Soạn Văn 8 Vnen Bài 17: Nhớ Rừng

Soạn văn 8 VNEN Bài 17: Nhớ rừng A. Hoạt động khởi động

(trang 3, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

– Đọc diễn cảm đoạn thơ trên.

– Hình dung về hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật ta trong đoạn thơ.

-Trong đoạn thơ, tác giả mang đến cho người đọc hình dung hoàn cảnh của con hổ bị nhốt trong vườn bách thú, với tâm trạng tiếc nuối, buồn phiền và cũng đầy căm tức, phẫn uất trước thực tại.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. (trang 3, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc văn bản: Nhớ rừng

1. (trang 6, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu văn bản

a. Nối số thứ tự ở cột A với nội dung phù hợp ở cột B để có được ý chính của từng đoạn trong bài thơ Nhớ rừng:

1

Giấc mộng về một thuở hào hùng, dũng mãnh, tự do ở chốn rừng thiêng.

2

Tâm trạng căm ghét, khinh thường của con hổ với cảnh vườn bách thú.

3

Tâm trạng uất hận, ngao ngán, chán ghét cuộc sống phẳng lặng, tù túng của con hổ.

4

Nỗi thất vọng, uất hận, tiếc nuối quá khứ oanh liệt.

5

Nỗi hoài niệm về cảnh núi rừng hùng vĩ gắn với vẻ đẹp và sức mạnh oai hùng của chúa sơn lâm.

Lan: Đoạn 1 và đoạn 4 đã miêu tả rất ấn tượng cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt.

Hoa: Ở đoạn 2 và đoạn 3, cảnh núi rừng hùng vĩ được tác giả miêu tả ấn tượng hơn.

Mai: Cả hai cảnh tượng này đều được tác giả miêu tả rất ấn tượng, đặc biệt là biện pháp đối lập đã làm nên nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của bài thơ.

Em đồng ý với ý kiến nào? Hãy phân tích cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh , giọng điệu trong các câu thơ để chứng minh cho lựa chọn của mình

c. Qua cảnh tượng vườn bách thú (hiện tại) và cảnh núi rừng đại ngàn (quá khứ), chỉ ra những tâm sự của con hổ ở vườn bách thú. Tâm sự ấy phản ánh điều gì ở xã hội Việt Nam đương thời?

d. Việc mượn “lời con hổ trong vườn bách thú” có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện niềm khao khát tự do mãnh liệt và lòng yêu nước kín đáo của nhà thơ?

a. Nối số thứ tự ở cột A với nội dung phù hợp ở cột B để có được ý chính của từng đoạn trong bài thơ Nhớ rừng:

1

Giấc mộng về một thuở hào hùng, dũng mãnh, tự do ở chốn rừng thiêng.

2

Tâm trạng căm ghét, khinh thường của con hổ với cảnh vườn bách thú.

3

Tâm trạng uất hận, ngao ngán, chán ghét cuộc sống phẳng lặng, tù túng của con hổ.

4

Nỗi thất vọng, uất hận, tiếc nuối quá khứ oanh liệt.

5

Nỗi hoài niệm về cảnh núi rừng hùng vĩ gắn với vẻ đẹp và sức mạnh oai hùng của chúa sơn lâm.

b. Em đồng ý với ý kiến của bạn Mai.

+ Cảnh tượng trong đoạn 1 và 4: cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt và tâm trạng ngao ngán, căm hờn của con hổ.

● Uất hận khi rơi vào tù hãm.

● Bị nhốt cùng bọn gấu dở hơi, cặp báo vô tư lự.

● Khinh loài người nhỏ bé ngạo mạn.

● Những cảnh sửa sang tầm thường, giả dối.

● Nhớ về cảnh đại ngàn cao cả, âm u.

→ Căm hờn sự tù túng, khinh ghét kẻ tầm thường. Muốn vượt thoát tù hãm bằng nỗi nhớ thời đại ngàn.

+ Cảnh tượng trong đoạn 2 và 3: miêu tả vẻ đẹp của núi rừng làm bật lên vẻ oai phong, lẫm liệt của vị chúa tể:

● Con hổ đầy quyền uy, sức mạnh, tham vọng trước đại ngàn.

● Nỗi nhớ về thời oanh liệt, huy hoàng.

⇒ Sự tiếc nuối những ngày huy hoàng trong quá khứ của vị chúa tể.

⇒ Đặc sắc về hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu:

– Về từ ngữ:

● Diễn tả vẻ đẹp, tầm vóc của đại ngàn bằng những từ: bóng cả, cây già, giang sơn.

● Sử dụng những động từ mạnh thể hiện sự oai hùng của chúa tể: thét, quắc, hét, ghét.

● Sử dụng từ cảm thán (than ôi), câu hỏi tu từ: gợi nhắc lại quá khứ oai hùng, sự tiếc nuối những ngày tự do.

– Về hình ảnh:

● Sức mạnh của con hổ được diễn tả bằng hình ảnh: mắt thần đã quắc, lượn tấm thân như sóng cuốn nhịp nhàng, uống ánh trăng tan, ngắm giang sơn, giấc ngủ tưng bừng.

● Hình ảnh núi rừng từ đêm, mưa,nắng, hoàng hôn, bình minh đẹp lộng lẫy, bí hiểm.

-Về giọng điệu: đanh thép, hào sảng tái hiện lại thời oanh liệt, tráng ca của chúa sơn lâm khi còn tự do.

+ Biện pháp đối lập sâu sắc cảnh tượng núi rừng với cảnh vườn bách thú:

→ Tâm sự của con hổ ẩn dụ cho tâm trạng của người dân mất nước luôn cảm thấy căm hờn, tủi nhục, chán ngán với hiện tại, họ nhớ tiếc thời oanh liệt, vàng son của cha ông.

c. Qua cảnh tượng vườn bách thú (hiện tại) và cảnh núi rừng đại ngàn (quá khứ), ta có những tâm sự của con hổ ở vườn bách thú:

– Chán nản, khinh ghét “bọn gấu dở hơi”, với “cặp báo chuồng bên vô tư lự”, chán nản khi phải chịu ngang bầy với chúng.

– U uất, bất lực trước cảnh giam hãm tù túng, những cảnh “tầm thường giả dối”, những con người “ngạo mạn ngẩn ngơ” ở vườn bách thú.

– Nhớ, nuối tiếc ngậm ngùi về một thời oanh liệt, hào hùng. Khi thì dằn vặt, khi lại thiết tha, khao khát trở lại những năm tháng tươi đẹp xưa.

⇒ Tâm sự ấy của con hổ cũng chính là tâm trạng của nhà thơ cùng những người dân Việt Nam mất nước lúc bấy giờ. Trước cảnh nô lệ đầy tù túng, ngột ngạt, không có tự do, họ chán chường và bất lực. Mặc dù bất hòa sâu sắc với xã hội và khao khát tự do, nhưng họ cũng không thể làm gì trước thực tại ấy, chỉ biết nhớ tiếc một “thời oanh liệt” của dân tộc đã qua đi.

d. Việc mượn “lời con hổ ở vườn bách thú” là thích hợp vì:

+ Thể hiện được thái độ ngao ngán với thực tại tù túng, tầm thường, giả dối.

+ Khao khát vượt thoát để được tự do, không thỏa hiệp với hiện tại.

+ Hình ảnh con hổ bị nhốt trong vườn bách thú cũng là biểu tượng của sự giam cầm, mất tự do, thể hiện sự sa cơ, chiến bại, mang tâm sự uất hận.

+ Mượn lời con hổ để tránh sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân.

– Việc mượn lời của con hổ còn giúp tác giả thể hiện được tâm trạng, khát vọng tự do thầm kín của mình.

3. (trang 7, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu về câu nghi vấn

a. Đọc lại bài thơ Nhớ rừng và chỉ ra những câu nghi vấn trong bài thơ. Dấu hiệu nào về mặt hình thức cho biết đó là câu nghi vấn?

b. Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu:

Vẻ nghi ngại hiện ra sắc mặt, con bé hóm hỉnh hỏi mẹ một cách thiết tha: – Sáng ngày người ta đấm u có đau lắm không? Chị Dậu khẽ gạt nước mắt: – Không đau con ạ ! – Thế làm sao u cứ khóc mãi mà không ăn khoai? Hay là u thương chúng con đói quá?

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

(1) Gạch chân những câu nghi vấn trong đoạn trích trên.

(2) Chỉ ra các từ nghi vấn trong những câu đó.

(3) Các câu nghi vấn trong đoạn trích trên được dùng với mục đích gì?

c. Theo em, câu nghi vấn được dùng để làm gì? Những từ ngữ nào thường được dùng trong câu nghi vấn.

a. Đọc lại bài thơ Nhớ rừng và chỉ ra những câu nghi vấn trong bài thơ:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan? Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới? Đâu những bình minh cây xanh nắng gội, Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng? Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt, Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật? – Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Dấu hiệu về mặt hình thức cho biết đó là câu nghi vấn:

– Kết thúc câu bằng dấu chấm hỏi (?)

