Soạn Văn 9 Bài Tiểu Đội Xe Không Kính Vnen / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Văn 9 Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính Vnen

Bài thơ về tiểu đội xe không kính VNEN

A. Hoạt động khởi động.

1. Sưu tầm và giới thiệu một bức tranh hoặc một bài thơ về người lính Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

(Trích: Nghĩa trang trong rừng đước- Nguyễn Duy)

(Trích: Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây- Phạm Tiến Duật)

B. Hoạt động hình thành kiến thức.

1. Đọc văn bản: Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

a. Em có nhận xét gì về nhan đề bài thơ? Nếu bỏ “bài thơ” thì ý nghĩa nhan đề có thay đổi không?

Nhan đề:” Bài thơ về tiểu đội xe không kính” gây ấn tượng và gợi suy ngẫm cho người đọc:

Rõ ràng đây là một bài thơ, vậy mà tác giả lại ghi là “Bài thơ”. Việc tác giả thêm vào hai chữ “bài thơ” ở đây là muốn thể hiện chất thơ, cái đẹp xuất phát từ hiện thực, từ tâm hồn hào hoa lãng mạn, lạc quan yêu đời của người lính – tuổi trẻ Việt Nam giữa khói bom lửa đạn với đầy niềm tự hào, chiến đấu và chiến thắng.

Nhan dề mang đề tài của bài thơ: Tiểu đội xe không kính . Tiểu đội là đơn vị cơ sở nhỏ nhất trong biên chế của quân đội ta. Cái tên gợi cho người đọc tính khốc liệt của chiến tranh. Một cái tên trần trụi, không mĩ miều, hàm súc như bao nhan đề bài thơ khác, đôi lập vói quan niệm cái đẹp văn chương thuần túy. Cái đẹp vói Phạm Tiến Duật là từ trong những diễn biến sôi động của cuộc sống mà ùa vào thơ.

Nếu bỏ hai chữ: “bài thơ” ta sẽ đánh mất đi dụng ý của tác giả khi muốn bộc bạch chất thơ từ chính hiện thực khốc liêt nơi chiến trường. Cụ thể hai chữ “bài thơ” nói lên cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải chỉ viết về những chiếc xe không kính hay là cái khốc liệt của chiến tranh, mà chủ yếu là Phạm Tiến Duật muốn nói lên chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ Việt Nam dũng cảm, hiên ngang, vượt lên những thiếu thốn, gian khổ, khắc nghiệt của chiến tranh.

b. Tìm trong bài thơ những từ, hình ảnh miêu tả sự khắc nghiệt của thiên nhiên và chiến tranh. Theo em, tác giả có dụng ý gì khi tái hiện môi trường thiên nhiên và bom đạn thảm khốc như vậy?

Thiên nhiên: gió vào xoa mắt đắng, mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Chiến tranh: bom giật bom rung kính vỡ đi rồi, bụi phun tóc trắng,…

c. Người lính lái xe hiện lên như thế nào trong bài thơ (tư thế, bản lĩnh, ý chí, tâm hồn…)

Hình ảnh những người lính lái xe trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính đã cho ta thấy được họ là những con người quả cảm với:

Bản lĩnh của những người chiến sĩ: kiên cường không sợ hiểm nguy lái những chiếc xe không kính trên khung đường hiểm nguy, chông gai, đầy bom đạn.

Thể hiện giọng điệu rất ngang tàn, bất chấp của các chiến sĩ

Tinh thần bất chấp khó khăn, nguy hiểm, dù thế nào họ vẫn vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ

Tình đồng chí, đồng đội gắn bó kêu sơn

Dù có khó khăn gian khổ họ vẫn vượt qua để đem lại hòa bình, độc lập cho dân tộc

d. Khổ thơ cuối bài thơ có ý gì đặc biệt về giọng điệu và cách thể hiện?

Ngôn từ, hình ảnh, vần thơ, giọng thơ..đều mang chất lính, thể hiện một hồn thơ trẻ trung phơi phới, tài hoa, anh hùng. Đoạn thơ trên là một tiếng ca của khúc tráng ca Bài thơ tiểu đội xe không kính thể hiện ý chí kiên cường nguyện hi sinh hết mình để bảo vệ nền độc lập tự do cho dân tộ.

