cổ.

Ngôn ngữ trong tiếng Anh Pháp lý xuất hiện từ thời nước Anh bị xâm chiếm

Chiến dịch The Plain English và Legal English UK đã cố gắng khuyến khích các luật sư “dọn dẹp” việc sử dụng các quy tắc này. Cá nhân tôi, tôi nghĩ rằng điều này xảy ra vì những cụm từ này đã được sử dụng trong hàng trăm năm và đã ăn sâu vào trong từ điển pháp luật. Sẽ rất khó để thay đổi thói quen đã xuất hiện hàng trăm năm như vậy.

Học Tiếng Anh Pháp Lý Ở Môi Trường Đại Học

Ngày nay, Tiếng Anh Pháp Lý (TAPL) đã trở thành một bộ phận của ngành ngôn ngữ học hiện đại, hay được gọi là một “Tiểu Ngôn Ngữ” bởi TAPL phân biệt nó rất rõ với Tiếng Anh phổ thông về cấu trúc, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp,…

I. Tiếng Anh Pháp Lý

1. Khái niệm

Có thể nói sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người từ một vài thập kỷ qua đã chia nhỏ các ngành học thành nhiều ngành sâu khác nhau, trong đó có Ngôn Ngữ Luật (cấu thành của ngành Ngôn Ngữ Học). Nếu như bộ xương của kinh tế học (economics) là các mô hình toán, thì với luật học là ngôn ngữ (linguistics). Tại Hoa Kỳ, các học giả gọi đó thứ Tiếng Anh Pháp Lý (Legal English) hay Ngôn Ngữ Luật (Language of the Law). Sở dĩ thứ ngôn ngữ này trở nên đặc biệt chính là vì một số đặc điểm chính như tính riêng biệt (peculiar), tính duy nhất (uniqueness), tính mơ hồ (vagueness), tính uyển chuyển (flexibility) và tính phổ quát (universality). Ngay trong nội tại của ngành Ngôn Ngữ Luật, người ta lại chia nhỏ thành Ngôn Ngữ Hợp Đồng (Contractual Language), Ngôn Ngữ Thẩm Phán (Judge-made Language), Ngôn Ngữ Luật Sư (Language for Lawyers). Trong mỗi phần ngành, người ta nghiên cứu sâu sắc về đặc điểm (character), hình thức (form), cấu trúc (structure), bản chất (nature). Trên thực tế, sự uyển chuyển về ngôn ngữ chiếm đến 99% sự thành công của việc soạn thảo một hợp đồng hay bất kỳ một văn bản mang tính pháp lý nào. Hay nói một cách hoa mỹ của các luật sư thì hợp đồng là một trò chơi về ngôn từ. Cách nói như vậy quả là không có gì ngoa nếu chúng ta nhìn một chút lại quá trình lịch sử phát triển của Ngôn Ngữ Luật (ở đây muốn nói đến cụ thể là Tiếng Anh Pháp Lý).

2. Lịch sử hình thành

Trở lại với nguồn gốc của Hệ Thống Pháp Luật Chung (hay thường gọi ngắn gọn là Thông Luật). Từ thời trước khi Vương Quốc Anh ngày nay ra đời, Thông Luật được viết bằng ngôn ngữ đời thường của các cộng đồng sống rải rác khắp các vùng thuộc nước Anh ngày nay. Thời kỳ La Mã cai trị nước Anh, ngôn ngữ của luật là tiếng Latin (khoảng năm 43 SCN). Sau khi người La Mã rời khỏi nước Anh và người Anglo-Saxon xâm chiếm và cai trị nước Anh bằng hệ thống pháp luật Anglo-Saxon, ngôn ngữ luật cổ là tiếng Giéc-manh (được coi là Tiếng Anh cổ). Sau khi người Norman xâm lược nước Anh, thì ngôn ngữ luật là tiếng Pháp, phổ biến trong khoảng hơn 3 thế kỷ. Kể từ năm 1066, tiếng Latin là ngôn ngữ chính thống của các văn bản pháp luật và mãi tới năm 1730 mới được thay thế bởi Tiếng Anh (lưu ý là Tiếng Anh của ngày đó khác khá nhiều so với Tiếng Anh hiện đại) theo Đạo Luật Tố Tụng Tại Tòa Án Công Lý (1730). Ngày nay trong Tiếng Anh Pháp Lý, chúng ta còn thấy tồn tại nhiều thuật ngữ Latin như Ipso facto (by that very fact itself), force majeure (unavoidable event), ad hoc (for a particular purpose), de facto (existence by law), bona fide (in good faith), inter alia (among other things), ultra vires (beyond powers) vvv. Chúng ta cũng thấy nhiều từ gốc tiếng pháp nay vẫn được dùng để chỉ nhiều thuật ngữ trong Thông Luật như property (properte), estate (état), chattel (chatel), executor (executor) vvv.

3. Phân loại tiếng Anh Pháp Lý Hiện Đại

Ngày nay, Tiếng Anh Pháp Lý (TAPL) đã trở thành một bộ phận của ngành ngôn ngữ học hiện đại, hay được gọi là một “Tiểu Ngôn Ngữ” bởi TAPL phân biệt nó rất rõ với Tiếng Anh phổ thông về cấu trúc, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp vv. Nó khó hiểu và phức tạp đến độ người ta đặt riêng cho nó một tên gọi là “Legalese” để “bêu rếu” giới luật sư về cách viết và giao tiếp của họ khiến người “ngoại đạo” không thể hiểu nổi họ muốn nói gì, đặc biệt là trong ngôn ngữ của hợp đồng. Mặc dù nhiều nhà ngôn ngữ cũng như nhiều học giả phê bình thứ ngôn ngữ luật mà các luật sư đang dùng là “rối rắm” và đề xuất cải cách TAPL theo hướng đơn giản hóa, trực tiếp về ngữ nghĩa để cho dễ hiểu, nhưng nhìn vào gần như 100% các hợp đồng giao dịch tại các thị trường phát triển như Anh, Hoa Kỳ, và kể cả các hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, chúng ta vẫn nhận thấy một lối hành văn siêu phức tạp mà nếu không có khả năng ngôn ngữ tốt cộng với kiến thức pháp luật sâu, thì thật sự vất vả mới có thể hiểu được, hoặc tưởng là hiểu đúng, nhưng hóa ra lại đang sai mà không biết là mình sai.

Vậy tại sao TAPL lại cứ phải phức tạp như thế? Câu hỏi này thật khó trả lời, thậm chí đối với cả bản thân những người va chạm nhiều với những thứ văn bản pháp lý kiểu như vậy. Để giúp kiến giải phần nào sự phức tạp này, qua kinh nghiệm tích lũy được sau nhiều năm học tập, nghiên cứu tại cả hai nền Thông Luật (Hoa Kỳ) và Dân Luật (Việt Nam), tôi đã thử phân loại Tiếng Anh Pháp Lý ra thành nhiều cấp độ như sau: (i) Tiếng Anh dùng trong các văn bản pháp luật chính thống (Statutes, Treaties etc.,) (ii) Tiếng Anh mà các Thẩm Phán dùng để hành văn khi soạn thảo các phán quyết (Judge-made) (iii) Tiếng Anh dùng trong các hợp đồng (Contractual Language) và (iv) Tiếng Anh dùng giao tiếp pháp lý (legal opinion memo). Sự phân chia này của tôi không cố tình chia theo mức độ phức tạp và khó (mặc dù trên thực tế có sự phân biệt này), mà chỉ để cho chúng ta thấy được một số đặc điểm của từng loại văn bản mà trong đó TAPL được sử dụng.