– Có chứa những từ để hỏi như: nào đâu, đâu

b. Đọc đoạn trích

(1) Những câu nghi vấn trong đoạn trích:

– Sáng ngày người ta đấm u có đau lắm không?

– Thế làm sao u cứ khóc mãi mà không ăn khoai?

– Hay là u thương chúng con đói quá?

(2) Các từ nghi vấn trong câu:

– không

– sao

– Hay

(3) Các câu nghi vấn trên được dùng để hỏi.

c. Kết luận

● Câu nghi vấn được dùng với chức năng chính là để hỏi.

● Những từ ngữ thường được dùng trong câu nghi vấn: (ai, gì, nào, sao, tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, à, ư, hả, chứ, (có)….không, (đã)…chưa,…) hoặc có từ hay (nối các vế có quan hệ lựa chọn).

4. (trang 7, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu về viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh

a. Đọc văn bản thuyết minh sau và thực hiện yêu cầu:

Thế giới đang đúng trước nguy cơ thiếu nước sạch nghiêm trọng. Nước ngọt chỉ chiếm 3% tổng lượng nước trên trái đất. Lượng nước ít ỏi ấy đang ngày càng bị ô nhiễm bởi các chất thải công nghiệp. Ở các nước thứ ba, hơn một tỉ người phải uống nước bị ô nhiễm. Đến năm 2025, 2/3 dân số thế giới sẽ thiếu nước.

(Theo Hoa học trò)

(1) Đoạn văn trên được triển khai theo cách nào? Khoanh tròn chữ cái trước phương án đúng:

A. Diễn dịch

B.Quy nạp

C. Song hành

D. Móc xích

c. Theo em, khi viết một đoạn văn thuyết minh, cần xác định và sắp xếp ý như thế nào?

a. Đọc văn bản thuyết minh sau và thực hiện yêu cầu:

(1) A. Diễn dịch

b. Viết đoạn văn thuyết minh (thuyết minh về bưởi Đoan Hùng):

Bưởi Đoan Hùng được gọi theo tên huyện Đoan Hùng – một huyện cực Bắc của tỉnh Phú Thọ. Có thể, người ta thấy giống bưởi này được trồng ở nhiều nơi khác, nhưng chỉ có ở Đoan Hùng, với những đặc điểm thổ nhưỡng riêng, mới có được hương vị đặc trưng. Bưởi Đoan Hùng có quả hình cầu dẹt, chín màu vàng sáng, cùi mỏng, múi ráo, tôm mọng nước, màu trắng ngà, ăn ngọt mát, mùi thơm đặc trưng. Đến một số xã của huyện Đoan Hùng, bạn sẽ được biết đến một số giống bưởi như: bưởi Bằng Luân, quả to, dáng đẹp, vỏ vàng xanh; bưởi Lã Hoàng tròn dẹt, hình bánh xe ăn mát ngon; bưởi Sửu Chí Đám, quả vừa, xinh xắn, vỏ vàng rộm, da hơi nhăn; … Hiện nay, bưởi đặc sản Đoan Hùng đã được bảo hộ tên gọi xuất xứ và được Nhà nước bảo hộ vô thời hạn, hương vị riêng biệt của nó được rất nhiều người biết đến và yêu thích.

c. Khi viết một đoạn văn thuyết minh, cần xác định và sắp xếp ý như sau:

+ Các ý trong đoạn văn nên sắp xếp theo trình tự cấu tạo của sự vật, trình tự nhận thức ( từ tổng thể đến bộ phận, từ ngoài vào trong, từ xa đến gần), trình tự diễn biến sự việc trong thời gian trước sau hay theo trình tự chính phụ (cái chính nói trước, cái phụ nói sau).

C. Hoạt động luyện tập

1. (trang 8, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc bài thơ Ông đồ

b. Sự đối lập trên gợi cho người đọc cảm xúc gì về nhân vật ông đồ và tâm sự của nhà thơ?

c. Chỉ ra những điểm đặc sắc trong nghệ thuật của bài thơ (các biện pháp tu từ, thể thơ, tả cảnh, tả tình,…)

a. Hoàn thiện bảng:

Không gian

Phố đông người qua

⇒ Khung cảnh đông vui, náo nức khi xuân về

Không gian vắng lặng

Thời gian

Mùa xuân với hoa đào nở

Mùa xuân

Tình cảnh của ông đồ

Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc ngợi khen tài

⇒ Ông đồ được mọi người trọng vọng, ngưỡng mộ tài năng

Ông đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay

⇒ Ông đồ đã bị mọi người lãng quên

Tâm trạng của ông đồ

Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay

⇒ Tâm trạng đầy đắc ý vì được trọng vọng, ông mang hết tài năng của mình ra hiến cho cuộc đời

Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu

⇒ tâm trạng bẽ bàng, sầu tủi.

Lá vàng rơi trên giấy Ngoài giời mưa bụi bay

⇒ Tâm trạng cô đơn, tàn tạ, buồn bã, tủi phận.

b. – Tác dụng của sự đối lập: Gợi ra trong người đọc nhiều suy ngẫm cùng cảm xúc xót thương, thương cảm cho tình cảnh của ông đồ. Sự thương cảm, xót xa của tác giả không chỉ dành cho ông đồ mà còn dành cho lớp người cũ bị quên lãng. Đó cũng chính là sự hòa niệm những giá trị tinh thần đẹp truyền thống bị mai một.

– Tâm sự của nhà thơ được bộc lộ một cách kín đáo và gián tiếp thông qua hai câu cuối bài:

Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?

Tác giả bộc lộ trực tiếp tâm trạng, sự xót thương của mình. Câu hỏi tu từ được đặt ra nhưng không phải để hỏi, nó như một lời tiếng than nhằm bộc lộ niềm tiếc thương, day dứt hết sức chân thành của tác giả trước sự suy vi của Nho học đương thời.

c. Những điểm đặc sắc trong nghệ thuật của bài thơ:

– Tác giả dựng cảnh tương phản:

+ Ban đầu cảnh cho chữ đông vui tấp nập.

+ Càng về sau cảnh buồn bã, lạnh nhạt, hiu quạnh.

+ Một bên nét chữ như rồng bay phượng múa.

+ Một bên giấy đỏ buồn, mực sầu, cảnh hiu quạnh.

– Cái kết đầu cuối tương ứng:

+ Vẫn là cảnh ngày tết, không gian mùa xuân có hoa đào nở.

+ Ông đồ mờ nhạt dần, cuối cùng thì không thấy nữa.

+ “ông đồ xưa” không còn tồn tại nữa.

– Tác giả tái hiện lại những hoài niệm về thời “vàng son xưa cũ” của một thế hệ nhà Nho đẹp nhưng dần phai mờ.

– Ngôn ngữ bình dị, trong sáng nhưng hàm súc, đầy dư vị.

→Tác giả tái hiện được vẻ đẹp của cảnh cho chữ, hình tượng ông đồ xưa với bàn tay tài hoa- giá trị tinh thần truyền thống đẹp- đang dần mai một trong đời sống. Sự nuối tiếc, hoài cổ cảnh cũ người xưa.

2. (trang 10, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về câu nghi vấn

Chơi trò chơi

3. (trang 10, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh

a. Viết đoạn Mở bài và Kết bài cho đề văn: “Giới thiệu trường em”.

b. Chọn và thực hiện một trong hai nhiệm vụ sau:

– Viết một đoạn văn thuyết minh khoảng 5 – 6 câu giới thiệu những thành công của Thế Lữ trong bài thơ Nhớ rừng về một trong hai phương diện: nội dung, nghệ thuật.

– Viết đoạn văn thuyết minh khoảng 7 – 10 câu theo cách diễn dịch giới thiệu về bố cục của bài thơ Ông đồ.

a. Viết đoạn văn:

Mở bài: Ngôi trường nơi em đang theo học là ngôi trường nhỏ của một huyện miền núi. Trường được thành lập từ năm 1964 cho tới nay vẫn luôn là niềm tự hào của biết bao thế hệ học trò.

Kết bài: Ngôi trường luôn là ngôi nhà yêu quý thứ hai của em, nơi đó gắn với biết bao kỉ niệm buồn vui của tuổi học trò. Là nơi cho em học hỏi được nhiều điều mới lạ và lý thú, mở ra trước mắt em những chân trời mới. Em hy vọng sẽ góp một phần nhỏ sự cố gắng của mình làm đẹp thêm cho ngôi trường này.

b. Chọn nhiệm vụ: Viết đoạn văn thuyết minh khoảng 7 – 10 câu theo cách diễn dịch giới thiệu về bố cục của bài thơ Ông đồ.

Học sinh tự viết đoạn văn, dựa vào bố cục của bài thơ Ông đồ như sau:

Bài thơ được chia làm 3 phần:

– Phần 1 (hai khổ thơ đầu): hình ảnh ông đồ có tài có tâm được mọi người chú ý.

– Phần 2 (hai khổ 3, 4): tâm trạng của ông đồ khi dần rơi vào quên lãng.

– Phần 3 (khổ thơ cuối): Sự tiếc nuối, cảm thương cho lớp người xưa cũ của tác giả.

