Văn Bản Dô Tả Dô Tà

Tuần 9 : Ngày 20 tháng 10 năm 2013Tiết 42:Chương trình địa phương phần vănVăn bản: dô tả dô tà ( Mạnh Lê) I. Mục tiêu cần đạt: Giúp Học sinh :1. Về kiến thức:– Bổ sung vào vốn hiểu biết về văn học địa phương bằng việc nắm được những tác giả và một số tác phẩm từ sau năm 1975 viết về địa phương mình.– Bước đầu biết cách sưu tầm tìm hiểu về tác giả, tác phẩm văn học ở địa phương Thanh Hoá như Mạnh Lê. 2. Về kĩ năng:– Rèn kĩ năng đọc và kĩ năng phân tích tác phẩm thơ địa phương Thanh Hoá. 3. Về thái độ:– Hình thành sự quan tâm và yêu mến đối với văn học địa phương. II. Chuẩn bị của thầy trò: 1.Giáo viên: . Tài liệu địa phương Thanh Hóa in tháng 10 năm 2013. 2. Học sinh: – Học sinh sưu tầm, tìm hiểu các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của điạ phương. III. Tổ chức các hoạt động dạy – học :1.Ổn định lớp: Kiểm diện sĩ số 2.Kiểm tra bài cũ: GV kiểm tra sự chuẩn bị của HS 3. Bài mới:

hoạt động của thầy và trò nội dung cần đạt

Hoạt động 1:Tổ chức đọc – hiểu .HS đọc phần giới thiệu tác giả, tác phẩm thể hiện trong bài thơ.

Hoạt động 2:? Tìm các chi tiết, hình ảnh đặc trưng nói về Thanh Hóa được sử dụng trong bài thơ ?

? Những biểu hiện này nói với em điều gì về quê hương xứ Thanh ?

? Phát biểu cảm súc của em khi học bài thơ- bài ca về đất và người xứ Thanh?

? Tình cảm của tác giả thể hiện như thế nào trong bài thơ ?

-Hoạt động 3;– Hướng dẫn HS khắc lại nội dung và nghệ thuật bài thơ.

Hoạt động 4:– Hs làm bài tập theo hướng dẫn của GV.I. Tìm hiểu chung:1. Tác giả, tác phẩm:( Xem chú thích * trong sách tài liệu trang 37)– Mạnh Lê khai sinh là Lê Văn Mạnh(1953-2008) quê thôn Trà Đông, Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa.Hội viên hội nhà văn Việt Nam.– Dôtả dô tà(1995)II. Phân tích:1.Hình ảnh đặc trưng của Thanh Hóa:– Có điệu hò Sông Mã dô tả dô tà, rau má, có câu hát điệu múa dân gian “ăn cơm bằng đèn đi cấy sáng trăng”– Lịch sử quê hương Thanh Hóa rạng ngời Vua Lê, Trạng Quỳnh đi vào nhân gian, truyền thống hiếu học, địa danh lịch sử cầu Hàm Rồng.– Giọng nói quê Thanh: Mô, tê, răng, rứa.

– Bằng những biểu hiện đặc trưng của đất và người Thanh Hóa, trên nèn nhịp điệu câu hò Sông Mã, một làn điệu dân cac quen thuộc, bài thơ là một bài ca, ca ngượi tự hào, tình yêu sâu nặng đối với quê hương Thanh Hóa mến yêu. Nơi đây có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, có những con người cần cù lao động, hiếu học, anh hùng, lạc quan, chân chất, giàu tình cảm dù trải qua trường kì gian khổ.2.Cảm nghĩ về bài thơ:* Bài thơ là một bài ca với âm điệu của giọng hà Sông Mã quen thuộc, bài thơ như một lời tâm sự, tự hào về quê hương sứ Thanh mến yêu. Nơi đây có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, có những con người cần cù lao động, hiếu học, anh hùng, lạc quan, chân chất, giàu tình cảm dù trải qua trường kì gian khổ.