3.1. Tiếng Anh trong các văn bản pháp lý chính thống (Đạo luật, Hiệp định vvv)

Tiếng Anh dùng trong các đạo luật (ở đây tôi chỉ nói tới các đạo luật của Hoa Kỳ) có một đặc điểm chung là tính khái quát quá cao đến độ đậm đặc và rắc rối. Có người nói tại sao không soạn thảo luật bằng một thứ Tiếng Anh thông thường để ai đọc cũng hiểu, vì mục đích cuối cùng của luật là phải đi vào cuộc sống để một người nông dân Mỹ với trình độ học vấn trung học (high school) đọc và hiểu luật quy định gì. Đơn giản đến mức như: Vỉa hè là dành cho người đi bộ hay đèn đỏ dừng xe lại hay đến ngã tư giảm tốc độ nhìn hai phía rồi đi tiếp. Ai cũng muốn viết đơn giản như thế, nhưng không hiểu sao, các đạo luật ở Mỹ lại không được soạn theo thứ Tiếng Anh đơn giản (Plain English), mà lại cứ phải sử dụng thứ Tiếng Anh phức tạp mà đến cả sinh viên tốt nghiệp đại học đọc còn không hiểu luật muốn nói gì (chưa kể đến cả sinh viên luật còn ngồi đọc nát cả luật còn hiểu chưa rõ). Lấy một ví dụ một đoạn trong Bộ Luật Thương Mại Thống Nhất Hoa Kỳ:

“2-316. Exclusion or Modification of Warranties: (1) Words or conduct relevant to the creation of an express warranty and words or conduct tending to negate or limit warranty shall be construed wherever reasonable as consistent with each other; but subject to the provisions of this Article on parol or extrinsic evidence (Section 2-202) negation or limitation is inoperative to the extent that such construction is unreasonable…”

Tóm lại, khi một người bình thường đọc kiểu ngôn ngữ này sẽ “chau mày” vì khó hiểu. Điều này là đúng sự thật vì đến cả người hành nghề luật, nghiên cứu luật và học trường luật tại Mỹ cùng còn thấy khó hiểu. Đây chỉ là một ví dụ trong muôn ngàn ví dụ có thể kể ra khi đọc luật Mỹ, chưa kể nếu chúng ta có tham vọng dịch Bộ Luật Thương Mại Thống Nhất này ra tiếng Việt để phục vụ mục đích tham khảo cho các nhà làm luật và nghiên cứu pháp luật ở nước ta. Khi không hiểu, thì chắc chắn dịch sẽ sai, và như thế thực sự là tai hại.

Sở dĩ thứ ngôn ngữ này khó hiểu đến vậy vì ẩn trong mỗi đạo luật là những triết lý, những học thuyết pháp luật đã hình thành từ lâu đời mà muốn hiểu rõ thì phải học, phải đọc lại các học thuyết đó, đọc lại các án lệ (precedents) xem quan điểm của các thẩm phán như thế nào và kết luận ra sao. Ngay trong đoạn trên, một sinh viên luật trung bình phải biết tra cứu xem thế nào là warranties, có các dạng warranties nào và ý nghĩa của chúng là gì. Ví dụ, warranties of merchantability hay warranties of fitness, và chúng là “implied” hay “express”. Mỗi dạng lại có một hậu quả pháp lý khác nhau. Hay chúng ta nhìn thay có học thuyết “parol evidence rule” trong đoạn trích trên. Đây là cả một học thuyết về hợp đồng, mà người không học không hiểu được. Đấy là còn chưa kể đến cấu trúc ngữ pháp của câu, đoạn nối tiếp nhau, đoạn này dẫn chiếu tới đoạn kia và ngược lại, bổ sung cho nhau hay loại trừ lẫn nhau. Nói tóm lại, nếu chỉ đọc trên bề mặt thì không sao hiểu được, mà phải đọc từ án lệ điển hình xem cách tiếp cận và diễn giải của các thẩm phán có uy tín mới vỡ ra được.

3.2. Tiếng Anh của Thẩm Phán

Trong cuốn sách nổi tiếng về Legal Writing (Viết Tiếng Anh Pháp Lý), Giáo sư Bryan A. Garner đã phải thốt lên rằng “Mỗi sinh viên luật phải đọc và tiêu hóa cả đống văn bản rải rác khắp nơi. Bạn phải đọc qua các bản án cổ dài tới 50 trang chỉ để nói cái có thể được nói dứt khoát trong 5 trang….”

“And in the outset we may as well be frank enough to confess, and, indeed, in view of the seriousness of the consequences which upon fuller reflection we find would inevitably result to municipalities in the matter of street improvements from the conclusion reached and announced in the former opinion, we are pleased to declare that the arguments upon rehearing have convinced us that the decision upon the ultimate question involved here formerly rendered by this court, even if not faulty in its reasoning from the premises announced or wholly erroneous in conclusions as to some of the questions incidentally arising and necessarily legitimate subjects of discussion in the decision of the main proposition, is, at any rate, one which may, under the peculiar circumstances of this case, the more justly and at the same time, upon reasons of equal cogency, be superseded by a conclusion whose effect cannot be to disturb the integrity of the long and well-established system for the improvement of streets in the incorporated cities and towns of California not governed by freeholders’ charters.”

Tòa muốn nói gì ở đây sau một đoạn văn dài dòng và cách điệu? theo Garner, tòa muốn nói “we made a mistake last time”, có thế thôi.

3.3. Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng

Nguyên tắc tự do hợp đồng (freedom to contract) được thừa nhận rộng rãi ở các nền tài phán theo hệ thống luật chung và đây chính là khoảng trống lớn nhất để các bên thương lượng và đưa vào hợp đồng bất kỳ điều khoản nào (miễn là không trái với pháp luật và đạo đức xã hội). Chính vì thế, đây là “đất diễn” của giới luật sư và đây cũng chính là chỗ để thể hiện “trò trơi pháp luật” bằng ngôn ngữ. Thật không ngoa khi nói luật sư tạo ra thứ pháp luật thứ ba, là Lawyer-Made Law (bên cạnh Hiến Pháp, Luật và Luật do Thẩm Phán tạo ra (Judge-made law dưới dạng các án lệ). Chính vì các bên đều mong muốn đưa ý đồ của mình vào hợp đồng, nên cần có sự thỏa hiệp, và do đó nhiều khi chúng ta thấy một điều khoản dài dòng, đọc không biết đâu là đầu, đâu là cuối, đâu là chủ ngữ và đâu là vị ngữ, và mệnh đề phụ này bổ nghĩa cho mệnh đề chính nào. Cấu trúc giao dịch càng phức tạp thì hợp đồng thể hiện cấu trúc đó càng phức tạp.