D. Hoạt động vận dụng

1. (trang 10, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đóng vai con hổ trong bài thơ Nhớ rừng và thuật lại tâm trạng tiếc nuối quá khứ.

Cuộc đời thật đáng buồn biết mấy! Ta là một là chúa tể của sơn lâm, là vị vua của nơi rùng già oai linh, hùng vĩ. Thế mà giờ đây, ta chỉ còn là một con hổ đang bị giam cầm trong vườn bách thú để làm món “đồ chơi” cho bọn người nhỏ bé, ngạo mạn, ngẩn ngơ ngắm nhìn. Những năm tháng hào hùng, oanh liệt giữa đại ngàn còn đâu? Thật nhớ nhung những tháng ngày đó xiết bao! Nhớ nơi núi rừng đại ngàn thâm nghiêm, bí ẩn với bóng cả, cây già, âm thanh của gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi! Nhớ chốn thảo hoa không tên, không tuổi ấy, ta chính là chúa tể của cả muôn loài! Những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn, ta lặng ngắm giang sơn của ta đổi mới. Những khi bình minh cây xanh nắng gội chan hòa, ta thức dậy giữa rộn rã tiếng chim ca. Và khi mặt trời khuất bóng, màn đêm buông xuống, ta sẽ chiếm lấy riêng phần bí mật của rừng đêm. Đáng tiếc thay, quá khứ ấy có huy hoàng nay chỉ còn có thể thấy trong mộng tưởng.

2. (trang 10, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Từ tình cảnh và tâm trạng của con hổ trong bài thơ cũng như của người dân Việt Nam đầu thế kỉ XX, em có suy nghĩ gì về cuộc sống hòa bình tự do ngày nay (trình bày bằng một đoạn văn khoảng ½ trang).

Từ tình cảnh và tâm trạng của con hổ trong bài thơ cũng như của người dân Việt Nam đầu thế kỉ XX, em nhận thấy cuộc sống hòa bình tự do ngày nay mà chúng ta đang có được thực sự rất quý giá. Lịch sử đất nước đã chứng kiến hàng nghìn năm chống giặc ngoại xâm. Thế hệ cha ông ta đã ngã xuống để đất nước được hòa bình, độc lập, chúng ta được sống trong những điều kiện tốt nhất, đề trẻ em được bình yên khôn lớn và vui vẻ cắp sách tới trường, nhân dân được yên ấm xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, hưng thịnh. Vì vậy, là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường, mỗi chúng ta cần ý thức được sự đáng quý của nền hòa bình, tư do này, và cố gắng xây dựng một xã hội tốt đẹp, tươi sáng hơn. Xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, chính là sự tri ân đáng trân trọng nhất gửi đến thế hệ cha anh kiên cường của dân tộc.

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

2. (trang 10, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Hiện nay, tình trạng săn bắt thú rừng quý hiếm (trong đó có loài hổ) đang ở mức báo động. Đặt 2 – 3 câu nghi vấn và tìm các phương án trả lời ngằn ngăn chặn tình trạng đó.

+ Kể tên một số loại thú quý hiếm đang bị săn bắt ở mức báo động?

Khỉ đuôi dài Côn Đảo, voi, hươu vàng, bò xám, …

+Tại sao tình trạng săn bắt thú rừng quý hiếm đang ở mức báo động?

Do giá trị lớn mà những thú rừng quý hiếm này mang lại cho con người.

+Có những giải pháp nào giúp ngăn chặn tình trạng săn bắt thú quý hiếm hiện nay?

Để ngăn chặn tình trạng săn bắt thú quý hiếm hiện nay, chúng ta có thể thực hiện một số giải pháp như: xử lí nghiêm và răn đe hiệu quả những đối tượng vi phạm, nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục cho cộng đồng về việc bảo vệ động vật hoang dã,…

Soạn Văn 8 Bài Nhớ Rừng

Soạn văn 8 bài Nhớ rừng thuộc: Bài 18 SGK ngữ văn 8

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 7 SGK Ngữ văn 8, tập 2):

Bài thơ được tác giả ngắt thành 5 đoạn, hãy cho biết nội dung mỗi đoạn. Trả lời:

– Đoạn 1: Cảnh ngộ bi kịch – bị tù hãm, bị biến thành thứ đồ chơi của đám người nhỏ bé mà ngạo mạn, ngang bầy với “bọn gấu dở hơi”, “cặp báo (…) vô tư lự’ và tâm trạng uất hận, ngao ngán đành buông xuôi bất lực của con hổ.

– Đoạn 2 và đoạn 3: Nỗi nhung nhớ, niềm khao khát tự do mãnh liệt qua hoài niệm về cảnh núi rừng đại ngàn dữ dội, kỳ vĩ tương xứng với vẻ đẹp oai hùng, sức mạnh vô biên của vị chúa sơn lâm.

– Đoạn 3, ngoài nỗi nhớ, niềm khao khát tự do và sự kiêu hãnh còn có cả nỗi thất vọng, nuối tiếc với tiếng thở dài chua xót của chúa te rừng xanh: “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?”.

– Đoạn 4: Sự khinh ghét của con hổ về vẻ đơn điệu, tầm thường và giả dối của cảnh vườn Bách thú, nơi hoàn toàn đối lập với chốn núi rừng hùng vĩ…

– Đoạn 5: Niềm đau đớn và vô vọng của kẻ anh hùng sa cơ, đành thả hồn trong “giấc mộng ngàn to lớn” – giấc mộng về rừng thẳm, giấc mộng tự do.

Câu 2. Trả lời câu 2 (trang 7 SGK Ngữ văn 8, tập 2):

Trong bài thơ có hai cảnh được miêu tả đầy ấn tượng: cảnh vườn bách thú, nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4); cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ngày xưa (đoạn 2 và đoạn 3) a. Hãy phân tích từng cảnh tượng. b. Nhận xét việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2 và đoạn 3. Phân tích để làm rõ cái hay của hai đoạn thơ này. c. Qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng thiên nhiên nêu trên, tâm sự con hổ ở vườn bách thú được thể hiện như thế nào? Tâm sự ấy có gì gần gũi với tâm sự người dân Việt Nam đương thời? Trả lời:

Bài thơ có sự tương phản gay gắt giữa cảnh vườn Bách thú, nơi con hổ bị nhốt (đoạn 1 và đoạn 4) với cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ngày xưa (đoạn 2 và 3)

a) Cảnh nơi vườn Bách thú tù túng (cũi sắt), nhàm tẻ (những cảnh “không đời nào thay đổi”, nhân tạo (không phải là thế giới của tự nhiên), đều do bàn tay sửa sang, tỉa tót của con người nên hết sức tầm thường giả dối, “học đòi, bắt chước” đại ngàn hoang vu.

Đối lập với cảnh vườn bách thú tầm thường là cảnh núi rừng oai linh, hùng vĩ với vẻ thâm nghiêm bóng cả cây già chứa đựng nhiều bí ẩn: “hang tối”, “thảo hoa không tên tuổi”, “rừng sâu bí mật”, với những thanh âm dữ dội, man dại, “gió gào ngàn”, “nguồn hét núi”. Cảnh vật không chỉ oai hùng, linh nghiêm mà còn rực rỡ vô cùng, “những đêm vàng bên bờ suối”, “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, “những bình minh cây xanh nắng gội”, những chiều lênh lảng máu sau rừng”, tươi vui vô cùng: “tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng”.

⟹ Căm hờn sự tù túng, tầm thường. Vượt thoát tù hãm bằng nỗi nhớ đại ngàn.

b) Đoạn 2 và 3 là hai đoạn hay nhất của bài thơ miêu tả cảnh rừng núi đại ngàn phóng khoáng dữ dội mà thơ mộng và hình ảnh vị chúa rừng xanh uy nghi, lẫm liệt ngự trị trong vương quốc của nó.

– Ớ đây, tác giả đã sử dụng những động từ, tính từ mạnh đế dựng nên sự kỳ vĩ của núi rừng cũng như tư thế uy nghi của con mãnh thú: tung hoành, hống hách, gào, hét, thét, dữ dội, dõng dạc, cuộn, quắc. Cộng thêm là cách dùng đại từ xưng hô “Ta” đầy quyền uy và kiêu hãnh, góp phần tôn xưng tư thế của vị chúa sơn lâm.

– Hình ảnh phong phú, gợi cảm, đặc biệt giàu chất tạo hình.

