Soạn Văn 9 Tập 1 Bài 1 Ngắn Nhất / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Bài Trả Bài Tập Làm Văn Số 1 Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1

Giải câu 1, 2, 3 trang 41, 42 SBT Ngữ Văn 9 tập 1. Văn bản trên có thể coi là một văn bản thuyết minh được không ? Vì sao ?

Đọc văn bản sau và làm các bài tập nêu ở dưới.

“Ở ngoại thành Nam Định, và dọc bờ sông Châu Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự. Nhưng ngon nhất vẫn là chuối làng chiêm trũng Đại Hoàng (Lí Nhân, Hà Nam).

Cây chuối ngự, theo các cụ kể ít ra đã có từ thời nhà Trần. Từ phủ Thiên Trường đến ngoại thành Nam Định, các làng xóm ở Hà Nam, nhiều vùng đất là quê hương, là thái ấp các vua quan nhà Trần. Nhân dân quý trọng những ông vua thương dân, đánh giặc giỏi, nên đã trồng loại sản vật quý giá để dâng vua : chuối ngự.

Trồng chuối cũng kì công, từ mùa xuân năm nay đến mùa xuân năm sau mới ra hoa kết trái. Khác với cây chuối ngự trâu, quả to, ăn nhạt, chuối ngự thóc (hay còn gọi là chuối ngự mít) là loại được chọn tiến vua. Qua mùa bão táp mưa sa, cây càng phải gìn giữ kĩ. Mỗi cây có một cột tre làm nơi nương tựa. Ngay cả việc chăm sóc, chuối ngự cũng cầu kì. Loài cây này “ăn” sạch, thực ăn của chúng là các loại bùn ao, nước gạo, dầu lạc, chứ không ưa các loại phân uế tạp.

Chuối ngự đậu quả, không để chín cây mà phải giấm rất kì công. Lò giấm vách đất, chứa được mươi buồng, đủ nhiệt độ cho chuối chín mà không nẫu.Mùa chuối chín, hương thơm toả đầy ắp nhà. Quả chuối ngự xinh xinh, bụ bẫm, cuống thanh thanh. Các cụ ngày xưa thường ví như “búp tay cô gái” kéo sợi dệt vải quê đồng chiêm, vỏ chuối vàng óng như lụa, bóc vỏ, ruột lộ ra liền. Quả chuối mềm nuột, màu vàng nhạt, cắn một miếng, lộ ra ruột màu vàng sậm, thơm nức. Cái ngọt đậm đà đầu lưỡi.

Mùa chuối ngự, ở chợ Rồng, chợ Viềng, màu vàng sáng rực chợ. Cái màu vàng làm say lòng Nguyễn Tuân khi thăm chợ Rồng : “Tơ chín vàng, chuối chín vàng. Màu hoa hoè nở rộ vào mỗi mùa nhập trường thi chữ Hán ngày xưa, cũng khó mà đọ được với vàng chuối, vàng tơ của chợ Rồng chói lọi. Cái màu vàng giãy nảy lên ấy, tưởng chỉ có được trong nghệ thuật và tranh màu”. Tơ, lụa, chuối, theo Nguyễn Tuân, làm cả chợ rực sáng lên như nhuộm tắm trong một cái ráng trời óng lộng cuối mùa thu.

Làng Đại Hoàng, đất của chuối ngự, cũng chính là làng quê của nhà văn Nam Cao. Nghe kể, thời đi dạy học, đi viết văn ở Hà thành, Nam Cao rất nhớ món chuối ngự làng mình. Ông đi khắp chợ, gặp chuối ngự là mua về, để thơm nức mới thưởng thức, như nhớ về rặng tre, vườn chuối thân thương”.

( Theo báo Nhân dân điện tử)

1. Văn bản trên có thể coi là một văn bản thuyết minh được không ? Vì sao ?

Trả lời:

Đặc điểm quan trọng nhất của văn thuyết minh là loại văn có nhiệm vụ cung cấp những tri thức khách quan về sự vật, giúp con người có được hiểu biết về sự vật một cách đúng đắn, đầy đủ. Như thế văn thuyết minh không thể hư cấu, bịa đặt, tưởng tượng hay suy luận ra mà cần trung thành với sự vật như nó vốn có. Căn cứ vào đặc điểm quan trọng nhât này, em có thể xem xét và kết luận được văn bản trên có phải là văn bản thuyết minh không.

