Soạn Văn 9 Bài Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Bài: Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Nguyễn Du

2. Tác phẩm

* Vị trí đoạn trích: Đoạn trích nằm ở cuối phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi chịu bao đau khổ, tủi nhục, đọa đày, Thúy Kiều được Từ Hải cứu thoát khỏi lầu xanh và giúp nàng báo ân báo oán. Đây là đoạn trích tả cảnh Kiều báo ân báo oán.

* Bố cục: Đoạn trích có thể được chia làm 2 phần:

Phần 1: 12 câu đầu: Thúy Kiều báo ân

Phần 2: 22 câu cuối: Thúy Kiều báo oán.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Mười hai câu đầu tác giả tả cảnh Thúy Kiều báo ân.

a) Qua lời của Kiều nói với Thúc Sinh, em thấy Kiều là một con người sống rất nặng tình nghĩa, nàng không quên chuyện Thúc Sinh cứu nàng khỏi lầu xanh, tuy Thúc Sinh đúng là không giúp được nàng khi nàng bị Hoạn Thư hành hạ, nhưng ơn nghĩa với Thúc Sinh cũng không thể nào phủ nhận.

b)

* Khi trả ơn Thúc Sinh, Kiều lại nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư là do vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho nàng không thể nào quên được.

* Khi nói với Thúc Sinh và khi nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều đã có sự khác biệt. Lời nói với Thúc Sinh vẫn còn giữ sự tôn trọng vì Kiều vẫn luôn biết ơn Thúc Sinh. Còn khi nói về Hoạn Thư, Kiều lại nói rất nôm na và bình dị, sử dụng lối nói dân gian tỏ thái độ xem thường.

Câu 2:

Những câu thơ còn lại tả cảnh Thúy Kiều báo oán.

a) Những lời đầu tiên Kiều nói về Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến. Bằng giọng điệu mỉa mai, châm biếm, nàng gọi Hoạn Thư là “tiểu thư”, cẩn thận báo cho mụ ta biết về luật nhân quả ở đời “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”.

b) Thái độ của Thúy Kiều qua giọng điệu ấy là thái độ quyết liệt trong trả thù, bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu tủi nhục như dồn nén và bây giờ được dịp trút ra. Đồng thời, thái độ này như báo trước những điều dữ dội sắp xảy ra.

Câu 3:

a) Trước thái độ của Kiều, Hoạn Thư đã “Khấn đầu dưới chiếu, liệu điều kêu ca”.

b) Lời kêu ca của Hoạn Thư thực chất là lí lẽ để gỡ tội.

Những lí lẽ của Hoạn Thư đã giúp Kiều nhìn nhận ra được sự khôn ngoan của mụ, khi đó, Kiều cũng có phần nguôi ngoai và bị mắc vào thế khó nên đành tha cho Hoạn Thư.

Câu 4:

* Thúy Kiều tha bổng cho Hoạn Thư là vì những lí lẽ của Hoạn Thư đã khiến Kiều nguôi lòng, và quan trọng hơn là vì tấm lòng nhân hậu, bản tính rộng lượng của Thúy Kiều.

* Việc làm ấy của Kiều là hợp lí và không hề đáng trách vì nó phù hợp với bản chất con người Kiều – một người nhân hậu, có tấm lòng rộng lượng, thương người.

Câu 5:

Qua đoạn trích, em thấy:

Hoạn Thư là một người phụ nữ khôn ngoan, nham hiểm. Mặc dù trong tình cảnh “hồn lạc phách xiêu” nhưng vấn đưa ra được những lí lẽ chặt chẽ và đầy sức thuyết phục đối phương.

Thúy Kiều là một người coi trọng ân nghĩa, giàu lòng vị tha. Đối với những người đã từng giúp đỡ mình thì nàng đều nhớ tới và đền ơn xứng đáng, còn với những người đã từng đối xử tệ bạc với nàng thì kiên quyết trừng trị. Mặc dù giận Hoạn Thư nhưng Kiều vẫn sẵn sàng tha bổng cho mụ vì Kiều có tấm lòng rộng lượng.

Theo chúng tôi

Bài 8 Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

1.Thử lí giải vì sao Nguyễn Du để cho nhân vật Thuý Kiều dùng nhiều từ Hán Việt và vận dụng điển cố khi nói với Thúc Sinh, còn khi nói về Hoạn Thư, nói với Hoạn Thư, nhà thơ lại để cho Kiều dùng nhiều từ thuần Việt và vận dụng những thành ngữ dân gian ?