III. Tổng kết: 1. Nội dung: Bài thơ bằng những biểu hiện đặc trưng của đất và người Thanh Hóa, trên nèn nhịp điệu câu hò Sông Mã, một làn điệu dân cac quen thuộc, bài thơ là một bài ca, ca ngượi

Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ngữ Văn Địa Phương Thông Qua Việc Thiết Kế Bài Giảng Cho Văn Bản Dô Tả Dô Tà Trong Chương Trình Ngữ Văn Lớp 9

Phần 1: Mở đầu 1.1. Lý do chọn đề tài Thực hiện Công văn số 5977/BGDĐT- GDTrH ngày 7/7/2008 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địa phương[4].Đến nay cả 3 môn Ngữ văn, Lịch sử và Địa lí (chương trình địa phương) đều đã trở thành môn học của các khối lớp.Với những nội dung lịch sử – văn hóa chọn lọc của địa phương, những tiết học này đang ngày một khẳng định được ý nghĩa quan trọng, Góp phần nâng cao kiến thức, hiểu biết về quê hương cũng như tình yêu quê hương cho các em học sinh. Đưa chương trình giáo dục địa phương vào giảng dạy tại các khối lớp bậc THCS là chủ trương đúng đắn, không chỉ mang ý nghĩa giáo dục kiến thức đơn thuần,mà học sinh còn có điều kiện hiểu sâu hơn,cụ thể hơn về môn học, có sự liên hệ thực tế rất gần gũi, tạo được hứng thú mới cho học sinh đối với các môn xã hội. Chương trình Ngữ văn địa phương là nhằm giới thiệu, cung cấp tri thức và tư liệu cụ thể, tương đối chính xác ở những lĩnh vực về văn học, ngôn ngữ, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, sinh hoạt văn hóa dân gian Thanh Hóa. Trên cơ sở đó sẽ tạo điều kiện để giáo viên và học sinh khai thác, bổ sung và phát huy vốn hiểu biết về Ngữ văn địa phương, từ đó sẽ góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng, giáo dục học sinh tình cảm yêu thương, tự hào về quê hương xứ sở của mình; giáo dục cho các em tinh thần trách nhiệm và thái độ hòa nhập tích cực, chủ động với địa phương, với quê hương ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Để đạt được những mục tiêu nói trên, thì trong quá trình giảng dạy giáo viên cần có một thiết kế bài giảng chi tiết khoa học, nội dung đầy đủ, phong phú, các kiến thức phải phù hợp với đối tượng học sinh. Để từ đó học sinh yêu thích giờ học ,chủ động tìm tòi học hỏi, thấy được cái hay cái quý của ngữ văn địa phương và từ đó các em thật sự yêu mến môn học này. Tuy nhiên qua quá trình giảng dạy tôi và đồng nghiệp gặp nhiều khó khăn khi thiết kế một giáo án cho tiết dạy văn bản trong chương trình NV địa phương. Ghi chú (giải thích cho việc Trích dẫn TLTK ở phần nêu trên): – Ở mục 1.1: Đoạn “Thực hiện công văn 5977…nội dung giáo dục địa phương” tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 4. Đoạn tiếp theo do tác giả tự viết ra.