Giữa cảnh núi rừng kì vĩ hiện lên (hình ảnh) oai linh của chúa sơn lâm. Trước khi để con hổ xuất hiện, tác giả dựng nên một không gian rộng lớn, một không khí oai hùng kinh sợ. Khi rừng xanh “thét gào khúc trường ca dữ dội, chúa sơn lâm xuất hiện. Trước hết là bàn chân, một bước chân dõng dạc đường hoàng và sau đó mới là tấm thân với chiều dài uốn lượn của tấm lưng “lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng vờn bóng âm thầm lả gai, cỏ sắc rất uyển chuyến, mềm mại – một vẻ đẹp của sự “tích trữ sức mạnh” (Vũ Quốc Phương). Cuối cùng, tác giả tập trung thế hiện ánh mắt “mắt thần khi đã quắc là khiến cho mọi vật đều im hơi”. Cách chọn lựa các chi tiết đã giúp tác giả thể hiện được vẻ đẹp vừa dũng mãnh vừa mềm mại của chúa sơn lâm. Nếu đoạn 2, Thế Lữ tập trung thế hiện các chi tiết của động tác con mãnh thú thì đoạn 3 ông dựng nên những chi tiết lấy từ sinh hoạt của ác thú, từ đó, người đọc cảm nhận đầy đủ vẻ đẹp và sức mạnh của chúa rừng xanh. Có bốn cảnh như một bộ tứ bình với những nét đậm rõ, những mảng màu lớn đậm: đêm trăng, ngày mưa, sáng xanh chiều đỏ. Đối diện với bốn khung cảnh của thiên nhiên vũ trụ, con hố đều ở thế chế ngự với tư thế chủ động. Có khi là thi sĩ mơ màng “đứng uống ánh trăng tan”, khi là nhà hiền triết “lặng ngắm giang sơn”, khi thành bậc đế vương có “chim ca” hầu “giấc ngủ”, khi lại là bạo chúa làm chủ bóng tối

Ở đoạn 3, sức mạnh của con mãnh thú không còn giới hạn chỉ trong xứ sở của mình mà mở ra phạm vi vũ trụ. Tập trung khắc họa uy quyền của vị chúa tể rừng xanh, vũ trụ là hình ảnh:

Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng

Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt

Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật

Hình ảnh rực rỡ và dễ sợ trong gam màu đỏ của máu lênh láng. Nhưng đây không phải màu của con thú rừng xấu số nào đó mà của mặt trời trong giây phút hấp hối. Ánh tà dương lúc mặt trời sắp tắt qua cảm nhận của con mãnh thú chính là sắc màu lênh láng đỏ. Nếu từ “chết” biến mặt trời thành một sinh thể đang hấp hối sau cuộc đọ sức ghê gớm thì từ “mảnh” đã nâng cao vị thế chúa sơn lâm. Mặt trời cũng chỉ là “mánh” mà thôi, thật nhỏ bé! Bàn chân ngạo nghễ của con thú như đã dẫm đạp lên cả bầu trời và cái bóng cúa nó như bao trùm cả vũ trụ. Thế Lữ, với hình ảnh đã nâng con mãnh thú này lên tầm vóc vũ trụ với bút pháp cường điệu.

– Giọng điệu rất phong phú: khi hào hùng sôi nối mà đĩnh đạc (Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa… Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi), khi than thở nuối tiếc mà xót xa, mà chất vấn. Giọng điệu đó phù hợp tâm trạng con hổ từ đỉnh cao huy hoàng của sự hồi tưởng, hố sực tỉnh cảnh ngộ tù hãm.

c. Với việc tạo dựng hai cảnh tượng đối lập như đã nêu trên, Thế Lữ đã thể hiện thành công tâm sự con hố ở vuờn bách thú. Đó là nỗi bất hòa, chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt.

Trước hết đây là tâm trạng của nhân vật lãng mạn: khát khao vươn tới cái cao cả, phi thường, không chấp nhận cái tầm thường, vô nghĩa. Khao khát ấy là một cách thức khẳng định cái “tôi”, khẳng định cá tính. Với khao khát đó, con người lãng mạn mang tâm trạng bất hòa với thực tại, bởi thực tại chỉ là tầm thường bó buộc, giam hãm, đối lập với ước mơ, sự tự do, cái cao cá.

Hơn thế, có ý kiến cho rằng tâm sự con hổ ở đây có bóng dáng xa gần với tâm trạng người dân Việt Nam mất nước lúc bấy giờ. Họ cùng sống trong cảnh nô lệ “bị nhục nhằn tù hãm”, cùng “ngậm một khối căm hờn trong cũi sắt”, cùng tiếc nhớ khôn nguôi “thời oanh liệt” với những trang sử vẻ vang của cha ông.

Câu 3. Trả lời câu 3 (trang 7 SGK Ngữ văn 8, tập 2):

– Con hổ có một vẻ đẹp oai hùng, lại được coi là chúa sơn lâm, huy hoàng đầy hống hách ớ chốn đại ngàn sâu thẳm, trong vũ trụ rộng lớn, nay bị giam hãm trong cũi sắt là biếu tượng rất đắt về anh hùng chiến bại mang tâm sự u uất. U uất vì tù túng, mà phải chấp nhận cái tẻ nhạt, tầm thường.

– Cảnh rừng khoáng đạt, hùng vĩ – giang sơn của chúa sơn lâm – là biểu tượng của thế giới rộng lớn, tự do và cao cả.

– Mượn lời con hổ để tránh sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân.

Việc mượn lời con hổ cũng là cách để tác giả dễ dàng thể hiện tâm trạng, khát vọng tự do thầm kín của mình.

Câu 4*. Trả lời câu 4 (trang 7 SGK Ngữ văn 8, tập 2):

Nhà phê bình Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ: “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng, ta tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường. Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được” (Thi nhân Việt Nam, Sđd). Em hiểu như thế nào về ý kiến đó? Qua bài thơ, hãy chứng minh. Trả lời:

– Khi nói “tưởng chừng thấy những chữ bị xô đẩy, bị dằn vặt bởi một sức mạnh phi thường” là Hoài Thanh muốn khẳng định mạch cảm xúc sôi trào mãnh liệt, chi phối mạnh mẽ việc sử dụng câu chữ trong bài thơ của Thế Lữ. Đây chính là một trong những đặc điểm tiêu biểu của bút pháp lãng mạn và cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sức lôi cuốn mạnh mẽ của tác phẩm.

– Khi nói “Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được” tức là nhà phê bình khẳng định tài năng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt một cách chủ động, linh hoạt, phong phú, chính xác và đặc biệt hiệu quả để có thể biểu đạt tốt nhất nội dung bài thơ.

– “Đội quân Việt ngữ” có thể bao gồm nhiều yếu tố như: từ ngữ (ở đây là những từ ngữ diễn tả mạnh mẽ, đầy gợi cảm, giàu chất tạo hình như khi đặc tả cảnh sơn lâm hùng vĩ, gây cho người đọc ấn tượng đậm nét về vẻ đẹp vừa phi thường tráng lệ, vừa thơ mộng), các cấu trúc ngữ pháp, nhịp điệu và nhạc điệu phong phú, giàu sức biểu cảm (âm điệu dồi dào, cách ngắt nhịp linh hoạt)

Xem Video bài học trên YouTube

Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

Soạn Bài Lớp 8: Nhớ Rừng

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 8 học kỳ 2

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

1. Tác giả

Thế Lữ (1907-1989), tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ, sinh tại ấp Thái Hà, Hà Nội. Quê quán: làng Phù Đổng, huyện Tiên Du (nay là Tiên Sơn), tỉnh Bắc Ninh.

Thuở nhỏ, Thế Lữ học ở Hải Phòng. Năm 1929, học xong bậc Thành chung, ông vào học Trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông Dương, sau đó một năm (1930), ông bỏ học. Năm 1932, Thế Lữ bắt đầu tham gia Tự lực văn đoàn và là một trong những cây bút chủ lực của báo Phong hoá, Ngày nay. Năm 1937, ông bắt đầu hoạt động sân khấu, làm diễn viên, đạo diễn, lưu diễn tại các tỉnh miền Trung… và có hoài bão xây dựng nền sân khấu dân tộc. Cách mạng tháng Tám, ông hào hứng chào đón cách mạng, và lên Việt Bắc tham gia kháng chiến.

Tác giả đã xuất bản: Mấy vần thơ (thơ, 1935); Vàng và máu (truyện, 1934); Bên đường Thiên lôi (truyện, 1936); Lê Phong phóng viên (truyện, 1937); Mai Hương và Lê Phong (truyện, 1937); Đòn hẹn (truyện, 1939); Gói thuốc lá (truyện, 1940); Gió trăng ngàn (truyện, 1941); Trại Bồ Tùng Linh (truyện, 1941); Dương Quý Phi (truyện, 1942); Thoa (truyện, 1942); Truyện tình của anh Mai (truyện vừa, 1953); Tay đại bợm (truyện vừa, 1953). Ngoài ra Thế Lữ viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư ông (kịch, 1946); Đoàn biệt động (1947); Đợi chờ (1949); Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952); Thế Lữ cũng là dịch giả của nhiều vở kịch của Sếch-xpia, Gơ-tơ, Sin-le và Pô-gô-đin,…

2. Tác phẩm

Thế Lữ là một trong những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Bài Nhớ rừng đã gắn liền với tên tuổi của ông. Nói đến Thế Lữ không thể không nói đến Nhớ rừng.