Để hiểu được hợp đồng, người học phải có một nền tảng về các nguyên tắc cơ bản. Không có gì xa lạ khi trong các hợp đồng chúng ta thường thấy xuất hiện các từ ngữ như terms and conditions, covenants, conditions precedent, representations and warranties, waivers, successor, survival, deed of accession etc. Thực sự đây là những thứ ngôn ngữ của nền tài phán Thông Luật đang xâm chiếm và được chấp nhận tại nhiều nền tài phán khác nhau, trong đó có Việt Nam. Tất cả những loại điều khoản này đã có khuôn mẫu được nhiều thế hệ luật sư Anh-Mỹ soạn thảo, và các luật sư sau này chỉ cần thêm bớt, chỉnh sửa theo ý đồ đàm phán thực tế của từng giao dịch. Đây là lúc mà luật sư cần thể hiện một thứ ngôn ngữ sao cho chuyên nghiệp để không quá chênh lệch với thứ ngôn ngữ “boilerplate” trong từng điều khoản. Ngoài ra, chúng ta còn thấy nhiều dạng điều khoản như disclaimers of liability, implied and express warranties of merchantability and fitness; rồi nhiều học thuyết ẩn sau hợp đồng như paro evidence rule, promissory estoppels, statute of frauds, statute of limitations; cũng như các biện pháp khắc phục như compensatory and punitive damages, restitution (unjust enrichment) vân vân.

Tại Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, các luật sư (đặc biệt là những luật sư làm việc trong môi trường hành nghề có yếu tố nước ngoài) đã dần quen với những dạng, kiểu ngôn ngữ như vậy. Những hợp đồng có yếu tố nước ngoài như Share Purchase or Subscription Agreement, Bond, Securities Lending, Guarantee, Purchasing Order, Loan Agreement, là những chỗ chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những phong cách ngôn ngữ du nhập từ hệ thống luật chung. Điều đáng nói là (có thể) những kiểu hợp đồng và ngôn ngữ này lại không được giảng dậy một cách chính quy tại bất kỳ một trường đại học luật nào ở Việt Nam. Xin thứ lỗi nếu ý kiến của tôi là chưa đúng.

3.4. Ngôn ngữ tư vấn luật

II. Soạn thảo pháp lý

Rất nhiều các bối cảnh pháp lý khác nhau sẽ có những yêu cầu riêng về hình thức văn bản pháp lý đặc thù cần phải sử dụng cho việc giao tiếp bằng văn bản. Trong nhiều trường hợp, văn bản là phương tiện để một luật sư có thể biểu đạt những phân tích của họ về một vấn đề và tìm cách thuyết phục người khác thay mặt cho khách hàng của họ. Bất kỳ một văn bản pháp lý nào được soạn ra đều phải đáp ứng yêu cầu chung là phải súc tích, rõ ràng và phù hợp với các tiêu chuẩn khách quan đã được hình thành đối với nghề luật.

Thông thường sẽ có hai loại soạn thảo pháp lý là phân tích pháp lý (legal analysis) và phác thảo pháp lý (legal drafting). Loại 1 gồm 2 kiểu. Kiểu thứ nhất là việc soạn thảo nhằm phân tích hài hòa về một vấn đề hay sự việc pháp lý. Ví dụ của kiểu 1 này là biên bản ghi nhớ giữa các văn phòng luật sư và thư tư vấn, trao đổi gửi cho khách hàng. Để có thể đạt hiệu quả cao trong kiểu soạn thảo này, người luật sư cần phải nhạy cảm đối với nhu cầu, mức độ quan tâm và lai lịch của các bên mà họ đại diện. Một biên bản ghi nhớ cho một đối tác trong cùng một công ty luật mà ghi chi tiết định nghĩa các khái niệm pháp lý cơ bản sẽ trở nên vô nghĩa và không hiệu quả. Ngược lại, đối với các biên bản ghi nhớ với khách hàng không có kiến thức về luật pháp mà không ghi rõ các định nghĩa trên thì có thể sẽ gây nhầm lẫn và phức tạp hóa một tình huống đơn giản.

Bên cạnh loại 1, còn có loại 2 là hình thức soạn thảo các văn bản pháp lý như hợp đồng hay di chúc. Đối với những thể loại văn bản này, thường sẽ có những mẫu văn bản cụ thể có sẵn để áp dụng, tuy nhiên việc soạn ra các văn bản đặc biệt áp dụng mẫu cho thực tế của sự việc cũng thường được yêu cầu. Soạn thảo pháp lý không tốt có thể sẽ dẫn đến những vụ tranh chấp không cần thiết và ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng[1].

Khác với các khóa đào tạo tiếng Anh pháp lý, khóa đào tạo kỹ năng soạn thảo pháp lý là khóa học không chỉ dành cho sinh viên quốc tế mà còn là khóa học cần thiết dành cho chính các sinh viên luật người bản địa đang theo học tại trường.

III. Hoạt động giảng dạy kỹ năng soạn thảo pháp lý tại Mỹ

Theo mô hình đào luật J.D (Jurist Doctor), các kỹ năng nghề nghiệp được chú trọng đào tạo trong chương trình đào tạo 3 năm. Kỹ năng soạn thảo pháp lý là kỹ năng thách thức nhất đối với sinh viên luật và thường là môn học bắt buộc đối với sinh viên.

1. Trường luật – Đại học Harvard

2. Đại học Luật Washington[5]

Kỹ năng soạn thảo pháp lý được đưa vào giảng dạy trong Chương trình Phân tích, Tra cứu, và Viết pháp lý (LARW) cho sinh viên năm nhất và được thiết kế để dạy cho sinh viên nguyên lý nền tảng về hệ thống pháp luật Mỹ và giới thiệu các kỹ năng cần thiết để phục vụ tư vấn hiệu quả và bào chữa trong hệ thống đó. Mỗi phần LARW giúp học sinh đạt được các mục tiêu và mục đích đó.

Trong kỳ học thu đông, học sinh được chia thành các nhóm nhỏ khoảng 25 học sinh. Mỗi giảng viên sẽ phát triển một loạt các vấn đề và hội thảo thực hành được thiết kế để dạy các kỹ năng phân tích, nghiên cứu, và viết pháp lý cho sinh viên. Ngoài việc phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với các giảng viên, sinh viên còn phải nhờ cậy các sinh viên năm thứ hai và thứ ba để học hỏi kinh nghiệm và thay đổi mình từ nghiệp dư thành chuyên gia trong ngành văn bản quy phạm pháp luật. Tất cả học sinh tham gia vào một loạt các dự án nghiên cứu và viết trong hai quý đầu năm, bao gồm cả việc soạn thảo các hình thức khác nhau của biên bản ghi nhớ nghiên cứu. Học sinh cũng có thể có cơ hội để dự thảo biên bản ghi nhớ tư pháp băng ghế dự bị hoặc ý kiến, thư từ khách hàng, điều khoản hợp đồng, hoặc biện hộ pháp lý.