1

Các giáo án đều có nội dung đơn giản,lượng kiến thức ngắn gọn,không tương xứng với thời lượng 45 phút và giá trị của văn bản đó. Trong giáo án giáo viên cũng chưa đưa được những phương pháp dạy học tích cực,chưa tích hợp được kiến thức ở những môn học khác. Vì thế tiết dạy trở nên nhàm chán, đối phó. Học sinh thì thơ ơ, thụ động trong giờ học. Mục đích chương trình ngữ văn địa phương chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Qua thực tế giảng dạy môn ngữ văn địa phương lớp 9- phần văn bản, tôi không khỏi trăn trở, suy nghĩ : Phải làm sao để xây dựng được một thiết kế bài giảng chi tiết, khoa học, vừa đáp ứng được yêu cầu của môn học, vừa tạo được hứng thú, yêu thích giờ đối với phần văn bản của chương trình ngữ văn địa phương cho học sinh. Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Từ những mẫu thuẫn giữa mục đích của chương trình ngữ văn địa phương và thực trạng dạy học ngữ văn địa phương. Tôi đưa ra thiết kế bài giảng cho văn bản ” Dô tả dô tà” trong chương trình lớp 9. Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học ngữ văn địa phương. 1.2.Mục đích nghiên cứu. Các hoạt động đều nhằm tới một mục đích nhất định. Việc thiết kế bài giảng cho tiết văn bản : “Dô tả dô tà” không nằm ngoài mục đích chung của chương trình ngữ văn nói chung, và văn học địc phương nói riêng. Với đề tài nghiên cứu này tôi nhằm đến mục dích cụ thể là: Cung cấp những kiến thức chi tiết, khoa học, phong phú cho giờ dạy; tạo ra niềm say mê, hứng thú với các tiết học văn bản địa phương cho học sinh. Và với một mức độ nào đó sáng kiến có thể thành tài liệu tham khảo cho Giáo viên và học sinh trong nhà trường. 1.3. Đối tượng nghiên cứu. Là học sinh khối 9 trường THCS Thúy Sơn, năm học 2014-2024. 1.4.Phương pháp nghiên cứu. – Phương pháp quan sát. – Phương pháp điều tra giáo dục. – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. 2

– Phương pháp thực nghiệm sư phạm Phần 2: Nội dung sáng kiến kinh nghiệm. 2.1.Cơ sở lí luận. Thực hiện công văn số 5977/BGDĐT- GDTrH ngày 7/7/2008 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục địa phương [4]. Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa đã ban hành khung phân phối chương trình ngữ văn đại phương THCS. Phân phối chương trình Ngữ văn THCS đã dành một thời lượng cụ thể và xác định cho từng tiết dạy phần văn học địa phương ở các lớp THCS. Tổng số tiết chương trình ngữ văn địa phương Thanh hóa là 21 tiết . Cùng với khung phân phối chương trình sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa cũng phát hành bộ sách giáo khoa địa phương bao gồm 3 môn: Ngữ Văn ,Lịch sử, Địa lí. Bộ sách đã cung cấp những kiến thức cơ bản cho học sinh. Trong đó bộ sách ngữ văn địa phương tích hợp 3 phân môn: Văn- Tiếng việt- Tập làm văn. Chương trình, nội dung này cũng sẽ góp phần bồi dưỡng, giáo dục ý thức tìm hiểu, giữ gìn, phát huy truyền thống văn học tỉnh Thanh Hóa, cũng như tinh thần, ý thức và hành động giữ gìn và bảo vệ truyền thống văn hóa nơi các em học sinh đang sinh sống. Phần văn học trong chương trình đóng vai trò rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng quyết định đến việc học sinh có yêu thích chương trình ngữ văn địa phương và học tập tốt hay không. Để đạt mục tiêu trên thì việc thiết kế bài giảng cho các tiết học ngữ văn địa phương là một yêu cầu mang tính cấp bách và hết sức thiết thực đối với việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh. Thiết kế bài giảng (giáo án) là quá trình lập kế hoạch và hiện thực hoá kế hoạch bài dạy học thành văn bản chi tiết, theo một trình tự lô gic những dự kiến mà giáo viên mong muốn sẽ thực thi trên lớp của mình để đạt mục tiêu bài dạy học. Thiết kế bài giảng là một khâu quan trọng để tạo nên thành công một giờ dạy học, đòi hỏi sự đầu tư trí tuệ, kinh nghiệm và thể hiện dấu ấn sáng tạo của người giáo viên, đặc biệt giáo viên Ngữ văn. Ghi chú (giải thích cho việc Trích dẫn TLTK ở phần nêu trên):- Ở mục 2.1: Đoạn “Thực hiện công văn 5977…nội dung giáo dục địa phương” tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 4. Đoạn tiếp theo do tác giả tự viết ra.