Sự xuất hiện của phong trào Thơ mới những năm đầu thế kỉ XX đã tạo ra sự bùng nổ mãnh liệt, một cuộc cách mạng thật sự trong địa hạt văn chương, nhất là thơ. Những thể thơ cũ (tiêu biểu từ thơ Đường luật) với khuôn khổ cứng nhắc, niêm luật gò bó đã không dung chứa nổi, không còn phù hợp với những tư tưởng, cảm xúc dào dạt, mới mẻ, lúc nào cũng chỉ chực tung phá. Đổi mới thể thơ, đổi mới hình thức câu thơ, các nhà thơ mới đồng thời đưa vào đó những dòng cảm xúc dạt dào, mạnh mẽ, tựa như những dòng nham thạnh bỏng đang tuôn chảy tràn trề. Nhớ rừng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho trào lưu mới này.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài thơ được ngắt làm năm đoạn. Nội dung của đoạn thứ nhất và đoạn thứ tư nói lên niềm uất hận của con hổ khi bị làm một thứ đồ chơi ngang với lũ gấu dở hơi, và cảnh tầm thường, tù túng, nhân tạo ở vườn bách thú. Đoạn thứ hai và đoạn thứ ba hồi tưởng cảnh tượng tự do, phóng khoáng nơi rừng núi thời oanh liệt. Đoạn thứ năm là hoài niệm nơi rừng núi xưa kia bằng giấc mộng ngàn.

2. a) Cảnh tượng ở vườn bách thú là cảnh tù túng. Đoạn thơ thứ nhất thể hiện tâm trạng chán ngán, căm hờn, uất ức của con hổ. Tuy bị nhốt trong cũi sắt, tuy bị biến thành một thứ đồ chơi lạ mắt, bị xếp cùng với bọn gấu dở hơi, bọn báo vô tư lự, nhưng chúa sơn lâm vẫn khinh lũ người ngạo mạn, ngẩn ngơ. Nó căm hờn sự tù túng, nó khinh ghét những kẻ tầm thường. Nó vượt khỏi sự tù hãm bằng trí tưởng tượng, sống mãi trong tình thương nỗi nhớ rừng.

Đoạn thơ thứ tư thể hiện cảnh vườn bách thú dưới con mắt của con hổ, đó là cảnh tượng nhân tạo, tầm thường, giả dối, nhàm chán “không đời nào thay đổi”.

Cảnh vườn bách thú tầm thường, giả dối, không thay đổi và tù túng đó được con hổ nhìn nhận gợi nên không khí xã hội đương thời. Thái độ ngao ngán, chán ghét cao độ với cảnh vườn bách thú cũng là thái độ của nhiều người, nhất là thanh niên thời đó với xã hội.

Đối lập với cảnh vườn bách thú là cảnh rừng nơi con hổ ngự trị ngày xưa. Rừng núi đại ngàn, cái gì cũng lớn lao, cao cả, phi thường: bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi. Giữa nơi hoang vu, cao cả, âm u, chúa sơn lâm hiện ra đầy oai phong, lẫm liệt:

Với khi thét khúc trường ca dữ dội Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc

Những câu thơ này đã diễn tả tinh tế vẻ đẹp vừa dũng mãnh, uy nghi, vừa mềm mại uyển chuyển của chúa sơn lâm.Những câu thơ của đoạn 3 đã miêu tả bốn cảnh đẹp của núi rừng và nổi bật trên cảnh vừa lộng lẫy, dữ dội, vừa hùng tráng, thơ mộng là hình ảnh con hổ chúa tể, như một vị đế vương đầy quyền uy, đầy tham vọng. Nó uống ánh trăng tan, nó nghe chim ca, nó ngắm giang san, nó muốn chiếm lấy bí mật của vũ trụ. Đúng là một thời oanh liệt, thời huy hoàng.

b) Việc sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu trong đoạn thơ thứ hai và thứ ba rất đặc biệt. Một loạt những từ chỉ sự cao cả, lớn lao, hoành tráng của núi rừng: Bóng cả, cây già, gào, hét, thét. Trong khi đó, hình ảnh con hổ thì khoan thai, chậm rãi, được so sánh với sóng cuộn nhịp nhàng. Diễn tả sức mạnh tuyệt đối của con hổ không phải bằng tiếng hổ gầm, mà là ánh mắt dữ dội:

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc Là khiến cho mọi vật đều im hơi

Sang khổ thơ sau, hàng loạt những điệp ngữ như nhắc đi nhắc lại một cung bậc nuối tiếc, hoài niệm: Nào đâu những, đâu những, đâu những, đâu những… Sau mỗi câu này là một câu hỏi. Và kết thúc là câu hỏi thứ năm, vừa hỏi, nhưng cũng như là khẳng định: thời oanh liệt nay chỉ còn trong quá khứ, trong hồi tưởng mà thôi. Những hình ảnh đêm trăng, mưa, nắng, hoàng hôn vừa đẹp lộng lẫy, vừa dữ dội đã góp phần dựng lại một thời oanh liệt của chúa sơn lâm khi còn tự do.

c) Làm nổi bật sự tương phản, đối lập gay gắt giữa cảnh tượng vườn bách thú, nơi cầm tù, nơi tầm thường, trì đọng với nơi đại ngàn tự do, phóng khoáng, hoành tráng, bí hiểm… nhà thơ đã thể hiện tâm trạng con hổ chán ngán, khinh ghét, căm thù cũi sắt, căm thù cảnh tầm thường, đơn điệu. Và luôn luôn hoài niệm, luôn hướng về thời oanh liệt ngày xưa. Tâm sự ấy là tâm trạng lãng mạn, thích những gì phi thường, phóng khoáng, đồng thời gần gũi với tâm trạng người dân mất nước khi đó. Họ cảm thấy “nhục nhằn tù hãm”, họ nhớ tiếc thời oanh liệt của cha ông với chiến công chống giặc ngoại xâm. Tâm sự của con hổ cũng chính là tâm sự của họ. Chính vì thế mà người ta say sưa đón nhận bài thơ.

3. Tác giả mượn lời con hổ ở vườn bách thú là rất thích hợp. Nhờ đó vừa thể hiện được thái độ chán ngán với thực tại tù túng, tầm thường, giả dối, vừa thể hiện được khát vọng tự do, khát vọng đạt tới sự cao cả, phi thường. Bản thân con hổ bị nhốt trong cũi là một biểu tượng của sự giam cầm, mất tự do, đồng thời thể hiện sự sa cơ, chiến bại, mang tâm sự u uất, không bao giờ thoả hiệp với thực tại. Một điều nữa, mượn lời con hổ, tác giả dễ dàng tránh được sự kiểm duyệt ngặt nghèo của thực dân khi đó. Dù sao, bài thơ vẫn khơi gợi lòng khao khát tự do và yêu nước thầm kín của những người đương thời.

4*. Nhà phê bình Hoài Thanh đã đã ca ngợi Thế Lữ như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được. Điều này nói lên nghệ thuật sử dụng từ ngữ điêu luyện, đạt đến độ chính xác cao. Chỉ riêng về âm thanh rừng núi, Thế Lữ cho ta nghe thấy tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, tiếng thét khúc trường ca dữ dội. Bên trên đã nói đến những điệp từ tạo ra sự nuối tiếc quá khứ oanh liệt (Nào đâu, đâu những…) Cũng có thể thấy câu thơ Thế Lữ miêu tả dáng hiên ngang, hùng dũng, mềm mại của chúa sơn lâm:

Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc

Mấy câu thơ trên có sự nhịp nhàng, cân đối, gợi hình ảnh con hổ khoan thai, mềm mại, với bước chân chậm rãi thật tài tình.

Hay một đoạn khác tả cảnh tầm thường của con người bắt chước, học đòi thiên nhiên:

Những cảnh sửa sang, tầm thường giả dối Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng Dải nước đen giả suối, chẳng thông dòng

Câu thơ: ” Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” được viết theo cách ngắt nhịp đều nhau, có cấu tạo chủ vị giống nhau – điều đó như mô phỏng sự đơn điệu, tầm thường của cảnh vật.

Được sáng tác trong hoàn cảnh đất nước còn đang bị kẻ thù đô hộ, giày xéo, bản thân tác giả cũng không tránh khỏi thân phận của một người dân nô lệ nhưng Nhớ rừng không rơi vào giọng điệu uỷ mị, yếu đuối. Ngược lại, nó đã thể hiện một sức sống mạnh mẽ, tiềm ẩn, chỉ có ở những con người, những dân tộc không bao giờ biết cúi đầu, luôn khao khát hướng đến tự do.

III. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

Điều đặc biệt đáng chú ý trước hết trong bài thơ này là lời đề từ: “Lời con hổ ở vườn bách thú”. Lời đề từ này có tính định hướng cho việc thể hiện giọng đọc, nhằm thể hiện “lời” của con hổ – chúa tể sơn lâm từng oai linh gầm thét, nay bị nhốt trong “vườn bách thú” chật hẹp. Nghịch cảnh thật là trớ trêu.

Điều đáng chú ý thứ hai là: Thế Lữ đã mượn lời con hổ để thể hiện nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát tự do mãnh liệt. Phảng phất trong bài thơ có nỗi đau thầm kín của Thế Lữ và cũng là của những người thanh niên thuở ấy trước cảnh nước mất nhà tan.

Do đó, có thể:

Đọc bài thơ bằng giọng trầm, âm điệu tha thiết mạnh mẽ, thể hiện nỗi đau âm thầm, lòng kiêu hãnh và khát vọng tự do mãnh liệt của con hổ.