Ngoài ra, tất cả các sinh viên phải tiếp tục theo học các khóa học về tra cứu và soạn thảo pháp lý trong những năm tiếp theo đại học để có thể hoàn thành các yêu cầu về viết pháp lý nâng cao để có thể được xét công nhận lấy bằng J.D. Các khóa học nâng cao về viết pháp lý cho sinh viên năm hai và năm ba sẽ tập trung vào bào chữa bằng văn bản, viết bài phân tích và nghiên cứu. Thêm vào đó, trường còn tổ chức một Trung tâm về soạn thảo pháp lý trong trường với sự tham gia của chính các sinh viên năm hai và ba trong trường dưới sự dẫn dắt của Khoa Viết & Nghiên cứu Phân tích Pháp lý. Có thể nói, Trườn luật – Đại học Washington cung cấp cho sinh viên của mình rất nhiều sự lựa chọn và mở ra các cơ hội cho sinh viên được học, trau dồi và thực hành kỹ năng soạn thảo pháp lý khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường.

3. Đại học luật Seattle (Mỹ)[6]

Chương trình soạn thảo pháp lý tại Đại học luật Seattle được đánh giá là chương trình soạn thảo pháp lý tốt nhất tại Mỹ theo xếp hạng của trang U.S. News. Chương trình này là một bộ môn bắt buộc cho sinh viên từ năm nhất đại học bao gồm các môn sau:

Soạn thảo pháp lý 1: Tra cứu, Phân tích, Soạn thảo (4 tín chỉ) (Legal Writing I: Research Analysis, Writing)

Soạn thảo pháp lý 2: Bào chữa bằng lời và bằng văn bản (3 tín chỉ) (Legal Writing II: Written & Oral Advocacy)

Chuyên đề Nghiên cứu Viết Nâng cao (2 tín chỉ) (Advanced Writing Seminar)

Thực hành Soạn thảo (1 tín chỉ)

Nghiên cứu Pháp lý Nâng cao (2 tín chỉ)

Khoa Soạn thảo pháp lý tại Đại học Seattle sử dụng cả phương pháp trong và ngoài lớp học nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên. Mỗi lớp học sẽ được trang bị hệ thống thiết bị tân tiến nhất cho phép giáo viên sử dụng máy tính và tất cả các loại văn bản giấy tờ bản cứng để trình chiếu cho sinh viên. Ngoài ra, các phòng học còn được lắp đặt hệ thống mạng internet không dây tốc độ cao. Sinh viên có thể gửi bài làm nháp của mình ngay và lập cho giáo viên thông qua bằng email để từ đó giáo viên có thể sử dụng chính bài của sinh viên và trình chiếu trên hệ thống máy chiếu, và hệ thống này cũng giúp sinh viên và giáo viên trao đổi được thuận tiện và nhanh chóng đối với các tiết học dạy từ xa.

IV. Hoạt động giảng dạy kỹ năng soạn thảo pháp lý tại Anh

Tương tự như Mỹ và hầu hết các quốc gia thuộc Khối Thịnh Vượng Chung, Anh cũng sử dụng hệ thống Thông luật. Tại Anh, kỹ năng soạn thảo pháp lý đa phần không được các trường đưa vào chương trình khung như là một môn học bắt buộc đối với các sinh viên đại học, mà các sinh viên chỉ được học kỹ năng viết pháp lý trong quá trình học các khóa học ngắn hạn khác như Tiếng Anh pháp lý hay môn Luật EU và Viết báo cáo (European Union Law and Report Writing) ở năm đầu đại học. Tuy nhiên, việc giảng dạy kỹ năng soạn thảo pháp lý lại được quan tâm và chú trọng nhiều hơn cho các đối tượng học Thạc sĩ Luật (LLM) hay chương trình Thực hành nghề luật LPC (Legal Practice Course).

1. Khoa luật – Đại học Cambridge[7]

Khoa luật Đại học Cambridge là một trong những trường luật hàng đầu trên thế giới, đứng thứ 2 trên thế giới theo xếp hạng của trang Top Universities. Đại học Cambridge còn là nơi cung cấp chương trình đào tạo và thi lấy chứng chỉ tiếng Anh pháp lý ILEC (International Legal English Certificate) cho luật sư và những người học nghề luật trên toàn thế giới. Tuy nhiên, các khóa học về soạn thảo pháp lý lại không phải là một trong những trọng tâm được giảng dạy riêng thành một khấu phần trong chương trình giảng dạy của nhà trường. Trong chương trình giảng dạy cho sinh viên đại học, kỹ năng soạn thảo pháp lý chỉ được giảng dạy kết hợp trong khấu phần về Phương pháp và Các Kỹ năng pháp lý (Freshfields Legal Skills and Methodology) của sinh viên năm thứ nhất. Ngoài ra, kỹ năng soạn thảo pháp lý cũng chưa được cụ thể thành một khóa học riêng trong các chương trình học khác tại trường.

2. Trường luật – Đại học Westminster[8]

Trường luật – Đại học Westminster là một ngôi trường có danh tiếng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nghề cho các luật sư tư vấn và chương trình đào tạo Thạc sĩ Luật với việc cung cấp cho người học các kỹ năng và kiến thức cần thiết để trở thành một luật sư thành công trong xã hội với sự quốc tế hóa ngày càng sâu rộng như hiện nay. Như phần lớn các trường luật khác tại Anh Quốc, Đại học Westminster cung cấp chương trình đào tạo kỹ năng soạn thảo pháp lý trong chuỗi các kỹ năng mà sinh viên phải học trong chương trình Thực hành nghề luật LPC và Thạc sĩ luật LLM. Kỹ năng viết và soạn thảo pháp lý sẽ được giảng dạy cùng với nhóm các kỹ năng khác như Nghiên cứu pháp lý thực hành, Phỏng vấn và Tư vấn, và kỹ năng bào chữa.

V. Kết luận

[1] https://www.law.cornell.edu/wex/legal_writing

[2] http://hls.harvard.edu/dept/lrw/

[3] http://hls.harvard.edu/aca…/curriculum/catalog/default.aspx…

[4] http://hls.harvard.edu/aca…/curriculum/catalog/default.aspx…

[5] https://www.law.washington.edu/Writing/

[6] http://www.law.seattleu.edu/…/legal-writin…/program-overview

[7] http://www.undergraduate.study.cam.ac.uk/courses/law

[8] http://www.westminster.ac.uk/…/…/d09fplpc-legal-practice-llm

Tác giả: Nguyễn Bá Trường Giang

Tác giả từng học kinh tế tại Cornell và luật tại Đại học Boston (Mỹ), anh là cựu luật sư cao cấp của Baker & McKenzie.