2. Có thể đặt tên cho văn bản trên như thế nào ? Dựa vào nội dung văn bản này, hãy nêu một đề văn thuyết minh cho phù hợp.

Trả lời:

Văn bản trên có thể đặt nhiều tên khác nhau, chẳng hạn : Chuối ngự đồng chiêm, Chuối ngự Hà Nam, Chuối ngự quê Nam Cao,… Nội dung của văn bản trên phù hợp với đề văn sau : Thuyết minh về một loài cây của quê hương em, hoặc : Hãy thuyết minh về cây chuối của quê em.

3. Chỉ ra các yếu tố miêu tả được sử dụng trong văn bản đó.

Trả lời:

Trong văn bản, tác giả sử dụng khá nhiều câu văn miêu tả. Chẳng hạn đoạn văn sau đây : “Mùa chuối chín, hương thơm toả đầy ắp nhà. Quả chuối ngự xinh xinh, bụ bẫm, cuống thanh thanh. Các cụ ngày xưa thường ví như “búp tay cô gái” kéo sợi dệt vải quê đồng chiêm, vỏ chuối vàng óng như lụa, bóc vỏ, ruột lộ ra liền. Quả chuối mềm nuột, màu vàng nhạt, cắn một miếng, lộ ra ruột màu vàng sậm, thơm nức. Cái ngọt đậm đà đầu lưỡi.

Mùa chuối ngự, ở chợ Rồng, chợ Viềng, màu vàng sáng rực chợ. Cái màu vàng làm say lòng Nguyễn Tuân khi thăm chợ Rồng : “Tơ chín vàng, chuối chín vàng. Màu hoa hoè nở rộ vào mỗi mùa nhập trường thi chữ Hán ngày xưa, cũng khó mà đọ được với vàng chuối, vàng tơ của chợ Rồng chói lọi. Cái màu vàng giãy nảy lên ấy, tưởng chỉ có được trong nghệ thuật và tranh màu”. Tơ, lụa, chuối, theo Nguyễn Tuân, làm cả chợ rực sáng lên như nhuộm tắm trong một cái ráng trời óng lộng cuối mùa thu”.

chúng tôi

Soạn Bài: Ánh Trăng – Ngữ Văn 9 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Duy trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Ánh trăng được Nguyễn Duy viết vào năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi, hiện đại, nơi những người lính từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến tranh gian khổ mà nghĩa tình.

* Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ ngũ ngôn.

* Bố cục: Văn bản có thể được chia làm 3 phần:

Phần 1: 2 khổ thơ đầu: Vầng trăng quá khứ gắn bó với tuổi thơ

Phần 2: 2 khổ thơ tiếp: Vầng trăng hiện tại và sự bội bạc của con người trong cuộc sống hiện đại

Phần 3: 2 khổ cuối: Cảm xúc và suy ngẫm của tác giả trước vầng trăng.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bài thơ được bố cục theo trình tự từ quá khứ đến hiện tại.

Câu 2:

* Hình ảnh vầng trăng trong bài thơ mang nhiều tầng ý nghĩa:

Là vầng trăng của thiên nhiên, đất trời tươi đẹp, khoáng đạt

Trăng là biểu tượng cho những gì gắn bó với con người lúc gian khổ

Là tình cảm trong quá khứ, luôn hồn nhiên, tươi đẹp, sáng rọi khắp nhân gian

Trăng là phần trong sáng, tốt đẹp của con người, chiếu sáng những góc khuất mới nảy sinh khi con người sống trong nhà lầu, xe hơi, sống trong những ánh sáng của đèn điện, trong vật chất tiện nghi.