Cách thể hiện của đoạn thơ cũng vô cùng đặc biệt: Đoạn thơ là sự đối lập giữa hai phương diện vật chất và tinh thần giữa bên trong và bên ngoài chiếc xe.Trải qua mưa bom, bão đạn, những chiếc xe ban đầu đã không kính giờ thì càng trần trụi hơn: “không đèn, mui; thùng xe xước” kết hợp giữa biện pháp liệt kê và điệp ngữ “không có” được lặp lại ba lần nhằm nhấn mạnh sự thiếu thốn và mức độ ác liệt của chiến tranh. Nhưng điều kì lạ là không gì có thể lay chuyển ý chí quyết tâm của người lính. Mọi thứ của chiếc xe không còn nguyên vẹn, nhưng “chỉ cần trong xe có một trái tim” thì xe vẫn chạy băng băng ra chiến trường. Hình ảnh “trái tim” là một hoán dụ thật đẹp và cũng là một ẩn dụ sâu xa mang nhiều ý nghĩa. Nó hội tụ cái vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất của người chiến sĩ lái xe. Trái tim nồng cháy một lẽ sống cao đẹp mà thiêng liêng. Trái tim chứa đựng bản lĩnh hiên ngang, dũng cảm, tinh thần lạc quan và một niềm tin mãnh liệt vào ngày thống nhất đất nước. Nó đã trở thành nhãn tự của bài thơ, cô đúc ý của toàn bài, hội tụ vẻ đẹp của người lính và để lại ấn tượng sâu lắng trong lòng người đọc. Những người lính là tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mỹ đầy oanh liệt của dân tộc

3. Nghị luận đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu

(1) Một đàn ếch đi ngang qua khu rừng và hai con ếch bị rơi xuống một cái hố….

Câu hỏi:

(2) Thấy lão nằn nì mãi tôi đành phải chất nhận vậy. Lúc lão ra về tôi còn hỏi:….

(1) Phương thức biểu đạt chính của hai đoạn trích trên là gì?

(2) Ngoài ra, tác giả sử dụng phương thức biểu đạt nào khác? Phương thức biểu đạt ấy có vai trò gì trong mỗi đoạn trích?

(1) Phương thức biểu đạt chính của hai đoạn trích trên là tự sự.

Thoắt trông nàng đã chào thưa Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.

b. Trong đoạn trích kể về Thúy Kiều báo ân báo oán (trích Truyện Kiều) tác giả kể lại cuộc đối thoại giữa Kiều và hoạn thư như sau:

(1) Trong đoạn trích trên Hoạn Thư đã đưa ra những luận điểm gì để thuyết phục Kiều?

(2) Kiều đã đáp lại lời của Hoạn Thư bằng những lí lẽ và hành động gì?

(1)Trong đoạn trích trên Hoạn Thư đã đưa ra những luận điểm gì để thuyết phục Kiều:

(3) Qua cuộc đối đãi trong đoạn trích tính cách Kiều và Hoạn Thư được thể hiện như thế nào?

Thứ nhất: mình là đàn bà, ghen tuông là chuyện bình thường.

Thứ hai: mình đã đối xử rất tôt với cô khi cô chép kinh ở “Quan Âm Các”.

Thứ ba: mình và cô đều là cánh chồng chung nên chẳng nhường cho nhau được …

Thứ tư: dù sao mình đã gây ra nhiều đau khổ cho cô, giờ đây mình chỉ còn trông vào lòng khoan dung rộng lớn của cô.

(3) Qua cuộc đối đãi trong đoạn trích tính cách của các nhận vật:

(2) Kiều đã đáp lại lời của Hoạn Thư bằng những lí lẽ: “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.” Dưới những lí lẽ của Hoạn Thư, Thúy Kiều nhận thấy trong mỗi câu nói đều thấu tình đạt lí cũng không thể phản biện nên đã khen thay cho Hoạn Thư có tài biện hộ đạt đến trình độ trác việt và truyền tha Hoạn Thư sau tất cả những điều mà Hoạn Thư đã làm với mình.

Thúy Kiều là một người thấu tình hiểu nghĩa, nhân hậu, bao dung

Hoạn Thư hiện lên trước hết là một con người khôn ngoan, giảo hoạt, lời lẽ xào biện để rồi chính sự thông minh của người đàn bà lọc lõi lẽ đời đã khiến Hoạn Thư thoát khỏi án tử, bản án cũng trở nên vô hiệu.

c. Theo em yếu tố nghị luận có vai trò gì trong văn tự sự? Khi nào cần đưa ra yếu tố nghị luận vào văn tự sự?