3

Công việc thiết kế bài giảng cho văn bản ” Dô tả dô tà” trong chương trình ngữ văn địa phương lớp 9 là cả một quá trình dày công nghiên cứu, sưu tầm, chắt lọc. Các phương pháp dạy học tích cực được đưa vào,tích hợp với kiến thức lịch sử, địa lí, âm nhạc phong phú, hệ thống câu hỏi nhiều mức độ, đảm bảo khai thác hết được giá trị của văn bản. Đáp ứng yêu cầu của hoạt động dạy và học chương trình ngữ văn địa phương. 2.2.Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. Như trên đã nói thiết kế giữ vai trò quan trọng trong việc thành công của giờ dạy, trong việc tạo sự yêu mến, hứng thú với môn học của học sinh. Nhưng trong chương trình ngữ văn địa phương THCS lại đang thiếu điều kiện này. Qua việc trao đổi và nắm bắt thông tin từ các đơn vị trường học có cấp học THCS trên địa bàn huyện nhà trong những năm qua. Tôi nhận thấy một thực trang chung là các tiết ngữ văn địa phương tài liệu giảng dạy rất ít. Nên hiệu quả giờ dạy chưa cao. Thực trạng trên có nguyên nhân từ nhiều phía. * Về phía giáo viên: Thực tế dạy – học chương trình Ngữ văn và địa phương của Thanh Hóa từ trước đến nay, giáo viên vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, từ nội dung đến cách thức tiến hành, trong đó khó khăn lớn nhất là nội dung dạy – học. Giáo viên chưa có điều kiện sưu tầm, biên soạn một chương trình, nội dung môn Ngữ văn địa phương để phục vụ công tác giảng dạy. Do đó, tiết học chỉ thực hiện một cách miễn cưỡng, chiếu lệ. Tài liệu tham khảo để thiết kế bài giảng rất ít. Nếu có các tài liệu chủ yếu là nằm rải rác ở các bài báo, các phóng sự truyền hình, các chuyên đề, tiểu luận, các tạp chí văn học nghệ thuât địa phương. Phải cần rất nhiều thời gian để sưu tầm. Tuy nhiên những tài liệu này cũng chỉ đề cấp đến một khía cạnh nào đó của vấn đề. Sách giáo khoa ngữ văn địa phương nội dung cũng đơn giản, chủ yếu đặt ra mục tiêu, vấn đề chung chung, khái quát. Điều này sẽ có tác động hai mặt: nó vừa là phần mở, phần chủ động, linh hoạt trong dạy và học kích thích sự tìm tòi, sáng tạo của thầy và trò nhưng đồng thời cũng dễ tạo tâm lí thả nổi, buông xuôi. 4

Sách thiết kế bài giảng ngữ văn địa phương nội dung ngắn gọn, chưa có phần tích hợp…Vì vậy việc dạy học chương trình địa phương hiện nay phụ thuộc nhiều vào trình độ, tâm huyết của giáo viên. Giáo viên nào biết nhiều thì dạy nhiều, giáo viên nào biết ít thì dạy ít, gây ra nhiều cách hiểu khác nhau. Mục đích dạy học ngữ văn địa phương chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. * Về phía nhà trường: Một số đồ dùng dạy học phục vụ cho một số tiết học như ti vi,, sách tham khảo, băng hình …đang còn thiếu. Nhà trường chưa đủ điều kiện về kinh tế, tài chính và thời gian để giáo viên và học sinh thực hiện những chuyến đi thực tế, được tận mắt nhìn, tận tai nghe và tận tay sờ các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, tiếp xúc với các nhà thơ, nhà văn tiêu biểu của địa phương. * Về phía học sinh Học sinh chưa được giao tiếp rộng, trình độ nhận thức còn hạn chế, việc tự học ở nhà hoặc tự sưu tầm những nội dung theo yêu cầu của giáo viên hầu như chưa thực hiện được. – Các em học sinh không hứng thú với tiết dạy, thò ơ, chán nản khi đến tiết ngữ văn địa phương nhất là các tiết văn bản. * Kết quả tiết học địa phương: Theo số liệu điều tra ở khối 9 năm học 20142024 số học sinh yêu thích tiết học rất ý, còn số học sinh chưa yêu thích thì quá hơn một nửa. Cụ thể như sau: Kết quả điều tra khi học sinh chưa được áp dụng SKKN năm học 2014 – 2024 STT Khối 1 2