* Khổ thơ trong bài thơ thể hiện tập trung nhất ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng, chiều sâu tư tưởng mang tính triết lí của tác phẩm là khổ cuối cùng.

Câu 3:

* Nhận xét về kết cấu, giọng điệu của bài thơ:

Kết cấu bài thơ độc đáo, được phát triển theo trình tự thời gian. Từ quá khứ hồn nhiên, thân thiết với vầng trăng cho đến hiện tại, trong một thành phố, một cuộc sống đầy đủ tiện nghi, vầng trăng đã bị lãng quên, bị coi như người dưng qua đường. Nhờ mất điện mà con người gặp lại vầng trăng và giật mình về thái độ sống vô tình của mình, tự soi xét lại bản thân.

Giọng điệu của bài thơ tâm tình nhờ thể thơ 5 chữ, nhịp thơ tuôn chảy tự nhiên, nhịp nhàng theo nhịp kể, khi ngân nga, trầm lắng, suy tư.

Câu 4:

* Thời điểm ra đời của bài thơ: sau đại thắng mùa xuân vào năm 1975, người lính từ chiến khu trở về thành phố, họ có một cuộc sống trong thời hòa bình, phương tiện sống hiện đại hơn, khác xa với thời chiến tranh.

* Chủ đề của bài thơ: Nhắc về những năm tháng gian lao trong cuộc đời của người lính.

* Bài thơ Ánh trăng nằm trong mạch cảm xúc “Uống nước nhớ nguồn” gợi đạo lí thủy chung tình nghĩa. Đó cũng là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

5

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài: Bếp Lửa – Ngữ Văn 9 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Bằng Việt trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Bếp lửa được sáng tác vào năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học Luật ở nước ngoài. Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa, tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

* Thể thơ: tự do

* Bố cục: Bài thơ Bếp lửa có thể được chia làm 4 phần:

Phần 1: khổ 1: Hình ảnh bếp lửa và sự khơi nguồn cảm xúc

Phần 2: 4 khổ tiếp: Những kỉ niệm thời thơ ấu sống bên bà và hình ảnh người bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa

Phần 3: 2 khổ tiếp: Suy ngẫm của cháu về bếp lửa và người bà

Phần 4: khổ cuối: Niềm thương nhớ của người cháu với người bà khi đi xa.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bài thơ là lời của nhân vật người cháu nói về người bà, nói về tình yêu thương mà bà đã giành cho cháu trong những ngày tháng gian khổ.

* Bố cục của bài thơ ở mục trên.

Câu 2:

* Trong hồi tưởng của người cháu, rất nhiều những kỉ niệm về bà và tình bà cháu đã được gợi lại:

Nạn đói vào năm 1945, lúc đấy, người cháu mới lên 4 tuổi, năm đó đã trở thành bóng đêm ghê rợn ám ảnh người cháu cho đến tận bây giờ.

Rồi khi cha mẹ bận đi công tác, 8 năm người cháu ở cùng bà, được bà dạy cho học, dạy làm, được bà kể chuyện cho nghe, trao cho cháu cả tình yêu thương của một người mẹ, người cha, ngày ngày bà cặm cụi nhóm lửa nuôi lớn cháu.

Câu 3:

Hình ảnh bếp lửa xuất hiện xuyên suốt bài thơ và được nhắc tới 10 lần. Khi nhắc đến hình ảnh bếp lửa thì người cháu nhớ đến bà và ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa. Điều đó là do hình ảnh bếp lửa đã trở thành biểu tượng, bà và bếp lửa là hai mà như một, bà châm ngọn lửa, đó không chỉ là ngọn lửa củi, lửa rơm, mà đó còn là “ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”, ngọn lửa của tình yêu thương, ấp ủ.

Tác giả viết: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !”, đây là một hình ảnh giản dị ghi dấu tình bà cháu thiêng liêng, lưu giữ cả một tuổi thơ khổ cực gian khó nhưng tràn đầy tình yêu thương, ấm áp.

Câu 4:

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.