2.Phân tích những biểu hiện đa dạng nhưng hợp lí, nhất quán trong tính cách Thuý Kiều trong đoạn thơ này.

3.Qua lời lẽ của Hoạn Thư trong đoạn thơ, em cảm nhận như thế nào về tính cách của nhân vật này ?

4.Trong đoạn Thu ý Kiều báo ân báo oán, tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật nào để khắc hoạ tính cách nhân vật ?

A – Miêu tả nội tâm

B – Tả cảnh ngu tình

C – Miêu tả ngôn ngữ đối thoại.

1.Khi nói với Thúc Sinh, trong ngôn ngữ của Kiều xuất hiện nhiều từ Hán Việt : nghĩa, tòng, phụ, cố nhân,… kết hợp với điển cố Sâm Thương. Lời lẽ của Kiều khi nói với Thúc Sinh là lời lẽ của một “phu nhân” với những khái niệm đạo đức phong kiến như chữ “nghĩa”, chữ “tòng” và “những phong cách biểu hiện ước lệ, công thức “Sâm Thương”, “nghĩa trọng nghìn non” (Đặng Thanh Lê). Cách nói toang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều.

– Khi nói về Hoạn Thư, nói với Hoạn Thư, trong ngôn ngữ của Kiều lại xuất hiện nhiều từ thuần Việt và những thành ngữ dân gian : quỷ quái tinh ma ; kẻ cắp, bà già gặp nhau ; kiến bò miệng chén ; càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều,… Cách nói hết sức nôm na, bình dị, dễ hiểu này phù hợp với đối tượng và mục đích giao tiếp. Hành động trừng phạt cái ác theo quan điểm của nhân dân phải được diễn đạt bằng lời ăn, tiếng nói của nhân dân. “Thuý Kiều nói về Hoạn Thư trên cơ sở một triết lí nhân sinh có tính chất quần chúng ! Đây là triết lí “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, một quan niệm xử thế rất công bằng để đối xử lại với xã hội đầy áp bức, lừa đảo xưa kia. Người thiếu nữ chỉ quen “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu” một khi bị xô đẩy ra khỏi nhung lụa, cũng sẽ nói năng, cử chỉ như quần chúng”. (Đặng Thanh Lê)

2.Trong đoạn trích, người đọc đã thấy ở nhân vật Thuý Kiều đa dạng nhưng nhất quán về tính cách.

Mọi biểu hiện đa dạng, phức tạp trong tính cách của Thuý Kiều đều làm nổi bật lên vẻ đẹp từ tấm lòng vị tha, nhân hậu của nàng.

Với tấm lòng nhân hậu, Kiều đã trả ơn Thúc Sinh. Chàng Thúc đã đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cảnh đời ô nhục, đem đến cho nàng những ngày tháng êm ấm của cuộc sống gia đình. Thế nhưng sự gắn bó với Thúc Sinh đã đưa Kiều vào hoàn cảnh “Dấm chua lại tội bằng ba lửa nồng”. Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư hành hạ. Vậy mà nàng vẫn gọi ơn của Thúc Sinh dành cho nàng là “nghĩa nặng nghìn non”. Không một lời trách Thúc Sinh vì nàng thấu hiểu nỗi đau khổ của mình không phải do chàng gây ra mà thủ phạm chính là Hoạn Thư : “Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân ?”. Với Kiều thì dù có “Gấm trăm cuốn bạc nghìn câri” cũng chỉ “gọi là” chút lòng đền đáp chứ chưa dễ xứng với ơn nghĩa Thúc Sinh dành cho nàng. Kiều đúng là người nghĩa tình “ơn ai một chút chẳng quên”.