Phương Pháp Học Tiếng Anh Chuyên Ngành Pháp Lý Cho Sinh Viên Luật

Bài viết: Phương pháp học tiếng Anh và tiếng Anh chuyên ngành pháp lý cho sinh viên Đại học Luật TP.HCM

Tác giả: Lê Hà Huy Phát – Võ Thị Cẩm Giang

Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 04(116)/2018 – 2018, Trang 74-80

TÓM TẮT

ABSTRACT:

Studying and researching general English and legal English must meet specific purposes about knowledge and skills. To achieve these purposes, teachers and students need particular preparations and actions. This article will describe pratical status as well as propose efficient methods, appliable routine and useful documents for studying general English and legal English for students in Ho Chi Minh City University of Law.

TỪ KHÓA: Anh văn pháp lý, học tập, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh,

KEYWORDS: study, Ho Chi Minh University of Law, legal English,

Thực hiện chuẩn đầu ra ngoại ngữ của sinh viên, theo kết quả tổng hợp việc nộp chứng chỉ ngoại ngữ của sinh viên Khóa 38 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (tốt nghiệp tháng 8 năm 2017) thì đến cuối tháng 7 năm 2017, vẫn còn đến 473 sinh viên trong tổng số 1567 sinh viên toàn trường (chiếm tỉ lệ 30.19%) chưa nộp chứng chỉ đủ chuẩn tốt nghiệp.[5] Đây đã được xem là một trong những kết quả tốt nhất trong những năm vừa qua của trường. Điều đó cho thấy rằng, một bộ phận không nhỏ sinh viên còn chưa thực sự quan tâm cũng như tập trung vào việc học tiếng Anh bên cạnh việc học ở trường và các hoạt động ngoại khóa. Trong bài viết, tác giả sẽ làm rõ: (i) Thực trạng học tiếng Anh chưa hiệu quả của sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; (ii) Đề xuất phương pháp học hiệu quả tiếng Anh phổ thông và tiếng Anh pháp lý cho sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

1. Thực trạng học tiếng Anh chưa hiệu quả của sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

1.1. Các phương pháp học tiếng Anh

a. Phương pháp tự học

Hiện nay, nhiều sinh viên đang áp dụng phương pháp tạm gọi là phương pháp tự học. Ở đây, sinh viên là người nắm thế chủ động. Cụ thể, sinh viên sẽ tự tìm kiếm các nguồn tài liệu thông qua sách, website uy tín hoặc mạng xã hội. Hầu hết các tài liệu này đều có sẵn đáp án, một vài tài liệu vừa có đáp án vừa có giải thích kèm theo. Sinh viên cũng dễ dàng tìm kiếm các video clip hướng dẫn tự học trên mạng và học tập từ đó. Nói cách khác, sinh viên chủ động hoàn toàn từ khâu chuẩn bị tài liệu, tìm hiểu nội dung, tự nghiên cứu. Phương pháp này rèn luyện một số kỹ năng cho sinh viên như chủ động làm việc chứ không thụ động tiếp thu Anh văn. Vì phải chuẩn bị bài nên phương pháp này giúp sinh viên phát triển kỹ năng tìm kiếm, chọn lọc và vận dụng nguồn tài liệu. Tuy nhiên, phương pháp này rất hạn chế về mặt kiến thức. Khi chỉ dựa vào kiến thức cá nhân để tự thẩm thấu một lượng kiến thức đồ sộ, rộng lớn mà chính bản thân mình chưa vững thì dễ dẫn đến hiểu không rõ, không sâu. Từ đó sẽ gây tiêu tốn nhiều thời gian hoặc trầm trọng nhất là sai lầm trong lựa chọn lộ trình và tài liệu học.

b. Phương pháp học truyền thống

Bên cạnh phương pháp tự học, phương pháp học truyền thống cũng được rất nhiều sinh viên lựa chọn. Ở đây, sinh viên sẽ tìm hiểu và lựa chọn một trung tâm ngoại ngữ phù hợp với các tiêu chí của bản thân (uy tín, học phí, địa điểm, chương trình học…). Ở mỗi chương trình học, sinh viên sẽ được hướng dẫn kiểm tra năng lực và xếp vào các lớp phù hợp trình độ của mình. Sinh viên sẽ được tiếp cận với các giáo viên dày dạn kinh nghiệm, giáo trình được chọn lọc và học trong môi trường chung, tạo cơ hội phát triển tốt các kỹ năng, nhất là kỹ năng nghe và nói. Sau khi học và thi cuối kỳ ở mỗi khóa, sinh viên sẽ được tiếp tục các chương trình học cao hơn. Đây là phương pháp truyền thống nên sinh viên sẽ tiếp nhận dễ dàng, quen thuộc. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có nhược điểm.

Cụ thể, thỉnh thoảng các giáo trình được chuẩn bị sẵn sẽ dạy lại các kiến thức sinh viên đã được học ở bậc phổ thông, điều này dễ dẫn đến tâm lý chán nản. Thêm vào đó, sinh viên đôi khi thụ động tiếp thu kiến thức từ giáo viên nên không đảm bảo được khả năng tự học (tìm kiếm thêm tài liệu, nghiên cứu thêm tài liệu…). Trong trường hợp sinh viên không nghiêm túc thì còn tận dụng thời gian làm việc riêng tại lớp. Các trung tâm hiện nay thường không có các biện pháp chế tài xử lý sinh viên nghỉ học nhiều hoặc không làm bài tập nên chất lượng đôi lúc phụ thuộc rất nhiều vào ý thức của sinh viên. Cuối cùng, mức học phí tại các trung tâm uy tín hiện nay khá cao là một trở ngại cho một lượng lớn sinh viên muốn học tốt tiếng Anh nhưng lại gặp khó khăn về tài chính.

c. Phương pháp học kèm

1.2. Nguyên nhân sinh viên học tiếng Anh chưa hiệu quả

a. Về khách quan

Người Việt Nam khá bất lợi khi học tiếng Anh so với người nước khác. Sự bất lợi này xuất phát từ lý do người Việt phải sử dụng cơ miệng theo một cách hoàn toàn khác để phát âm được tiếng Anh. So với tiếng Anh, tiếng Việt là một ngôn ngữ vô cùng độc đáo vì vừa có âm điệu vừa có dấu. Hai yếu tố này làm cho tiếng Việt trở nên đặc biệt so với 6.500 ngôn ngữ khác trên thế giới. Ví dụ, tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm tiết (nhiều âm trong một từ) và trong mỗi từ đa phần chỉ có một trọng âm chính. Khái niệm này không có trong tiếng Việt, do đó, sinh viên Việt Nam thường đọc sai trọng âm hoặc quên đọc trọng âm. Thêm nữa là việc phát âm âm cuối, trong tiếng Việt hầu như không có âm cuối, nên khi nói tiếng Anh, đặc biệt các âm cuối /s/, /t/, /ch/, /k/… sinh viên thường có thói quen biến đổi âm hoặc nuốt âm (“does” sẽ đọc thành “đơ”, “park” sẽ đọc thành “pác”). Phát âm sai dẫn đến kỹ năng nghe và nói đều yếu.