Vai trò của yếu tố nghị luận trong văn tự sự:gửi gắm một ý nghĩ, một tư tưởng, triết lí nào đó khiến câu chuyện có chiều sâu và ý nghĩa hơn, để lại ấn tượng cho người đọc

C. Hoạt động luyện tập.

1. Luyện tập đọc hiểu văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính.

So sánh những nét chung và riêng trong việc thể hiện hình tượng người lính trong tác phẩm Đồng chí của Chính Hữu và bài thơ về tiểu đội xe không kinh của Phạm Tiến Duật

Điểm giống và khác nhau về hình ảnh anh bộ đội trong hai bài thơ:

Mục đích chiến đấu: Vì nền độc lập của dân tộc.

Đều có tinh thần vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

Họ rất kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu.

Họ có tình cảm đồng chí, đồng đội sâu nặng.

Người lính trong bài thơ “Đồng chí” mang vẻ đẹp chân chất, mộc mạc của người lính xuất thân từ nông dân.

Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” luôn trẻ trung sôi nổi, vui nhộn với khí thế mới mang tinh thần thời đại.

2. Ôn tập và kiểm tra về truyện kí trung đại.

a. Hoàn thiện bảng sau vào vở:

b) Bằng những hiểu biết về truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình chiểu, hãy chỉ ra những đặc điểm tiêu biểu của truyện thơ

Truyện thơ thường là thơ lục bát, có tính nhạc, vần điệu, truyện thơ có sự việc, đối thoại, miêu tả, tình huống giống với truyện tự sự

Bài làm:

d) Em hiểu gì về truyện truyền kì? Chỉ ra và nêu tác dụng của yếu tố kì “trong tác phẩm chuyện người con gái Nam Xương”

Truyện truyền kì là một loại hình tự sự bằng văn xuôi, thuộc văn học viết. Theo Thi pháp văn học trung đại Việt Nam thì truyện truyền kì Trung Quốc thường có bố cục gồm ba phần:

a) Mở đầu: giới thiệu nhân vật (tên họ, quê quán, tính tình phẩm hạnh)

b) Kể chuyện: kể các chuyện kì ngộ, lạ lùng

c) Kết thúc: nêu lí do kể chuyện.

Các chi tiết kì ảo trong truyện Người con gái Nam Xương là:

Các tác giả Việt Nam theo truyền thống truyền kì Trung Quốc, nhưng lại có một quá trình hình thành và phát triển gắn liền với nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là với văn học dân gian và văn xuôi lịch sử.

Ý nghĩa các yếu tố kì trong bài:

Phan Lang nằm mộng rồi thả rùa.

Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến và gặp, trò chuyện với Vũ Nương; được trở về dương thế.

Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến Hoàng Giang.

Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phong phú.

Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự.

Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan.

Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảm của người phụ nữ trong xã hội

Bài làm:

(Truyền Kiều- Nguyễn Du)

Bài làm:

a. Tại sao trong mỗi ngôn ngữ, vốn từ vựng luôn được mở rộng? Có những cách phát triển từ vựng nào? Cho ví dụ minh họa.

Các cách phát triển của từ vựng:

Trong mỗi ngôn ngữ, vốn từ vựng luôn được mở rộng vì xã hội luôn vận động, phát triển không ngừng. Nhận thức của con người về thế giới cũng phát triển thay đổi theo. Nếu từ vựng của một ngôn ngữ không thay đổi thì ngôn ngữ đó không thể đáp ứng nhu cầu giao tiếp, nhận thức của con người bản ngữ.

Hình thức phát triển bằng phương thức chuyển nghĩa của từ ngữ: nóng (nước nóng), nóng (nóng ruột), nóng (nôn nóng), nóng (nóng tính)…

Hình thức phát triển số lượng các từ vựng:

Cấu tạo từ mới: sách đỏ, sách trắng, lâm tặc, rừng phòng hộ…

Mượn từ ngữ của tiếng nước ngoài: in-tơ-nét, cô ta, (dịch) SARS…

b. Hoàn thiện bảng sau vào vở:

Từ mượn là những từ vay mượn của nước ngoài giúp tạo sự phong phú cho ngôn ngữ.

biểu thị những sự vật, hiện tượng, đặc điểm… mà tiếng Việt chưa có từ thật thích hợp để biểu thị.