Cùng với tấm lòng trọng ơn nghĩa, ở Thuý Kiều còn có lòng khoan dung. Không thấy được sự thống nhất giữa tinh thần trọng ơn nghĩa với lòng khoan dung ấy thì khó mà lí giải được những hành động đối lập nhau của Kiều xảy ra cùng một lúc. Qua lời nói, khi mỉa mai “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây !”, khi thẳng thừng : “Đàn bà dễ có mấy tay – Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan có thể thấy Kiều đã xác định không lầm “Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư”. Một cuộc báo thù ghê gớm như sắp xảy ra theo đúng quan niệm dân gian : “Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”, “Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”. Vậy mà liền sau đó, nghe Hoạn Thư “liệu điều kêu ca”, Kiều đã thay đổi ngay thái độ : “Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”. Sự thay đổi ấy xuất phát từ tấm lòng khoan dung và sự thấu hiểu lẽ đời của Kiều. Nàng bao dung, thấu hiểu Hoạn Thư mang tâm lí chung của giới nữ : “Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”, “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Kiều không cố chấp khi Hoạn Thư đã biết lỗi : “Trót lòng gây. việc chông gai, và xin tha : “Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng” thì Kiều cũng khoan dung độ lượng : “Đã lòng tri quá thì nên”. Kiều đã cư xử theo triết lí dân gian : “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại”.

3.Tính cách của Hoạn Thư cũng có những biểu hiện phong phú, đa dạng nhưng tất cả đều nhất quán ở bản chất một con người khôn ngoan, giảo hoạt. Hay nói như Kiều, đây là con, người “sâu sắc nước đời” đến “quỷ quái tinh ma”.

Hoạn Thư giảo hoạt trong cách ứng xử. Ban đầu, Hoạn Thư có “hồn lạc phách xiêu”. Nhưng ngay trong hoàn cảnh ấy, Họạn Thư vẫn kịp “liệu điều kêu ca”.

Hoạn Thư khôn ngoan trong các lí lẽ để gỡ tội. Con người này “Nói lời ràng buộc thì tay cũng già”. Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm lí thường tình của người phụ nữ : “Rằng : Tôi chút phận đàn bà – Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”. Lí lẽ này đã đưa Kiều và Hoạn Thư từ vị thế đối lập trở thành người đồng cảnh, cùng chung “chút phận đàn bà”. Nếu Hoạn Thư có tội thì cũng là do tâm lí chung của giới nữ : “Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”. Từ tội nhân, Hoạn Thư đã lập luận để mình trở thành nạn nhân của chế độ đa thê. Tiếp đến, Hoạn Thư kể lại “công” đã cho Kiều ra viết kinh ở gác Quan Âm và không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn. Từ tội nhân thành nạn nhân rồi thành ân nhân, con người này thật khôn ngoan, giảo hoạt. Cuối cùng Hoạn Thư nhận tất cả tội lỗi về mình, chỉ còn biết trông cậy vào tấm lòng khoan dung, độ lượng của Kiều : “Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”,… Lớp lang lời tự bào chữa của Hoạn Thư theo ba bước như vậy chứng tỏ Hoạn .Thư đúng là người “sâu sắc nước đời”, không những “chàng Thúc phải ra người bó tay” mà chính Kiều cũng ồ vào hoàn cảnh khó xử : “Tha ra thì cũng may đời – Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen”. Tuy nhiên, Kiều đã vượt qua hoàn cảnh khó xử ấy bằng chính tấm lòng khoan dung, nhân hậu : “Đã lòng toi quá thì nên – Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay”.

3.Đọc phần Ghi nhớ (Ngữ văn 9, tập một, ữang 109) để trả lời.

Soạn Bài Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán (Trích Truyện Kiều)

Bố cục:

– 12 câu đầu : Thúy Kiều báo ân.

– 22 câu cuối : Thúy Kiều báo oán.

Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Thúy Kiều báo ân :

– Qua lời của Kiều với Thúc Sinh ta thấy Kiều là người nặng tình, nặng nghĩa, nàng rất trân trọng việc Thúc Sinh chuộc nàng khỏi lầu xanh, tuy Thúc Sinh không giúp được khi Hoạn Thư hành hạ nàng nhưng nàng vẫn tạ ơn Thúc Sinh rất hậu.

– Kiều nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư chứng tỏ vết thương lòng, đau đớn mà Hoạn Thư gây ra nàng không quên được.

– Lời nói với Thúc Sinh trang trọng, dùng nhiều điển cố vì Kiều vẫn luôn biết ơn Thúc Sinh, còn lời nói về Hoạn Thư lại nôm na bình dị, sử dụng lối nói dân gian tỏ thái độ xem thường.

Câu 2 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Thúy Kiều báo oán :

– Những lời đầu tiên Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến. Chào, thưa Hoạn Thư là “tiểu thư” mặc dù vị thế hai người đã đảo ngược.

– Thái độ Kiều : quyết liệt trong trả thù, báo trước những điều dữ dội sắp xảy ra.