Đọc nhấn mạnh các từ ngữ:

Soạn Văn 8 Ngắn Nhất Bài: Nhớ Rừng

Bài tập 1: sgk ngữ văn 8 tập 2 trang 7

Bài thơ được tác giả ngắt thành 5 đoạn,hãy cho biết nội dung của mỗi đoạn.

Bài tập 2: sgk ngữ văn 8 tập 2 trang 7

Hai cảnh được miêu tả đầy ấn tượng, cảnh vườn bách thú nơi con hổ bị nhốt( đoạn 1,4), cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những ngày xưa( đoạn 2,3)

a, hãy phân tích từng cảnh tượng

b, nhận xét sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu các câu thơ trong đoạn 2,3. Phân tích để làm rõ cái hay của hai đoạn thơ này

c, qua sự đối lập sâu sắc giữa hai cảnh tượng nêu trên, tâm sự con hổ ở vườn bách thú được biểu hiện như thế nào? Tâm sự ấy có gì gần gũi với tâm sự người dân Việt Nam đương thời?

Bài tập 3: sgk ngữ văn 8 tập 2 trang 7

Hãy giải thích vì sao tác giả mượn “lời con hổ ở vườn bách thú”? Việc mượn lời đó có tác dụng thế nào trong việc thể hiện nội dung cảm xúc nhà thơ?

Bài tập 4: trang 7 sgk lớp 8 tập 2

Nhà phê bình Hoài Thanh có nhận xét về thơ Thế Lữ: “Đọc đôi bài, nhất là bài Nhớ rừng,…. cưỡng được” (Thi nhân Việt Nam, sđd). Em hiểu như thế nào về ý kiến đó? Qua bài thơ, hãy chứng minh.

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Phân tích hai khổ khổ đầu của bài thơ Nhớ rừng

Bài tập 2: Viết đoạn văn ngắn cảm nhận khổ 3 bài thơ Nhớ rừng

Bài tập 1: Tác giả ngắt thành 5 đoạn

Đoạn 1: miêu tả cảnh xung quanh cũi sắt, nỗi căm hờn của con hổ khi bị nhốt và xung quanh những con vật mà hổ xem là tầm thường

Đoạn 2: con hổ nhớ lại những ngày còn trên núi, ngày mà bản thân còn làm chúa tể, ngự trị đầy uy quyền trên rừng xanh

Đoạn 3: niềm tiếc nhớ khôn nguôi của con hổ về những ngày tháng oanh liệt đầy oai hùng

Đoạn 4: . Con Hổ chê cười vẻ giả dối được tạo ra, xem thường sự nhân tạo bình thường mà dám đòi như cảnh hùng vĩ nơi núi rừng

Đoạn 5: Lời nhắn gửi và khát khao chốn núi rừng hùng vĩ

Bài tập 2:

a, Phân tích

Không gian, cảnh sắc

o chật hẹp tù túng

o Giả dối, buồn tẻ, cảnh không đời nào thay đổi, dòng nước đen, chẳng thông dòng, hoa chăm, lối phẳng, vừng lá hiền lành, không bí hiểm và chẳng hề có âm thanh

Hành động và tâm trạng

o Nằm dài, khinh thường lũ gấu, cặp báo. Từ chúa tể rừng xanh bị hạ thấp ngang hàng với những con vật mà hổ xem thường. Tâm trạng căm hận, đau đớn, buồn bã, căm ghét vẻ giả dối tầm thường.

Không gian, cảnh sắc

o Bao la, rộng lớn, âm u và bí hiểm

o Cảnh sắc hùng vĩ, thơ mộng, âm thanh vang vọng

Hành động và tâm trạng

o Bước dõng dạc, uy nghiêm. Thể hiện được oai nghiêm của một bậc đế vương. Tâm trạng hả hê, sảng khoái khi làm chúa tể bước đến đâu mọi vật đều im hơi lặng tiếng đến đấy.

b, nhận xét

Sử dụng nhiều từ Hán Việt thể hiện sự uy nghiêm, hùng dũng, đường bệ của một vị chúa tể

nhịp thơ đa dạng phong phú

sử dụng nhiều điệp từ.

hình ảnh phong phú: tiếng gió gào ngàn, thét núi, trường ca dữ dội, sóng cuộn nhịp nhàng,….

c, tâm sự của con hổ

Nỗi căm hận, phẫn uất khi bị nhốt, bị xem thường, khinh thường với khung cảnh giả tạo đầy chán ghét, nhớ khung cảnh oai hùng khi xưa

Người dân Việt Nam bị giam hãm tù đày làm nô lệ, thân phận người bị mất nước đắng cay, tủi nhục và niềm nhớ nhung khung cảnh hào hùng khi xưa của ông cha ta, đồng thời cũng nung nấu ý chí vực dậy đất nước trở lại thời kỳ đầy hào hùng giống con hổ quay lại núi rừng

Bài tập 3:

o Tác giả mượn lời con hổ cũng là để thể hiện khí phách của một trang nam tử trong hoàn cảnh đất nước đang lầm than, đau khổ cũng giống như con hổ đang bị giam cầm trong không gian chật hẹp của vườn thú.

o Bộc lộ cảm xúc của tác giả một cách mạnh mẽ, mãnh liệt, đầy ấn tượng khiến cho người đọc tò mò, hứng thú

o Khơi dậy trong lòng những người con mất nước một nỗi nhục, thức tỉnh ý chí chiến đấu trong họ, để họ vùng lên, vượt thoát khỏi cảnh cầm tù.

o Tinh thần yêu nước thầm kín, tha thiết của Thế Lữ

Bài tập 4: Chứng minh:

Qua nhận định ấy, Hoài Thanh muốn khẳng định những giá trị về nghệ thuật của bài thơ Nhớ rừng. Những giá trị nghệ thuật chính là một điểm đặc sắc tạo ra khoái cảm thẩm mĩ cho người đọc khi thưởng thức bài thơ này của Thế Lữ.

Người đọc hình dung được một khung cảnh hùng vĩ, những âm thanh dữ dội của đại ngàn: cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già; tiếng gió ngàn, giọng nguồn thét núi; thét khúc trường ca dữ dội, đêm vàng bên bờ suối….

Nhịp điệu của bài thơ được tạo ra bởi những điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc: Với tiếng…; Nào đâu…; Nơi ta…

Giọng điệu bài thơ được tạo nên bởi những động từ mạnh, những biện pháp đối trong các câu thơ sóng đôi…

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Phân tích hai khổ khổ đầu của bài thơ Nhớ rừng

Thế Lữ đã bước đến thi đàn và có với nhiều đóng góp quan trọng, góp phần mang lại thành công cho phong trào thơ Mới. Tác phẩm tiêu biểu cho nhà thơ Thế Lữ phải kể đến bài thơ Nhớ rừng. Mượn lời của một con hổ bi giam giữ trong lòng sắt, tác giả đã thể hiện được tâm sự, niềm u uất của một thế hệ bị giam cầm nô lệ với khát khao tự do mãnh liệt. Hai khổ thơ đầu đã nói lên tâm trạng của con hổ trong thực tại và hững mộng tưởng về quá khứ tung hoành, tự do.

Mở đầu bài thơ là không gian chật hẹp, tù túng nơi con hổ đang bị giam giữ:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Tác giả sử dụng động từ “gậm” thể hiện những căm hờn, uất hận của con hổ như chất chứa, “khối căm hờn” ấy tưởng chừng như ngày một lớn lên trong không gian chật hẹp là chiếc cũi sắt. Bởi vì vậy mà dường như con hổ đành bất lực, nằm dài trong cũi sắt nhìn ngày tháng dần trôi qua. Cũi sắt ấy là thực tại, là hoàn cảnh sống tù túng mà con hổ đang phải chịu đựng. Chỉ với đôi dòng thơ, tác giả đã tái hiện trọn vẹn tâm trạng đáng thương, đầy u uất của con hổ.

Càng tù túng bao nhiêu thì nỗi căm hận trong nó càng lớn dần lên bấy nhiêu. Bởi vậy mà “khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ”. Lũ người ở đây là những con người đã bắt giam chú hổ, đẩy chú vào chốn giam cầm, mất tự do ày. Vì sự tham lam, vì mục đích ích kỉ của con người đã khiến con vật giờ đây phải sống trong nỗi buồn u uất. Chú hổ đã thể hiện rõ thái độ của mình với loài người là “khinh”, “giễu”, coi thường hành động phi lí của chúng. Câu thơ đã thể hiện tinh thần ngạo nghễ, dù bị giam cầm nhưng nhất định không chịu khuất phục hay cúi đầu. Đặt câu thơ vào hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ, ta càng thêm thấu hiểu nỗi đau mất tự do ấy. Quân xâm lăng vì sự tham lam, tham vọng bá chủ của mình đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống tù túng, đất nước không còn tự do.