Ví dụ: anh hùng, taxi, internet, video, siêu nhân, băng hà…

là từ vay mượn của tiếng Hán, nhưng được đọc theo cách phát âm của tiếng Việt.

Tạo sắc thái trang trọng, nghiêm trang, biểu thị thái độ tôn kính, trân trọng, làm nổi bật ý nghĩ lớn lao của sự vật, sự việc.

Tạo sắc thái cổ xưa, tao nhã, tránh thô tục, tránh gây cảm giác ghê sợ

An ninh, ẩn sĩ, bảo vệ, bản lĩnh, chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, dân chủ, độc lập, chiến tranh, hoà bình, hạnh phúc v.v…

Là các từ vựng biểu thị các khái niệm trong một số lĩnh vực như khoa học, công nghệ. Thuật ngữ đặc thù riêng và không thể thiếu trong lĩnh vực khoa học, công nghệ.

là sự đánh giá sự phát triển của các lĩnh vực khoa học, sự đi lên của một đất nước và là điều không thể thiếu khi muốn nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ.

Nguyên tố là chất cơ sở có điện tích hạt nhân nguyên tử không thay đổi trong các phản ứng hoá học, tạo nên đơn chất hoặc hợp chất.

Biệt ngữ là những từ hoặc ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng thuộc phạm vi sinh hoạt của một tập thể xã hội riêng biệt.

Nếu được sử dụng hợp lí sẽ góp phần tô đậm màu sắc một miền quê, làm ưổi bật tính cách xã hội, cách sống, cách giao tiếp của một giai tầng xã hội.

Cớm: mật thám, đội xếp

Thí chủ, bần tăng, bần đạo, phật tử

……………………………………………………………..

Soạn Văn 9: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Soạn Văn: Bài thơ về tiểu đội xe không kính Bố cục:

– Phần 1: Hình ảnh chiếc xe không kính.

– Phần 2: Hình ảnh người lính lái xe.

Đọc hiểu văn bản Câu 1 (trang 133 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

– Nhan đề bài thơ quá dài, vừa gợi lên hình ảnh những chiếc xe, vừa cho ta thấy được phong thái ngang tàng của người lái xe.

– Chiếc xe không kính là một hình ảnh độc đáo, đó là chứng tích chiến tranh, cho thấy sự tàn khốc của chiến tranh, nhưng qua đó mà nhìn thấy những người lính dũng cảm, ung dung trước khó khăn gian khổ.

Câu 2 (trang 133 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Hình ảnh người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn:

– Tư thế ung dung, hiên ngang, sảng khoái đến bất tận Ung dung buồng lái ta ngồi … ùa vào buồng lái.

– Thái độ bất chấp khó khăn, nguy hiểm Không có kính ừ thì có bụi…ừ thì ướt áo… mặc kệ gió vào mắt, mặc kệ mưa bom, xe vẫn cứ đi.

– Tình đồng đội thắm thiết: Bắt tay qua cửa kính vỡ, chia sẻ khó khăn.

– Ý chí chiến đấu vì miền Nam: Một trái tim căm thù giặc, quyết tâm chiến đấu.

Câu 3 (trang 133 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Ngôn ngữ, giọng điệu của bài thơ giàu tính khẩu ngữ tự nhiên, đầy tính ngang tàng pha chút nghịch ngợm. Điều đó góp phần thể hiện hình ảnh người lính ung dung, hóm hỉnh, trẻ trung.

Câu 4 (trang 133 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

– Hình ảnh người lính cho ta thấy sự gan dạ, bất chấp khó khăn, luôn tiến lên phía trước vì lí tưởng cao đẹp của thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ. Họ cũng là những người thật hóm hỉnh, trẻ trung và yêu đời.

– So với người lính trong bài Đồng chí, những người lính với chiếc xe không kính đều mang lòng yêu nước, lòng căm thù giặc với tình đồng đội thắm thiết. Chỉ có điều, người lính ở bài này trẻ trung hơn, hóm hỉnh hơn.

Luyện tập

(trang 133 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Những cảm giác, ấn tượng …

Phân tích khổ thơ thứ hai:

Khổ thơ thứ hai tràn ngập những hình ảnh gió, con đường, sao trời, cánh chim. Đó là những khó khăn phía trước, nhưng mọi thứ đều thật nhỏ bé trước lòng quyết tâm không lùi của những chiến sĩ trẻ. Lại thêm hình ảnh lãng mạn Thấy sao trời và đột ngột cánh chim – Như sa như ùa vào buồng lái làm cho chặng đường trở nên vui tươi, nhẹ nhàng hơn.