Câu 3 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

– Trình tự lí lẽ của Hoạn Thư : xóa ranh giới kẻ thù, về cùng phía “phận đàn bà” → từ trọng tội biến thành chuyện nhỏ “thường tình” → kể rằng từng tha cho Kiều→ tỏ thái độ “riêng riêng những kính yêu” → nhận lỗi và mong tha thứ.

– Các lí lẽ đó tác động tới Kiều : nhìn ra sự khôn ngoan của Hoạn Thư, Kiều có phần nguôi ngoai, mắc vào thế khó đành tha bổng cho Hoạn Thư.

– Tính cách Hoạn Thư : khôn ngoan, lọc lõi, tâm địa mưu mô, thủ đoạn.

Câu 4 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

– Kiều tha Hoạn Thư vì những lí lẽ của Hoạn Thư và bản tính rộng lượng của Kiều.

– Việc làm ấy phù hợp với lòng nhân hậu của Kiều. Vì vậy nó không hề đáng trách.

→ Kiều là người giàu lòng vị tha, nặng tình nghĩa.

Câu 5 (trang 108 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

– Hoạn Thư khôn ngoan, lọc lõi, có tâm địa và thủ đoạn. Trong cảnh “hồn lạc phách xiêu” vẫn đưa ra được những lí lẽ chặt chẽ, thuyết phục.

– Thúy Kiều giàu lòng vị tha, tình nghĩa. Đối với Thúc Sinh biết ơn, trân trọng, đối với Hoạn Thư giận nhưng vẫn rộng lượng tha tội.

Luyện tập

(trang 109 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Những biểu hiện đa dạng …

– Thúy Kiều tình nghĩa, yêu ghét rõ ràng, rộng lượng : vẫn nhớ ơn và báo ơn Thúc Sinh đã cứu mình khỏi lầu xanh, nhớ thù Hoạn Thư nhưng khi nghe lời lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư thì vẫn rộng lượng tha bổng.

– Hoạn Thư : khôn ngoan, khéo nói : sợ hãi mà vẫn khéo léo bào chữa tội mình.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Của Nguyễn Du

Qua ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Du đã làm nổi bật tính cách nhân vật Thúy Kiều và nhân vật Hoạn Thư.

Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán là sự thể hiện ước mơ công lý chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân: Con người bị áp bức đau khổ vùng lên cầm cán cân công lý.

Đoạn trích thể hiện khuôn mẫu ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ.

1.2. Nghệ thuật

Tác giả đã thành công khi miêu tả tâm lí nhân vật.

Từ ngữ mang tính ngôn ngữ nôm na, bình dân và kết hợp với những thành ngữ dân gian.

Có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và miêu tả.

2. Soạn bài Thúy Kiều báo ân báo oán

Câu 1: Mười hai câu đầu tả cảnh Thúy Kiều báo ân.

Qua lời kể của Kiều với Thúc Sinh em thấy Kiều là người như thế nào? Tại sao khi trả ơn Thúc Sinh, Kiều lại nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư? Có sự khác nhau như thế nào trong ngôn ngữ khi nói với Thúc Sinh và khi nối với Hoạn Thư? Vì sao có sự khác nhau ấy.

Từ lời của Kiều nói với Thúc Sinh có thể thấy nàng là người biết ơn tấm lòng và sự giúp đỡ mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trong cơn hoạn nạn. Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát cảnh đời ô nhục, có những tháng ngày êm ấm trong cuộc sống gia đình. Nàng đã gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non“.

Nàng gọi Thúc Sinh là “Người cũ” mang sắc thái thân mật, gần gũi, rồi lại gọi là “cổ nhân” mang sắc thái trang trọng. Với nàng dù có “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa xứng với ơn nghĩa nặng của Thúc Sinh.

Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều cũng nhắc về Hoạn Thư. Điều đó chứng tỏ vết thương lòng mà Hoạn Thư gây ra cho Kiều đang còn quá xót xa. Có sự khác nhau trong ngôn ngữ của Kiều nói với Thúc Sinh, Kiều dùng nhiều từ điển cố “Sâm Thương” cách nói trang trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Kiều.

Khi nói về Hoạn Thư, ngôn ngữ của Kiều lại hết sức bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “Kẻ cắp bà già gặp nhau“, “Kiến bò miệng chén” với những từ Việt dễ hiểu: hàng động trừng phạt kẻ ác theo quan điểm của nhân dân phải được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

Câu 2. Những câu thơ còn lại tả cảnh Thúy Kiều báo oán.