Và trong hoàn cảnh tù đấy đó, con hổ dường như đau đớn hơn khi phải “làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi”, phải sống với những loài vật khác chấp nhận số phận và sống “vô tư lự”. Vì nhận thức được thời thế, được hoàn cảnh của mình nên con hổ càng thêm tủi nhục trong khi những loài gấu, báo không hề căm tức, uất hận mà vẫn vô tư sống trong giam hãm. Đó là nét tâm trạng điển hình đầy bi kịch của chúa sơn lâm trước thực tại cuộc sống của mình. Và trong nỗi u uất đó, chú hổ nhớ về quá khứ vàng son trong những tháng ngày tự do tự tại của mình:

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành, hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn thét núi

Những hồi ức tươi đẹp như trở về trong tâm trí của chúa sơn lâm khi xưa. Chú được “tung hoành”, “hống hách”, được sống giữa thiên nhiên rộng lớn với rừng xanh, gió ngàn và tiếng thét vang động núi đồi. Các động từ “gào, hét, thét” đặc tả khúc trường ca dữ dội của rừng núi, suối ngàn thiêng liêng, hùng tráng. Bước chân của chú được tới muôn nơi luôn dõng dạc, đường hoàng. Tất cả tạo nên sự dũng mãnh, uy nghi của loài vật đứng đầu rừng xanh, khiến muôn loài đều run sợ:

Ta biết ta chúa tế cả muôn loài,

Giữa chốn hào hoa không tên, không tuổi

Và chính nỗi nhớ về quá khứ được tung hoành, làm bá chủ giữa thiên nhiên càng cho thấy khát khao sống, khát vọng tự do như ngọn lửa luôn cháy sáng trong lòng của vị chúa sơn lâm.

Qua hai đoạn thơ, tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, khắc họa hình ảnh con hổ với thực tại giam cầm đầy uất hận và những khát vọng về cuộc sống tự do khi xưa. Đó cũng là tâm trạng của những người dân mất nước, mong ước về cuộc sống hòa bình, tự do giữa đất trời, bởi “Trên đời vạn nghìn điều cay đắng – Cay đắng chi bằng mất tự do”.

Bài tập 2: Viết đoạn văn ngắn cảm nhận khổ 3 bài thơ Nhớ rừng

Bài tập 1: 5 đoạn

Bài tập 2:

a, Phân tích Đoạn 1,4:

Không gian, cảnh sắc: chật hẹp tù túng, giả dối, buồn tẻ, cảnh không đời nào thay đổi, dòng nước đen, chẳng thông dòng, hoa chăm, lối phẳng, vừng lá hiền lành, không bí hiểm và chẳng hề có âm thanh

Hành động và tâm trạng: Nằm dài, khinh thường lũ gấu, cặp báo. Tâm trạng căm hận, đau đớn, buồn bã, căm ghét vẻ giả dối tầm thường.

Phân tích đoạn 2,3:

Không gian, cảnh sắc: Bao la, rộng lớn, âm u và bí hiểm, hùng vĩ, thơ mộng, âm thanh vang vọng.

c, Tâm sự của con hổ

Bài tập 3: Tác giả mượn lời con hổ vì:

– Cảm xúc của tác giả được thể hiện một cách mạnh mẽ, mãnh liệt, đầy ấn tượng khiến cho người đọc tò mò, hứng thú

Bài tập 4: Chứng minh:

Nhịp điệu của bài thơ được tạo ra bởi những điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc.

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Phân tích hai khổ khổ đầu của bài thơ Nhớ rừng

Thế Lữ đã bước đến thi đàn và có với nhiều đóng góp quan trọng, góp phần mang lại thành công cho phong trào thơ Mới. Tác phẩm tiêu biểu cho nhà thơ Thế Lữ phải kể đến bài thơ Nhớ rừng. Mượn lời của một con hổ bi giam giữ trong lòng sắt, tác giả đã thể hiện được tâm sự, niềm u uất của một thế hệ bị giam cầm nô lệ với khát khao tự do mãnh liệt. Hai khổ thơ đầu đã nói lên tâm trạng của con hổ trong thực tại và hững mộng tưởng về quá khứ tung hoành, tự do.

Mở đầu bài thơ là không gian chật hẹp, tù túng nơi con hổ đang bị giam giữ:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Tác giả sử dụng động từ “gậm” thể hiện những căm hờn, uất hận của con hổ như chất chứa, “khối căm hờn” ấy tưởng chừng như ngày một lớn lên trong không gian chật hẹp là chiếc cũi sắt. Bởi vì vậy mà dường như con hổ đành bất lực, nằm dài trong cũi sắt nhìn ngày tháng dần trôi qua. Cũi sắt ấy là thực tại, là hoàn cảnh sống tù túng mà con hổ đang phải chịu đựng. Chỉ với đôi dòng thơ, tác giả đã tái hiện trọn vẹn tâm trạng đáng thương, đầy u uất của con hổ.

Càng tù túng bao nhiêu thì nỗi căm hận trong nó càng lớn dần lên bấy nhiêu. Bởi vậy mà “khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ”. Lũ người ở đây là những con người đã bắt giam chú hổ, đẩy chú vào chốn giam cầm, mất tự do ày. Vì sự tham lam, vì mục đích ích kỉ của con người đã khiến con vật giờ đây phải sống trong nỗi buồn u uất. Chú hổ đã thể hiện rõ thái độ của mình với loài người là “khinh”, “giễu”, coi thường hành động phi lí của chúng. Câu thơ đã thể hiện tinh thần ngạo nghễ, dù bị giam cầm nhưng nhất định không chịu khuất phục hay cúi đầu. Đặt câu thơ vào hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ, ta càng thêm thấu hiểu nỗi đau mất tự do ấy. Quân xâm lăng vì sự tham lam, tham vọng bá chủ của mình đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống tù túng, đất nước không còn tự do.

Và trong hoàn cảnh tù đấy đó, con hổ dường như đau đớn hơn khi phải “làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi”, phải sống với những loài vật khác chấp nhận số phận và sống “vô tư lự”. Vì nhận thức được thời thế, được hoàn cảnh của mình nên con hổ càng thêm tủi nhục trong khi những loài gấu, báo không hề căm tức, uất hận mà vẫn vô tư sống trong giam hãm. Đó là nét tâm trạng điển hình đầy bi kịch của chúa sơn lâm trước thực tại cuộc sống của mình. Và trong nỗi u uất đó, chú hổ nhớ về quá khứ vàng son trong những tháng ngày tự do tự tại của mình:

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành, hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn thét núi

Những hồi ức tươi đẹp như trở về trong tâm trí của chúa sơn lâm khi xưa. Chú được “tung hoành”, “hống hách”, được sống giữa thiên nhiên rộng lớn với rừng xanh, gió ngàn và tiếng thét vang động núi đồi. Các động từ “gào, hét, thét” đặc tả khúc trường ca dữ dội của rừng núi, suối ngàn thiêng liêng, hùng tráng. Bước chân của chú được tới muôn nơi luôn dõng dạc, đường hoàng. Tất cả tạo nên sự dũng mãnh, uy nghi của loài vật đứng đầu rừng xanh, khiến muôn loài đều run sợ:

Ta biết ta chúa tế cả muôn loài,

Giữa chốn hào hoa không tên, không tuổi

Và chính nỗi nhớ về quá khứ được tung hoành, làm bá chủ giữa thiên nhiên càng cho thấy khát khao sống, khát vọng tự do như ngọn lửa luôn cháy sáng trong lòng của vị chúa sơn lâm.

Qua hai đoạn thơ, tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, khắc họa hình ảnh con hổ với thực tại giam cầm đầy uất hận và những khát vọng về cuộc sống tự do khi xưa. Đó cũng là tâm trạng của những người dân mất nước, mong ước về cuộc sống hòa bình, tự do giữa đất trời, bởi “Trên đời vạn nghìn điều cay đắng – Cay đắng chi bằng mất tự do”.

Bài tập 2: Viết đoạn văn ngắn cảm nhận khổ 3 bài thơ Nhớ rừng

Bài tập 1:

1. Đoạn 1 ( cảnh xung quanh cũi sắt, nỗi căm hờn của con hổ khi bị nhốt)

2. Đoạn 2 (hổ nhớ lại những ngày còn trên núi, ngày làm chúa tể.)

3. Đoạn 3 (tiếc nhớ khôn nguôi của con hổ về những ngày tháng oanh liệt )

4. Đoạn 4 (chê cười vẻ giả dối được tạo ra, xem thường sự nhân tạo bình thường)

5. Đoạn 5 (Lời nhắn gửi và khát khao chốn núi rừng hùng vĩ)

Bài tập 2:

a, Đoạn 1,4:

b, Các từ Hán Việt: uy nghiêm, hùng dũng, nhịp thơ đa dạng phong phú, sử dụng nhiều điệp từ, hình ảnh phong phú.

c, Tâm sự của con hổ: Căm hận, phẫn uất khi bị nhốt, bị xem thường, khinh thường với khung cảnh giả tạo đầy chán ghét, nhớ cảnh oai hùng khi xưa.

– Người dân Việt Nam bị giam hãm tù đày, thân phận người bị mất nước đắng cay, tủi nhục và niềm nhớ nhung khung cảnh hào hùng khi xưa của ông cha ta, nung nấu ý chí vực dậy đất nước.