Soạn Bài Lớp 9: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Soạn bài lớp 9: Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 9 học kì I

Soạn bài: Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Phạm Tiến Duật I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Bài thơ có một nhan đề rất độc đáo: “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”. Ngay từ đầu, nhan đề bài thơ đã dự báo một giọng điệu riêng của Phạm Tiến Duật: đề cập đến một đề tài hết sức đời thường, gần gũi với cuộc sống của người lính trên đường ra trận. Đó là chất thơ của hiện thực khắc nghiệt, chất lãng mạn của tuổi trẻ trước vận mệnh vinh qung: chiến đấu để giải phóng quê hương, chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc.

2. Nổi bật trong bài thơ là hình ảnh đoàn xe nối nhau ra trận. Vào cuộc chiến có nghĩa là mất đi rất nhiều, đến chiếc xe cũng phải mất mát, sẻ chia. Câu mở đầu bài thơ rất giản dị mà bất ngờ: Không có kính không phải vì xe không có kính

Ba chữ “không” như thể giằng nhau trong một câu thơ, dù chỉ để thông tin về một sự thật “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi”. Có vẻ như nhà thơ đang phân bua một cách nghịch ngợm, cho sự hiện diện không trọn vẹn của chiếc xe:

Không có kính, rồi xe không có đèn,

Không có mui xe, thùng xe có xước…

Nhưng không phải, bởi bù lại cái “sự thiếu hụt” đáng yêu ấy, người lính lại thoả thuê trong những cảm nhận trên đường:

Thấy sao trời và đột ngột cánh chim Như sa, như ùa vào buồng lái. …Gặp bạn bè suốt dọc đương đi tới Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

Đọc đến đây, dường như cảm giác xe “không có kính” bị chìm đi, nhường chỗ cho những thanh âm trong trẻo bình yên ùa vào trong khoảng lặng của cuộc chiến tranh khốc liệt. Cuộc sống của người lính bỗng trở nên thật đẹp. Tâm hồn lãng mạn của họ vẫn dạt dào thăng hoa trong bộn bề gian truân, mất mát. Sao trời vẫn sáng đường chiến dịch, những cánh chim vẫn bền bỉ, “đột ngột” mà không cô đơn. Từ “đột ngột” rất đắt dùng trong câu đảo thành phần này diễn tả một động thái đẹp của thiên nhiên, của cánh chim trời. Cánh chim được tính từ hoá để cuối cùng được người hoá qua hai động từ ” sa, ùa” hết sức tự nhiên. Tất cả những điều ấy đủ nói lên vẻ đẹp tâm hồn của người lính lái xe, thể hiện qua khát vọng sống cao cả và kiên cường. Mặc dù “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi” nhưng đây là tư thế của họ:

Ung dung buồng lái ta ngồiKhông có kính, ừ thì có bụi, Bụi phun tóc trắng như người già. Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha. Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.

Tư thế ung dung, lạc quan yêu đời trước hoàn cảnh gian nguy càng tôn thêm phẩm chất của người lính. Mặc kệ “gió xoa vào mắt đắng”, mặc kệ “mưa tuân ma xối” người lính vẫn nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim, thấy sao trời và đột ngột cánh chim. Một loạt hình ảnh vụt hiện tạo ra những cảm giác, ấn tượng vừa quen, vừa lạ . Đẹp và hiên ngang. Gian khổ nhường ấy, nhưng tinh thần người lính vẫn vượt lên, vẫn yêu đời:

Những chiếc xe từ trong bom rơi Đã về đây họp thành tiểu đội Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy Võng mắc chông chênh đường xe chạy Lại đi, lại đi trời xanh thêm

Những câu thơ đặ tả thực tế, kể cả những tiếng “ừ” rất đời thường và ngang tàng chất lính ấy như thể thách thức cùng gian khó:

Không có kính rồi xe không có đèn Không có mui xe, thùng xe có xước Xe vẫn chạy vì Miền Nam phía trước: Chỉ cần trong xe có một trái tim.