b. Về nhận thức

Sinh viên hiện nay chưa thực sự đánh giá đúng tầm quan trọng và sự cần thiết của Anh văn trong cuộc sống, học tập và công việc, do đó không chú trọng vào việc rèn luyện Anh văn bên cạnh các môn học ở trường, các hoạt động ngoại khóa.[6] Trên thực tế, chúng ta cần hiểu rằng, nhận thức đúng đắn về vai trò của việc học tiếng Anh trong giao tiếp, hội nhập quốc tế, du lịch… mới có thể tạo nên nguồn cảm hứng, động lực đúng đắn để nâng cao khả năng tiếng Anh.[7] Chưa nhận thức đúng đắn về vấn đề này làm cho phần lớn người học thiếu kiên nhẫn, dễ nản chí. Một số học viên luôn mang tâm lý tự ti rằng mình không thể học tiếng Anh, cộng thêm sự nôn nóng, vội vàng muốn đạt kết quả mà không kiên trì theo đuổi một lộ trình lâu dài. Nhiều sinh viên có tâm lý học chỉ để thi mà không phải để ứng dụng. Từ đó sinh viên học với tâm lý đối phó, chỉ muốn học vừa đủ vì nghĩa vụ hoàn thành chỉ tiêu tốt nghiệp, không quan tâm đến việc biến kiến thức thành kỹ năng để sử dụng nhuần nhuyễn vào thực tế.

c. Về lộ trình

Qua quá trình giảng dạy tiếng Anh, tác giả nhận thấy rất nhiều sinh viên hiện nay chưa có một phương pháp bài bản và một lộ trình hợp lý để có thể nâng cao hiệu quả học tập. Điều này dẫn đến việc học nhiều nhưng lại không tiến bộ, không đạt kết quả mong muốn. Từ ý thức học đối phó, sinh viên đã không phát huy tối đa 04 kỹ năng mà chỉ chú trọng 02 kỹ năng đọc và nghe. Vì tâm lý học để thi chứ không để ứng dụng, sinh viên đã chỉ chú trọng vào “mẹo làm bài”[8] mà không chú trọng kiến thức, dễ rơi vào trường hợp “dục tốc bất đạt”. Bên cạnh đó, hiện nay phần lớn sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa dành sự quan tâm đến việc học và rèn luyện tiếng Anh chuyên ngành luật, dẫn đến thực trạng là: chưa kể những em không tập trung học tiếng Anh mà ngay cả những em đã có ngoại ngữ tốt vẫn không thể ứng dụng những kỹ năng nghe – nói – đọc – viết trong lĩnh vực pháp lý để học tập và có cơ hội việc làm tốt hơn.

2. Đề xuất phương pháp học hiệu quả tiếng Anh phổ thông và tiếng Anh pháp lý cho sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

2.1. Phương pháp và lộ trình học hiệu quả kỹ năng nghe tiếng Anh

– Nghe thụ động (“tắm ngôn ngữ”): Sinh viên cần nghe ở trình độ phù hợp của bản thân, sau đó nâng cao dần lên, ban đầu chỉ nghe, không cần hiểu. Khi rảnh rỗi, sinh viên mở các bài nghe và cứ lặp đi lặp lại những bài nghe ấy. Sinh viên không cần chú ý đến bài nghe, cứ làm việc của mình (học bài, đọc sách…) song song với tiếng phát ra của bài tiếng Anh. Ngoài ra, những chương trình truyền hình về du lịch (Star World), giải trí (Discovery), học thuật (Tedtalk) cũng là những nguồn tư liệu luyện nghe thú vị và bổ ích. Thậm chí, sinh viên có thể nghe chính các bài thi TOEIC hoặc IELTS. Công việc “tắm ngôn ngữ” này rất quan trọng vì nó cho phép chúng ta nghe đúng với từng âm của một ngôn ngữ khác tiếng Việt, giai đoạn này có thể kéo dài từ 3 đến 6 tháng.

– Nghe chủ động: Sau bước nghe bị động, chúng ta nên tiến hành nghe chủ động theo các bước sau đây:

Bước 1: Lấy nội dung của những bài mình từng nghe, đọc lại và nhớ lại, từ nào không hiểu nghĩa thì tra từ điển.

Bước 2: Mở bài nghe lại, vừa nghe vừa tra từ vựng theo nội dung.

Bước 3: Cố gắng nghe rồi chép chính tả lại. Từ nào không biết hoặc không nghe được thì bỏ qua, chép được bao nhiêu thì chép như cách học tiếng Việt thời tiểu học qua môn chính tả. Ở giai đoạn này, ngoài việc nghe và nhớ được mặt chữ, chúng ta sẽ dễ dàng phát hiện lỗi phát âm sai của mình. Ví dụ từ “audition” thường được phát âm là [au đí sần] nên có thể khi nghe sẽ không hiểu được. Hầu hết trong tiếng Anh, chúng ta cần đọc âm [au] thành âm [o]. Như vậy nó sẽ phải là [o đí sần], tương tự từ “august” hay từ “audience” cũng vậy. Mỗi ngày hãy thực hành với 1 – 2 bài nghe theo cách trên (từ 1 – 2 tiếng) trong 3 – 6 tháng.

Sau khi kỹ năng nghe đã khá lên, sinh viên nên tham gia các hội thảo, các buổi trao đổi học thuật được trình bày bằng tiếng Anh bởi những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực pháp lý được tổ chức tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh hoặc tham gia, tham dự các phiên tòa giả định, cuộc thi Moot Court Competition để phát triển tiếng Anh chuyên ngành. Tại nhà, sinh viên có thể luyện nghe các bản tin pháp lý từ chuỗi chương trình VOA Learning English với giọng đọc rõ ràng, phát âm chuẩn, tốc độ vừa đủ cùng với minh họa phụ đề. Chỉ cần mỗi ngày nghe 2 – 3 bản tin là đủ để não bộ tư duy và thích ứng với tiếng Anh chuyên ngành pháp lý.

2.2. Phương pháp và lộ trình học hiệu quả kỹ năng nói tiếng Anh

Nhiều sinh viên thậm chí người hành nghề luật thường phân vân nên học tiếng Anh giao tiếp phổ thông hay tiếng Anh chuyên ngành pháp lý vì hầu hết họ nhầm lẫn tiếng Anh giao tiếp phổ thông và tiếng Anh chuyên ngành khác hẳn nhau. Trên thực tế, tiếng Anh giao tiếp phổ thông và tiếng Anh chuyên ngành có phần chung chiếm đến 90% là phục vụ công việc (trừ việc tiếp khách hàng, đặt lịch hẹn qua điện thoại, đến việc tham gia các cuộc họp, đàm phán…). Phần khác nhau là từ vựng chuyên ngành và chiếm khoảng 10% tổng lượng kiến thức cần trau dồi. Như vậy, dù là tiếng Anh giao tiếp phổ thông hay tiếng Anh chuyên ngành thì khả năng phát âm và phản xạ nghe nói là yếu tố quyết định, sau đó là từ vựng. Sinh viên nên áp dụng linh hoạt phương pháp tự học và phương pháp học truyền thống để học tập kỹ năng này. Việc rèn luyện kỹ năng nói nên thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Rèn luyện kỹ năng nghe. Với mỗi bài luyện kỹ năng nghe, sinh viên nên đọc theo để làm quen với cách phát âm cũng như ngữ điệu nói của người bản xứ.[9]