Những lời đầu tiên Kiều nói với Hoạn Thư giọng điệu như thế nào?

Thái độ của Kiều qua giọng điệu ấy?

Những lời đầu tiên của Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến.

Giọng điệu ấy của Kiều cho thấy nàng quyết trừng trị Hoạn Thư trong quan niệm dân gian “mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa“.

Câu 3. Trước thái độ của Kiều Hoạn Thư đã xử chí ra sao? Lời kêu ca của Hoạn Thư thực chất là lí lẽ gỡ tội. Em hãy hiểu:

Trình tự lí lẽ của Hoạn Thư.

Các lí lẽ của Hoạn Thư đã tác động tới Kiều như thế nào.

Qua lời đối đáp của Hoạn Thư, em có cảm nhận gì về tính cách của nhân vật này.

Trước thái độ của Kiều, lúc đầu Hoạn Thư có sợ hãi “hồn lạc, phách xiêu” nhưng vẫn kịp ứng phó thông minh “liệu điều kêu ca”.

Trước hết Hoạn Thư dựa vào tâm lý thường tình của phụ nữ để gỡ tội. “Rằng tôi chút phận đàn bà Ghen tuông thì cũng người ta thường tình”.

Tiếp đến Hoạn Thư kể công không hành hạ Kiều và đã cho Kiều ra viết kinh ở gác Quan Âm rồi cũng không đuổi theo bắt giữ nàng khi nàng bỏ trốn.

Cuối cùng, Hoạn Thư nhận tội, xin Kiều mở lòng khoan dung độ lượng.

Cách lý sự của Hoạn Thư khiến Kiều phải thừa nhận đây là con người khôn ngoan. Nàng bị đưa tới chỗ khó xử, nàng có răn đe Hoạn Thư nhưng cuối cùng thì đã khoan dung độ lượng tha cho.

Câu 4. Vì sao Thúy Kiều tha bổng Hoạn Thư? việc làm ấy của Kiều hợp lí hay không hợp lí, là đúng hay đáng trách? lí giải cách lựa chọn của em. Những lời cuối cùng Kiều nói với Hoạn Thư cho thấy Kiều là con người như thế nào?

Việc Kiều tha bổng Hoạn Thư là hợp lý là đúng.

Vì cách gỡ tội khôn khéo của Hoạn Thư song chủ yếu là vì lòng vị tha nhân hậu, khoan dung của Kiều.

Câu 5. Qua đoạn trích phân tích tính cách Thúy Kiều và Hoạn Thư.

Qua đoạn trích có thể thấy Thúy Kiều là người trọng ân nghĩa. Những ai đã giúp đỡ nàng đều được nhớ tới và đền ơn xứng đáng. Thúc Sinh là một ví dụ.

Còn với Hoạn Thư, nàng kiên quyết trừng phạt.

Nhưng trước thái độ khôn ngoan kêu ca “đến mức, phải lời”, Kiều đã tha bổng. Nàng tha Hoạn Thư cho thấy Kiều là người không hẹp hòi, không nhỏ nhen, không cố chấp. Sự rộng lượng của nàng càng làm cho người ta, kể cả Hoạn Thư – kẻ thù, phải tâm phục, khẩu phục.

Hoạn Thư là một người phụ nữ nham hiểm và hết mực khôn ngoan.

3. Một số bài văn mẫu về đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Thái độ của Thúy Kiều trong 12 câu thơ đầu

12 câu đầu tả cảnh Thúy Kiều báo ân (trả ơn)

– Qua lời của Kiều nói với Thúc Sinh, em thấy Kiều là người như thế nào?

– Tại sao khi trả ơn Thúc Sinh, kiều lại nói với Thúc Sinh về Hoạn Thư? Có sự khác nhau như thế nào trong ngôn ngữ của Kiều khi nói với Thúc Sinh và khi nói về Hoạn Thư? Vì sao có sự khác nhau ấy

Bài Thúy Kiều báo ân báo oán

Giúp mình với mọi người ơi, mk đag soạn văn

Hướng dẫn soạn Thúy Kiều báo ân báo oán

Hướng dẫn soạn bài “Thúy Kiều báo ân báo oán ” – Trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du – Văn lớp 9