Con đường ra trận, trong thơ Phạm Tiến Duật thường có nhiều tiếng hát, từ Trường Sơn đông Trường Sơn tây đến Gửi em cô thanh niên xung phong, và trong bài thơ này, Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Đó là con đường “chạy thẳng vào tim”. Trái tim ấy là miền Nam phía trước. Trái tim mang một hàm nghĩa thiêng liêng. Ngay kể cả khái niệm “gia đình” theo cách diễn đạt của Phạm Tiến Duật thể hiện trong bài thơ cũng mang một nét nghĩa rất mới:

Mục tiêu cao cả là miền Nam phía trước, là giải phóng đất nước quê hương. Chính vì thế:

II. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG

Trái tim ấy là trái tim người lính, là sứ mệnh vinh quang của tuổi trẻ thế hệ Hồ Chí Minh tiếp nối các thế hệ cha anh đang trên đường ra trận. Câu thơ cuối mang màu sắc triết lí – một triết lí thật đơn sơ nhưng rất đỗi chân thực và mang tầm thời đại. Bức chân dung của người lính lái xe trong bài thơ là bức chân dung tràn đầy sức sống, bức chân dung của niềm tin thắng lợi.

3. Cùng với Trường Sơn đông Trường Sơn tây, Gửi em cô thanh niên xung phong, Bài thơ về tiểu đội xe không kính góp phần thể hiện vị trí và khẳng định phong cách nghệ thuật của Phạm Tiến Duật trong thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

Ung dung buồng lái ta ngồi Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

Đây là bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật, đồng thời thể hiện nổi bật tinh thần tự tin, tươi trẻ của lớp lớp thanh niên Việt Nam trên tuyến đường Trường Sơn một thời oanh liệt. Khi đọc, cần chú ý:

Không có kính, ừ thì có bụi Không có kính, ừ thì ướt áo Không có kính, rồi xe không có đèn.

Tinh thần ung dung của người lính sẵn sàng ra trận, thể hiện trong tiết tấu các câu thơ:

Chất giọng khí khái ngang tàng, bất chấp gian khổ, thể hiện trong các cấu trúc lặp lại:

Soạn Văn Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính

Soạn văn bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính

A.YÊU CẦU

HS cảm nhận được:

-Qua hình ảnh những chiếc xe không kính ngộ nghĩnh, độc đáo giữa tuyến đường Trường Sơn ác liệt trong thời kì chông Mĩ cứu nước, tác giả khắc hoạ hình ảnh nhưng ngươi lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, trẻ trung, lạc quan yêu đời.

-Bài thơ đã thể hiện một cách sinh động và hiện thực cuộc sống chiến trường, ngôn ngữ và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khoẻ khoắn.

B.GỢl Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI, BÀI TẬP

I- Phần bài học

Câu hỏi 1. Nhan đề bài thơ có gì khác lạ? Một hình ảnh nổi bật trong bài thơ là những chiếc xe không kính. Vì sao có thể nói hình ảnh ấy là độc đáo?

Gợi ý

Nhan đề của bài thơ có hai điểm khác lạ: ‘Tiểu đội xe không kính” và “bài thơ”. Đưa vào thơ những chiếc xe không kính là một sự khác lạ. Từ “bài thơ” có vẻ như thừa nhưng thực ra đây là một chủ định của tác giả. Tác giả muốn tạo nên sự liên kết giữa thơ và cái chẳng có gì nên thơ: xe không có kính. Chất thơ hiện lên từ những gì trần trụi, khô khan, từ hiện thực gian khổ, ác liệt của chiến trường. Hình ảnh tiểu đội xe không kính là hình ảnh độc đáo của bài thơ.

Câu hỏi 2. Những chiếc xe không kính đã làm nổi bật hình ảnh người lái xe trên tuyến đường Trương Sơn. Em hãy phân tích hình ảnh ngươi lính lái xe trong bài thơ (chú ý: tư thế hiên ngang, tinh thần dũng cảm bất chấp khó khăn, nguy hiểm, niềm vui sôi nổi của tuổi trẻ trong tình đồng đội, ý chí chiến đấu vì miền Nam).

Gợi ý

Hình ảnh những chiếc xe của tiểu đội hiện lên chân thật, bom đạn chiến trường làm cho kính xe bị vỡ, xe không còn đen, không còn mui, thùng xe bị xước,… Xe vào trận cùng sẻ chia với người lính những mất mát, hi sinh. Những người lính lái xe với tư thế rất đàng hoàng, hiên ngang:

Ung dung buồng lái ta ngồi,

Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thắng.