Ở hai câu thơ dưới, tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không nhắc lại “bếp lửa” là vì từ “ngọn lửa” mang tính khái quát cao, ngọn lửa mang tính biểu tượng. Đây không phải ngọn lửa để nấu nướng mà là ngọn lửa của tình yêu thương của người bà. Nó mang đến hơi ấm và tỏa sáng như bà đang trao tình cảm ấm áp cho người cháu.

Theo em, những câu thơ trên muốn nói tình yêu thương to lớn của người bà luôn tỏa sáng, ấm áp, không thể nào dập tắt được và truyền lại cho thế hệ mai sau.

Câu 5:

* Cảm nhận về tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ: tình cảm bà cháu trong bài thơ rất sâu nặng, cứ nhẹ nhàng, giản dị mà thấm thía, sâu xa. Tình cảm ấy như đã vượt qua chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian, neo đậu mãi trong tim người cháu. Tuổi thơ của cháu đã đi qua bao tháng năm đồng nghĩa với việc khoảng cách giữa cháu và bà cũng đã xa vời vợi nhưng cháu chẳng lúc nào quên nhớ về bà, nhớ về những kỉ niệm tuổi thơ bên bà. Có thể nói, tình yêu và lòng biết ơn đối với người bà của cháu cũng chính là tình yêu đối với quê hương, đất nước.

1.8

/

5

(

22

bình chọn

)

Soạn Văn 9 Tập 1 Chi Tiết

17 Tháng 09, 2019

Trong chương trình Ngữ văn lớp 9, các em sẽ được học gần 30 tác phẩm văn học trong suốt 2 học kì I và II. Phần lớn trong số đó đều là các tác phẩm thuộc trọng tâm ôn tập của các bài kiểm tra và đặc biệt là kì thi vào lớp 10.

Gợi ý soạn bài văn 9 tập 1: Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Đoạn trích Chị em Thúy Kiều nằm ở phần đầu của tác phẩm Truyện Kiều, từ câu 15 cho đến câu 38. Với bút pháp ước lệ tượng trưng, đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung của hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Đồng thời ca ngợi con người và cất lên tiếng nói dự cảm về kiếp người tài hoa, bạc mệnh.

Vẻ đẹp của Thúy Vân qua lời miêu tả của Nguyễn Du

Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

Đánh giá chung về vẻ đẹp của Thúy Vân chính là sự trang trọng như một cô khuê nữ đài các. Cụ thể, những nét đẹp của Thúy Vân đến từ khuôn mặt phúc hậu ( khuôn trăng đầy đặn) cùng đường nét hài hòa ( nét ngài nở nang). Không những có một nhan sắc xinh đẹp mà Thúy Vân còn hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng, ý nhị với lời ăn tiếng nói được Nguyễn Du miêu tả: Hoa cười ngọc thốt đoan trang. Quay lại với nhan sắc, Thúy Vân có được làn da và mái tóc dịu dàng, đến cả thiên nhiên, tạo vật như cũng cảm mến, ngưỡng mộ vẻ đẹp ấy.

Hai động từ “thua” và “nhường” giàu sức gợi tả. Nó không chỉ khẳng định vẻ đẹp chuẩn mực, hài hòa của Vân mà còn ngầm dự cảm về tương lai êm đềm, tươi thắm của người em gái. Khi soạn văn 9 tập 1 bài 1 – Chị em Thúy Kiều, học sinh phải làm nổi bật được dụng ý khéo léo của Nguyễn Du khi sử dụng cặp từ “thua” và “nhường” này khi miêu tả Thúy Vân. Để khi so sánh với cách dùng từ trong đoạn miêu tả Thúy Kiều sẽ làm nổi bật lên sự tương phản giữa hai chị em.