Bước 2: Học cách phát âm một cách chính xác.[10]

Bước 3: Tìm một người bạn có cùng mục tiêu để có thể luyện tập giao tiếp, nghe nói bất cứ khi nào. Tốt hơn hết là một người có thể nhìn thấy những lỗi sai cho mình, không ngần ngại chỉnh sửa và hoàn thiện chúng.[11]

2.3. Phương pháp và lộ trình học hiệu quả kỹ năng đọc tiếng Anh

Để phát triển kỹ năng đọc, điều kiện tiên quyết là vốn từ vựng. Cách học từ vựng sẽ được trình bày ở phần sau. Ở phần này, để bắt đầu học tập tốt kỹ năng đọc, sinh viên cần tham khảo các bước sau đây:

Bước 1: Giai đoạn mới bắt đầu, sinh viên nên đọc từ các mẩu chuyện dành cho trẻ em, vì đây là các văn bản đơn giản, trong sáng, dễ đọc, dễ nhớ. Cố gắng đọc to văn bản đó, như vậy, kỹ năng đọc được phát triển và tai cũng sẽ nghe nên đồng thời tốt cho kỹ năng nghe. Giai đoạn này kéo dài cỡ một tháng, mỗi ngày luyện một tiếng.

Bước 2: Ở bước này, sinh viên nên tìm đọc các văn bản có độ khó cao hơn, ví dụ như các bài thi TOEIC (phần 7), đề thi IELTS, báo nước ngoài. Khi đọc, sinh viên cố gắng đọc lướt qua toàn bài để nắm được các mục, nếu bài đó có phần tóm tắt thì nên đọc phần tóm tắt kỹ (ví dụ trong Tạp chí Khoa học Pháp lý luôn có phần tóm tắt trước mỗi bài viết). Sau đó, hãy dừng đọc, nhớ lại và tự đặt các câu hỏi về ý của tác giả muốn viết gì trong văn bản đó. Lưu ý, nếu có từ mới chưa biết, hãy bỏ qua nó. Chúng ta sẽ xem cách đọc và nghĩa ở từ điển (và học thuộc chúng) sau khi chúng ta đã đọc hết đoạn văn bản. Đừng cố dừng lại dò từng từ, nó sẽ làm chúng ta quên hầu hết những gì đã đọc trước đó và không nắm được ý của toàn bài.

2.4. Phương pháp và lộ trình học hiệu quả kỹ năng viết tiếng Anh

– Bước 1: Thu thập các bài viết hay. Việc sưu tầm các bài viết tiếng Anh có thể được thực hiện thông qua nhiều nguồn tư liệu: sách báo, mạng xã hội, website… được tích lũy qua quá trình luyện đọc hằng ngày. Bước này giúp sinh viên học hỏi được những cấu trúc, từ vựng phong phú, mới lạ để vận dụng vào bài viết của mình.

– Bước 2: Luyện viết mỗi ngày. Bài viết có thể dựa trên bất cứ nội dung nào sinh viên thích và sáng tạo ra như: dựa trên những câu chuyện hằng ngày, nhận định về một tin tức, sự kiện xã hội, giải trí… được quan tâm, hay thậm chí chỉ là những mẩu truyện ngắn tự sáng tác. Việc luyện tập hằng ngày không chỉ giúp phát huy trí tưởng tượng, cải thiện khả năng tư duy nhạy bén mà còn tạo thói quen viết một cách tự nhiên. Khi viết, sinh viên cần xác định rõ ràng mục đích của bài viết rồi lập dàn bài chi tiết. Giai đoạn này có thể kéo dài 3 tháng, mỗi ngày luyện viết khoảng 2 tiếng.

– Bước 3: Kiểm tra và đánh giá. Sau khi hoàn thành bài viết, sinh viên nhất định phải đọc lại, rà soát những lỗi sai về ngữ pháp, từ vựng, trau chuốt câu từ. Bài viết có thể được hoàn thiện sau ít nhất 3 lần chỉnh sửa khi ý tứ, cách hành văn trở nên rõ ràng, mạch lạc, súc tích.[12] Ngoài việc tự kiểm tra chính tả, sinh viên còn có thể sử dụng chức năng chính tả, ngữ pháp được tích hợp sẵn trong phần mềm soạn thảo văn bản hoặc nhờ đến các website kiểm tra ngữ pháp như: Grammarly, Grammar Check và Grammar Book…

– Bước 4: Nhờ người khác đọc bài viết của mình. Hãy nhờ một người có kỹ năng viết tốt để nhận xét một cách khách quan, nhìn thấy những lỗi sai mà bản thân không thể tự nhận ra. Khi kỹ năng viết đã khá tốt, sinh viên có thể học và làm việc theo nhóm hoặc xin thực tập tại các văn phòng luật sư để thực hành soạn các văn bản pháp lý, hợp đồng, vận dụng các thuật ngữ chuyên ngành.

2.5. Phương pháp và lộ trình học hiệu quả từ vựng tiếng Anh

Sinh viên cần luyện tập nghiêm ngặt cách học từ vựng sau đây:

Bước 2: Dùng từ điển điện tử để nghe cách phát âm của một từ vựng 30 lần. Sau đó tự phát âm lại 50 lần từ đó. Như vậy, sinh viên có thể vừa nhớ được từ, vừa hiểu nghĩa, vừa biết cách phát âm. Cách làm này sẽ có những tác động tích cực đến kỹ năng nghe và nói.

CHÚ THÍCH

[1] Quyết định số 1938/TCHC-ĐHL ngày 30/10/2012 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh về chuẩn đầu ra ngoại ngữ.

[2] Quyết định số 1110/QĐ-ĐHL ngày 16/9/2010 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh về chuẩn trình độ tiếng Anh theo chương trình TOEIC cho sinh viên hệ chính quy thuộc các Khóa tuyển sinh từ năm 2009.

[3] Quyết định số 108/QĐ-ĐHL ngày 14/01/2016 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh về việc quy định và áp dụng chuẩn trình độ tiếng Anh theo chương trình TOEIC cho sinh viên hệ chính quy ngành Quản trị – Luật khóa 40 (Khóa học 2015 – 2020).

[4] Quyết định số 2993/QĐ-ĐHL ngày 22/12/2016 của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh về việc quy định và áp dụng chuẩn trình độ tiếng Anh cho sinh viên hệ chính quy ngành Ngôn ngữ Anh từ khóa 41 trở đi.

[5] Tổng hợp danh sách sinh viên Khóa 38 và Quản trị – Luật khóa 37 nộp chứng chỉ ngoại ngữ, cập nhật đến hết 26/07/2017.