Bài tập 3: Tác giả mượn lời con hổ vì:

– Không muốn để mình xuất hiện một cách trực tiếp.

– Bộc lộ cảm xúc một cách thầm kín nhưng khách quan.

Tác dụng: Thể hiện khí phách của một trang nam tử trong hoàn cảnh đất nước đang lầm than, đau khổ, thể hiện cảm xúc một cách mạnh mẽ, đầy ấn tượng. Thức tỉnh ý chí chiến đấu trong họ, để họ vùng lên, vượt thoát khỏi cảnh cầm tù. Tinh thần yêu nước thầm kín, tha thiết của Thế Lữ

Bài tập 4: Chứng minh: Khung cảnh hùng vĩ, những âm thanh dữ dội của đại ngàn cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già; tiếng gió ngàn, giọng nguồn thét núi; thét khúc trường ca dữ dội, đêm vàng bên bờ suối…. Nhịp điệu của bài thơ được tạo ra bởi những điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc. Động từ mạnh, những biện pháp đối trong các câu thơ sóng đôi tạo giọng điệu bài thơ

Phần tham khảo mở rộng

Bài tập 1: Phân tích hai khổ khổ đầu của bài thơ Nhớ rừng

Thế Lữ đã bước đến thi đàn và có với nhiều đóng góp quan trọng, góp phần mang lại thành công cho phong trào thơ Mới. Tác phẩm tiêu biểu cho nhà thơ Thế Lữ phải kể đến bài thơ Nhớ rừng. Mượn lời của một con hổ bi giam giữ trong lòng sắt, tác giả đã thể hiện được tâm sự, niềm u uất của một thế hệ bị giam cầm nô lệ với khát khao tự do mãnh liệt. Hai khổ thơ đầu đã nói lên tâm trạng của con hổ trong thực tại và hững mộng tưởng về quá khứ tung hoành, tự do.

Mở đầu bài thơ là không gian chật hẹp, tù túng nơi con hổ đang bị giam giữ:

Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt

Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua

Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ

Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm

Tác giả sử dụng động từ “gậm” thể hiện những căm hờn, uất hận của con hổ như chất chứa, “khối căm hờn” ấy tưởng chừng như ngày một lớn lên trong không gian chật hẹp là chiếc cũi sắt. Bởi vì vậy mà dường như con hổ đành bất lực, nằm dài trong cũi sắt nhìn ngày tháng dần trôi qua. Cũi sắt ấy là thực tại, là hoàn cảnh sống tù túng mà con hổ đang phải chịu đựng. Chỉ với đôi dòng thơ, tác giả đã tái hiện trọn vẹn tâm trạng đáng thương, đầy u uất của con hổ.

Càng tù túng bao nhiêu thì nỗi căm hận trong nó càng lớn dần lên bấy nhiêu. Bởi vậy mà “khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ”. Lũ người ở đây là những con người đã bắt giam chú hổ, đẩy chú vào chốn giam cầm, mất tự do ày. Vì sự tham lam, vì mục đích ích kỉ của con người đã khiến con vật giờ đây phải sống trong nỗi buồn u uất. Chú hổ đã thể hiện rõ thái độ của mình với loài người là “khinh”, “giễu”, coi thường hành động phi lí của chúng. Câu thơ đã thể hiện tinh thần ngạo nghễ, dù bị giam cầm nhưng nhất định không chịu khuất phục hay cúi đầu. Đặt câu thơ vào hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ, ta càng thêm thấu hiểu nỗi đau mất tự do ấy. Quân xâm lăng vì sự tham lam, tham vọng bá chủ của mình đã đẩy nhân dân ta vào cảnh sống tù túng, đất nước không còn tự do.

Và trong hoàn cảnh tù đấy đó, con hổ dường như đau đớn hơn khi phải “làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi”, phải sống với những loài vật khác chấp nhận số phận và sống “vô tư lự”. Vì nhận thức được thời thế, được hoàn cảnh của mình nên con hổ càng thêm tủi nhục trong khi những loài gấu, báo không hề căm tức, uất hận mà vẫn vô tư sống trong giam hãm. Đó là nét tâm trạng điển hình đầy bi kịch của chúa sơn lâm trước thực tại cuộc sống của mình. Và trong nỗi u uất đó, chú hổ nhớ về quá khứ vàng son trong những tháng ngày tự do tự tại của mình:

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành, hống hách những ngày xưa

Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già

Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn thét núi

Những hồi ức tươi đẹp như trở về trong tâm trí của chúa sơn lâm khi xưa. Chú được “tung hoành”, “hống hách”, được sống giữa thiên nhiên rộng lớn với rừng xanh, gió ngàn và tiếng thét vang động núi đồi. Các động từ “gào, hét, thét” đặc tả khúc trường ca dữ dội của rừng núi, suối ngàn thiêng liêng, hùng tráng. Bước chân của chú được tới muôn nơi luôn dõng dạc, đường hoàng. Tất cả tạo nên sự dũng mãnh, uy nghi của loài vật đứng đầu rừng xanh, khiến muôn loài đều run sợ:

Ta biết ta chúa tế cả muôn loài,

Giữa chốn hào hoa không tên, không tuổi

Và chính nỗi nhớ về quá khứ được tung hoành, làm bá chủ giữa thiên nhiên càng cho thấy khát khao sống, khát vọng tự do như ngọn lửa luôn cháy sáng trong lòng của vị chúa sơn lâm.

Qua hai đoạn thơ, tác giả đã sử dụng nghệ thuật nhân hóa đặc sắc, khắc họa hình ảnh con hổ với thực tại giam cầm đầy uất hận và những khát vọng về cuộc sống tự do khi xưa. Đó cũng là tâm trạng của những người dân mất nước, mong ước về cuộc sống hòa bình, tự do giữa đất trời, bởi “Trên đời vạn nghìn điều cay đắng – Cay đắng chi bằng mất tự do”.

Bài tập 2: Viết đoạn văn ngắn cảm nhận khổ 3 bài thơ Nhớ rừng

Soạn Văn 8 Bài Nhớ Rừng (Thế Lữ)

Soạn bài Ngữ văn lớp 8 tập 2

Soạn Văn 8 bài Nhớ rừng (Thế Lữ) Soạn bài Nhớ rừng

Câu 1: Bài thơ chia làm 5 đoạn với nội dung mỗi đoạn:

– Đoạn 1 và đoạn 4: Nói lên niềm uất hận của con hổ khi bị làm một thứ đồ chơi ngang với lũ gấu dở hơi, và cảnh tầm thường, tù túng, nhân tạo giả dối ở vườn bách thú.

– Đoạn 2 và 3: Hồi tưởng cảnh tượng tự do, phóng khoáng nơi núi rừng thời oanh liệt.

– Đoạn 5: Hoài niệm nơi núi rừng khi xưa với giấc mộng ngàn.

Câu 2: a. – Cảnh tượng ở vườn bách thú là cảnh tượng rất tù túng, ngột ngạt.

+ Đoạn 1: Thể hiện tâm trạng chán ngán, căm hờn, uất ức của con hổ khi bị nhốt trong cũi sắt, bị biến thành thứ đồ chơi, bị xếp cùng bọn gấu dở hơi, cặp báo vô tư lự.

– Cảnh núi rừng hùng vĩ, nơi con hổ ngự trị những “ngày xưa”.

+ Đoạn 2+3: Miêu tả cảnh núi rừng đại ngàn, cái gì cũng lớn lao, cao cả, phi thường: Bóng cả, cây già, gió gào ngàn, nguồn hét núi. Chúa sơn lâm có vẻ đẹp vừa tinh tế vừa dũng mãnh, uy nghi, lại không kém phần mềm mại uyển chuyển.

b.

– Cảnh núi rừng hùng vĩ với “bóng cả cây già” đầy vẻ thâm nghiêm.

– Hùng tráng với âm thanh dữ dội “tiếng gió gài ngàn”, “giọng nguồn hét núi”.

– Sự hoang dã của chốn thảo hoang không tên không tuổi.

Tâm sự của con hổ là tâm trạng của người dân Việt Nam mất nước đang sống trong cảnh nộ lệ và tiếc nhớ khôn nguôi thời oanh liệt với những chiến công chống giặc ngoại xâm vẻ vang trong lịch sử dân tộc.

Câu 4:

Nhà phê bình Hoài Thanh đã ca ngợ Thế Lữ “như một viên tướng điều khiển đội quân Việt ngữ bằng những mệnh lệnh không thể cưỡng được”. Điều này nói lên nghệ thuật sử dụng từ điêu luyện, đạt đến độ chính xác cao:

– Chỉ riêng về âm thanh núi rừng Thế Lữ cho ta nghe thấy tiếng gió gào ngàn, giọng nguồn hét núi, tiếng thét khúc trường ca dữ dội.

– Điệp ngữ tạo ra sự tiếc nuối (nào đâu, đâu những, …)

– Câu thơ nhịp nhàng, cân đối khi miêu tả dáng điệu hùng dũng, mềm mại của con hổ.