Còn nhan sắc của Thúy Kiều hiện lên rực rỡ và dẫu Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười, thì rõ ràng, Kiều đã nhỉnh hơn Vân một bậc:

So bề tài sắc lại là phần hơn

Tranh vẽ mô phỏng hình ảnh Thúy Kiều

Nguyễn Du đã khẳng định một cách chắc chắn ngay từ ban đầu rằng vẻ đẹp của Kiều không chỉ nằm gọn trong nhan sắc. Quả là như vậy. Nguyễn Du chỉ dùng đúng một câu thơ để miêu tả nhan sắc của Kiều: Làn thu thủy, nét xuân sơn. Thậm chí cũng không sử dụng những từ trực tiếp miêu tả hình dáng, đường nét khuôn mặt mà chỉ ước lệ tượng trưng bằng hình ảnh dòng nước mùa thu, núi mùa xuân. Nguyễn Du chỉ đặc tả đôi mắt Kiều, nhưng chỉ đôi mắt là quá đủ cho một người con gái đẹp. Kiều đẹp đến mức thiên nhiên cũng phải ghen tị. Đến đây, dự cảm về cuộc đời truân chuyên của Kiều đã được Nguyễn Du thể hiện rành mạch.

Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai

Không chỉ dừng lại ở vẻ đẹp nhan sắc mà tác giả còn chú ý khắc họa tài năng và tâm hồn của Kiều

Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

Cung thường lầu bậc ngũ âm,

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.

Những từ đặc tả như đủ mùi, lầu (làu làu), ăn đứt,.. đã khẳng định tài năng Kiều đã thuộc vào hàng hiếm có, vượt lên trên số đông tầm thường. Khúc nhạc Bạc mệnh vừa là minh chứng vừa một lần nữa khắc sâu dự cảm cuộc đời gập ghềnh, truân chuyên của Kiều.

Gợi ý soạn bài văn 9 tập 2: Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận)

Nếu như trước Cách mạng tháng 8, thơ Huy Cận giàu chất triết lí, thấm thía bao nỗi buồn, tràn ngập cái sầu nhân thế. Thì sau Cách mạng, những tác phẩm của ông lại dạt dào niềm vui, là bài ca phấn chấn về cuộc đời, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và yêu con người lao động. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá trong chương trình sgk ngữ văn 9 tập 1 là minh chứng rõ nét nhất cho sự thay đổi phong cách của Huy Cận trước và sau Cách mạng tháng 8.

Tám câu thơ đầu của bài thơ đã tái hiện lại khung cảnh ra khơi của đoàn thuyền. Đây là khúc ca đầy cảm hứng của những người dân làng chài. Khung cảnh hoàng hôn là thời điểm đoàn thuyền đánh cá ra khơi. Hình ảnh so sánh Mặt Trời với hòn lửa Mặt trời xuống biển như hòn lửa cùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa Sóng đã cài then, đêm sập cửa đã miêu tả hình ảnh người dân chài đầy hứng khởi trên phông nền thiên nhiên kì vĩ. Trên phông nền đó, hình ảnh con người xuất hiện với khí thế khỏe khoắn, phấn chấn của những người lao động.

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Tiếng hát lao động cất lên giữa một không gian bao la làm căng cánh buồm. Tiếng hát ấy làm nổi bật khí thế hồ hởi, thể hiện niềm mong ước của người đánh cá. Họ mong ước một chuyến ra khơi đánh bắt được thật nhiều hải sản. Tám câu thơ đầu đã vẽ nên một bức tranh khỏe khoắn, vui tươi, tràn ngập âm thanh và rực rỡ sắc màu của nét đẹp lao động.

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng.

Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!

Hình ảnh làng chài ven biển, bối cảnh và nơi khơi nguồn cảm hứng cho bài thơ Đoàn thuyền đánh cá

Phân tích 4 khổ tiếp theo: Khúc tráng ca về lao động

Thiên nhiên hiện lên giàu có và tươi đẹp còn con người hài hòa với bức tranh thiên nhiên ấy với khí thế của những con người lao động thời kì đổi mới, làm chủ cuộc đời.