[6] Theo thống kê, hiện nay có khoảng 1,5 tỷ người nói tiếng Anh trên khắp thế giới và con số này ngày càng tăng lên. Tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi và là ngôn ngữ quốc tế nhưng lại không thay thế các ngôn ngữ khác. Thay vào đó, nó có chức năng hỗ trợ các ngôn ngữ khác.

[7] Benny Lewis, TED Talk on Rapid Language.Hacking,. https://www.youtube.com/watch?v=HZqUeWshwMs, truy cập ngày 06/01/2018.

[8] Sinh viên học theo dạng này thường không chú trọng đến ngữ pháp và từ vựng mặc dù đây là những kiến thức đóng vai trò nền tảng nhằm cải thiện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết một cách vững vàng và nhanh chóng nhất.

[9] Sinh viên có thể thực hành ban đầu với clip “Why I must come out” – Tedtalk, https://www.ted.com/talks/geena_rocero_why_i_must_come_out – Truy cập ngày 06/01/2018.

[10] Sinh viên có thể tham khảo chương trình dạy phát âm theo link này: https://www.youtube.com/watch?v=84c0rUgtBzA. – Kênh này có rất nhiều bài dạy và hướng dẫn cách phát âm chuẩn, chính xác và mở rộng vốn từ vựng mỗi ngày.

[11] Sid Efromovich, 5 Techniques to speak any foreign language,.https://www.youtube.com/watch?v=-WLHr1_EVtQ&t=23s, truy cập ngày 06/01/2018.

[12] Chẳng hạn, khi muốn diễn đạt bằng tiếng Anh câu: “Đối với tôi, vượt qua kỳ thi TOEIC là điều quan trọng nhất”. Sinh viên có thể viết: “Passing the TOEIC test is the most important thing to me”. Đây là một câu đúng ngữ pháp, nhưng lại khá bình thường. Sinh viên có thể viết hay hơn: “Passing the TOEIC test is the most essential stuff for me”. Để trau chuốt thành câu hay hơn nữa, sinh viên phải biết sử dụng thành ngữ “be at the top of one’s agenda” để thay thế cho cụm từ “the most essential stuff for somebody”. Do đó, câu trên có thể viết rất hay thành: “Passing the TOEIC test is at the top of my agenda”.

[14] Benny Lewis, TEDx Talk on Rapid Langage.Hacking,.https://www.youtube.com/watch?v=HZqUeWshwMs&t=102s, truy cập ngày 06/01/2018.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Quyết định số 2993/QĐ-ĐHL ngày 22 tháng 12 năm 2016 về việc quy định và áp dụng chuẩn trình độ tiếng Anh cho sinh viên hệ chính quy ngành Ngôn ngữ Anh từ Khóa 41 trở đi [trans: Decision No.2993/ QD-DHKdated December 22, 2016 on the regulation and application of standard English for regular English students from course 41]

Quyết định số 108/QĐ-ĐHL ngày 14 tháng 01 năm 2016 về việc quy định và áp dụng chuẩn trình độ tiếng Anh theo chương trình TOEIC cho sinh viên hệ chính quy ngành Quản trị – Luật Khóa 40 (Khóa học 2015 – 2020) [trans: Decision No. 108 / QD-DHL dated January 14, 2016 on the regulation and application of TOEIC level standard for regular students of Management&Law course 40 (2015-2020)]

Quyết định số 1938/TCHC-ĐHL ngày 30 tháng 10 năm 2012 về chuẩn đầu ra ngoại ngữ [trans: Decision No. 1938/TCHC-DHL dated October 30, 2012 on the standard of foreign language output]

Quyết định số 1110/QĐ-ĐHL ngày 16 tháng 9 năm 2010 về việc quy định chuẩn trình độ tiếng Anh theo chương trình TOEIC cho sinh viên hệ chính quy thuộc các Khóa tuyển sinh từ năm 2009 [trans: Decision No. 1110/QD-DHL dated September 16, 2010 on setting English standard under the TOEIC program for full-time students under the enrollment courses from 2009]

Gordon W.Brown and Kent D.Kauffman, Legal Terminology (Sixth Edition), Publishing House Pearson, 2013

Benny Lewis, TED Talk on Rapid Language.Hacking,.https://www.youtube.com/watch?v=HZqUeWshwMs, access on 06/01/2018

Các Khóa Học Về Tiếng Anh Pháp Lý Tốt Nhất 2022

Luật sư và chuyên gia pháp lý khác sử dụng một hình thức độc đáo của tiếng Anh trong công việc của họ. Thường được gọi là “legalese ” hoặc “lawspeak, ” hình thức sử dụng thuật ngữ tiếng Anh và ngữ pháp mà không phải là phổ biến. Một số sinh viên có thể được hưởng lợi từ một khóa học dành riêng cho tiếng Anh pháp lý này.

Một khóa học tiếng Anh pháp lý là gì?

Một khóa học tiếng Anh pháp lý dạy phong cách của luật sư người Anh và sử dụng chuyên nghiệp quy phạm pháp luật trong các tài liệu bằng văn bản và các bài thuyết trình của tòa án. Nó cũng bao gồm việc soạn thảo văn bản tài liệu pháp lý.

Lợi ích của Tham gia một khóa học trong Pháp lý Anh là gì?

Tiếng Anh pháp lý là khác nhiều so với văn nói tiếng Anh. Cả hai người nói tiếng Anh bản ngữ và người nói tiếng Anh không bản địa có thể được hưởng lợi từ một khóa học tiếng Anh pháp lý sẽ dạy cho họ legalese này và giúp họ trong công việc pháp lý trong tương lai.

Làm thế nào Nhiêu để Đi một khóa học trong pháp tiếng Anh không?

Chi phí cho một khóa học tiếng Anh pháp lý sẽ khác nhau tùy thuộc vào quốc gia và các trường đại học mà trình bày chương trình.

Loại gì của Cải thiện nghiệp có thể Yêu với một khóa học trong pháp tiếng Anh không?

Một khóa học tiếng Anh pháp lý sẽ giúp các luật sư và chuyên gia pháp lý khác nắm bắt tốt hơn các giai điệu và từ vựng cho các văn bản quy phạm pháp luật. Điều này có thể cung cấp các cạnh chuyên nghiệp khi soạn thảo tài liệu bằng văn bản. Vì tiếng Anh là ngôn ngữ pháp lý trong Liên minh châu Âu, điều này mở ra cánh cửa để hành nghề luật sư trên toàn cầu.

Tại sao Tham dự một khóa học trực tuyến trong pháp luật tiếng Anh không?

Tiếng Anh là ngôn ngữ ưa thích dành cho công việc pháp lý ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Mỹ, Úc, Kenya, Nam Phi và châu Âu. Một khóa học tiếng Anh pháp lý cung cấp nền tảng ngôn ngữ cho một sự nghiệp pháp luật.

Nơi để Đi một khóa học trong pháp tiếng Anh không?

Nhiều trường cao đẳng và các trường đại học cung cấp độ pháp luật và các chương trình trước pháp luật ra một khóa học tiếng Anh pháp lý.

Làm thế nào để Áp dụng cho một khóa học tiếng Anh pháp lý?