Họ lái xe với tinh thần dũng cảm, không ngại khó khăn, vượt qua bom rơi lửa đạn, không sự hi sinh:

-Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

-Những chiếc xe từ trong bom rơi

-Nhìn thấy gió vào xoa mắt dắng

-Bụi phun tóc trắng như người già

-Không có kính, ừ thì ướt áo

Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời

Họ là những chàng trai trẻ tinh nghịch, lạc quan yêu đời, tình đồng chí, đồng đội thắm thiết:

-Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái

-Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

Nhìn nhau mật lấm cười ha ha.

-Gặp bè bạn suốt dọc đường đi tới

Bắt tay qua cửa kính võ rồi.

-Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

Họ là những thanh niên tiêu biểu cho thế hộ trẻ Việt Nam trong thời kì chống Mĩ cứu nước, chiến đấu vì miền Nam ruột thịt:

Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chi cần trong xe có một trái tim.

Câu hỏi 3. Em có nhận xét gì về ngôn ngữ, giọng điệu của bài thơ này? Những yếu tố đó đã góp phần như thế nào trong việc khắc hoạ hình ảnh những người lính lái xe Trường Sơn?

Gợi ý

Ngôn ngữ của bài thơ giản dị, giọng điệu thơ pha chút ngang tàng, tinh nghịch của tuổi trẻ qua những khẩu ngữ như: ừ thì, chưa cần rửa, chưa cần thay, phì phèo châm điếu thuốc,… Đó là nét trẻ trung, hồn nhiên của các chiến sĩ. Giọng điệu thơ phản ánh tinh thần lạc quan yêu đời của chiến sĩ lái xe. Chính tinh thần lạc quan đó đà làm cho họ có thể ung dung, bình tĩnh vượt qua mọi khó khăn, gian khổ vượt qua những trận bom giật, bom rung để tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho miền Nam.

Câu hỏi 4. Cảm nghĩ của cm về thế hệ trỏ thời kháng chiến chông Mĩ qua hình ảnh người lính trong bài thơ? So sánh hình ảnh người lính ở bài thơ này và ở bài Đồng chí.

Gợi ý

-Thế hệ trẻ thời kháng chiến chống Mĩ là một thế hộ của những người anh hùng, sống có lí tưởng cao đẹp. Họ là những lớp thanh niên trẻ, khoẻ, đem tuổi thanh xuân của minh dâng hiến cho đất nước. Họ chiến đấu vơi tinh thần dùng cảm, không sợ hi sinh, lúc nào cũng phơi phới yêu đời. Dù bất cứ hoàn cảnh nào họ cũng đều nêu cao tinh thần đồng đội.

-Hình ảnh người lính trong bài Đồng chí và hình ảnh người lính trong Bài thơ tiếu đội xe không kính là sự tiếp nối phẩm chất anh hùng của các thế hệ bộ đội cụ Hồ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Họ đều có chung một điều kiện sông, chiến đấu khó khăn, thiếu thốn nhưng đều có tinh thần vượt khó, không sợ hi sinh gian khổ, luôn lạc quan yêu đời, sông có lí tưởng cách mạng. Trong khó khăn gian khổ, đồng đội, đồng chí sát cánh, gắn bó bên nhau để hoàn thành nhiệm vụ.

II – Phần luyện tập

Bài tập 2. Những cảm giác, ấn tượng của người lái xe trong chiếc xe không kính trên đường ra trận đã được tác giả diễn tả rất sinh động, cụ thể. Em hãy phân tích khổ thơ thứ hai để thấy rõ điều ấy.

Gợi ý

Khổ thơ thứ hai:

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

Nhìn thấy con đường chạy thẳng vảo tim

Thấy sao trời vù đột ngột cánh chim

Như sa như ùa vào buồng lái.

Khổ thơ miêu tá cụ thể, chính xác hình ảnh người lính lái xe ưên chiếc xe không có kính. Không có kính thì gió sẽ làm cho “mắt đắng”, không có kính thì con đường phía trước như “chạy thẳng vào tim”, và không có vật chắn nên sao trời, cánh chim “như sa như ùa vào buồng lái”. Đó là cảm giác thật, ấn tượng thật của người lái ngồi trên xe khi chiếc xe đang chạy với tốc độ cao. Những khó khăn, phiền toái khi chiếc xe không có kính được trình bày qua tinh thần lạc quan của người lính. Có vẻ như xe không có kính lại là một thuận lợi, một điều hay, một cơ hội dể ngươi lính khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời,…