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng,

Con thuyền vốn nhỏ bé trước biển trời bao la nhưng qua thơ Huy Cận, hình ảnh con thuyền đánh cá hiện lên kì vĩ, mang tầm vóc vũ trụ, chinh phục tự nhiên. Chủ nhân của con thuyền – những người lao động cũng trở nên hiên ngang. Hình ảnh con người đã trở nên hòa nhập với chiều kích thước rộng lớn của thiên nhiên vũ trụ. Một loạt những cụm từ như đậu dặm xa, dò bụng biển, dàn đan thế trận, lưới vây giăng đã miêu tả rõ nét công việc lao động trên biển như một cuộc chiến đấu chinh phục thiên nhiên.

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long

Biện pháp nghệ thuật liệt kê cùng ẩn dụ kết hợp nhân hóa đã vẽ nên một bức tranh sống động có cả màu sắc, ánh sáng và âm thanh. Bằng tâm hồn hết sức tinh tế, tác giả đã cảm nhận được hơi thở của thiên nhiên, vũ trụ. Bút pháp lãng mạn cùng trí tưởng tượng của tác giả đã sáng tạo nên những hình ảnh đẹp khiến công việc lao động nặng nhọc của người đánh cá trở thành bài ca đầy niềm vui, niềm hân hoan cùng thiên nhiên

Để soạn văn 9 tập 1 ngắn nhất cho bài Đoàn thuyền đánh cá, học sinh cần tóm lược lại đoạn thơ này gồm có những ý chính sau

Biện pháp phóng đại – nhân hóa

Bức tranh thành quả lao động rực rỡ, lấp lánh

Biện pháp liệt kê, ẩn dụ, nhân hóa

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao,

Khổ thơ cuối cùng của đoạn thơ thứ hai miêu tả cảnh kéo lưới

Sao mờ, kéo lưới kịp trời sáng,

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng,

Vảy bạc đuôi vàng loé rạng đông,

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng.

Cảnh lao động đánh cá trên biển như bức tranh sơn mài rực rỡ. Có ánh sáng lấp lánh của cá, lại có cả ánh nắng bình minh rực rỡ phản chiếu. Thiên nhiên và con người cùng nhịp nhàng trong sự vận hành của vũ trụ. Tóm lại, đoạn thơ trên đã viết nên một khúc tráng ca hào hùng nhưng cũng không kém phần lãng mạn ngợi ca sự giàu có của thiên nhiên và hơn hết là ngợi ca người lao động với khát vọng chinh phục thiên nhiên và tạo dựng cuộc sống của bản thân mình. Có thể nói, đoạn thơ này trong bài Đoàn thuyền đánh cá sách ngữ văn 9 tập 1 đã khẳng định sự chuyển mình của thơ Huy Cận một cách vô cùng rõ nét. Nỗi niềm u ẩn trước Cách mạng đã được thay thế hoàn toàn bằng niềm vui tươi, sự phấn khởi và niềm tin về con người lao động.

Phân tích khổ thơ cuối: Khúc ca khải hoàn

Câu hát căng buồm với gió khơi,

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời.

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi.

Bài thơ kết thúc bằng khung cảnh đoàn thuyền đánh cá thắng lợi trở về trong bình minh rực rỡ, tráng lệ. Kết thúc đầu cuối tương ứng: bắt đầu bằng tiếng hát và kết thúc cũng bằng tiếng hát đã mang lại không khí vui tươi, thắng lợi cho cả bài thơ. Tác giả tiếp tục sử dụng linh hoạt biện pháp nhân hóa trong câu thơ: Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời, cho thấy được tư thế chủ động chinh phục biển trời, vũ trụ của người ngư dân.

Câu thơ kết bài vừa mang ý nghĩa tả thực vừa như một niềm tin về tương lai tươi sáng, rạng rỡ: Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi. Ngày mới bắt đầu với thành quả lao động trải dài muôn dặm phơi – một cuộc đời mới đang sinh sôi và phát triển,… Với hình thức thơ thất ngôn cổ điển cân đối và sang trọng cùng âm hưởng lãng mạn và hùng tráng, đoạn thơ đã mang đến cho khúc ca của mình hai nguồn cảm hứng lớn song hàng cùng nhau. Đó là cảm hứng ngợi ca thiên nhiên giàu đẹp đầy sức sống và cảm hứng về con người lao động trong cuộc sống mới.