Hs được hỏi Chưa yêu Bình 33 31

Yêu

Ghi chú

Nhìn thấy thực trạng dạy học các tiết văn bản trong chương trình địa phương hiện nay và nhận rõ vai trò của thiết kế bài giảng chi tiết, khoa học cho một tiết dạy. Tôi đã dành nhiều thời gian nghiên cứu, sưu tầm, chọn lọc tài liệu để tạo ra 5

Thiết kế bài giảng cho tiết văn bản “Dô tả dô tà “trong chương trình ngữ văn địa phương lớp 9. Tôi xin đưa ra đây để đồng nghiệp tham khảo, góp ý, bổ sung và hoàn thiên. 2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề. Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu về thiết kế bài giảng cho một giờ dạy từ các tài liệu trước đây. Cùng với đó là căn cứ vào công việc thực tế ở nhà trường tôi đã tiến hành thiết kế bài giảng theo các bước cụ thể. Trong đó chú trọng tích hợp các kiến thức của các môn học khác để nội dung phong phú, sinh động và hấp dẫn. Để tiến hành thiết kế bài giảng cho văn bản ” Dô tả đô tà” tôi đã tiến hành theo các bước sau : Bước 1: Nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài học[4]. Xác định mục tiêu bài học (kiến thức, kĩ năng, thái độ). Dựa vào phần kết quả cần đạt và phần ghi nhớ trong sách giáo khoa ngữ văn địa phương. Tôi xác định mục tiêu bài học. Phần kiến thức: trong bài học này phải giúp học sinh nắm được về tác giả Mạnh Lê và những tác phẩm tiêu biểu của ông. Về tác phẩm học sinh hiểu được những vẻ đẹp về truyền thống văn hóa, lịch sử, cảnh và người xứ Thanh. Phần kĩ năng: học sinh sẽ phải đạt được kĩ năng đọc diễn cảm bài thơ; kĩ năng phân tích một số hình ảnh trong bài thơ. Và thái độ của học sinh từ hiểu, vận dụng và hình thành tinh cảm yêu mến tự hào với quê hương Thanh Hóa. Xác định đúng mục tiêu bài học giúp giáo viên có định hướng cụ thể về nội dung sẽ truyền đạt tới học sinh. Đồng thời là căn cứ đối chiếu để đánh giá mức độ thành công của giờ dạy. Là căn cứ khoa học để giáo viên xác định cấu trúc tri thức bài học. Xác định cấu trúc tri thức bài học: là khâu tiếp theo, thể cụ thể hóa nội dung truyền đạt. Bài gồm nhiều đơn vị kiến thức, nhưng trọng tâm là phần những nét đẹp truyền thống văn hóa, lịch sử và phẩm chất con người xứ Thanh. Ghi chú (giải thích cho việc Trích dẫn TLTK ở phần nêu trên): – Ở bước 1 ” Nghiên cứu kĩ lưỡng nội dung bài học” tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 4. Đoạn tiếp theo do tác giả tự viết ra.

6

7

Học sinh trường THCS nói riêng và học sinh nói chung đều ngại học văn. Đặc biệt ở đây lại là ngữ văn địa phương thì tâm lí đó càng rõ ràng hơn. Tôi đã tìm hiểu đối tượng học sinh, và từ đó xây dựng nội dung các câu hỏi phù hợp với các em, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực. Các kiến thức học sinh có thể tự hình thành thông qua hoạt động đọc như: Kiến thức về tác giả, tác phẩm, thể loại. Phần phân tích văn bản cần được giáo viên cung cấp những kiến thức cần thiết, và hướng dẫn để các em khai thác kiến thức. Bước 5: Xác định phương pháp, biện pháp, phương tiện, các hoạt động, hành động, thao tác sẽ tiến hành trong bài học[4]. Tôi sử dụng các phương pháp: Đặt câu hỏi, nêu và giải quyết vấn đề,thuyết trình…Đồng thời sử dụng giáo án trình chiếu. Với phương pháp và phương tiện như vậy tôi tin chắc rằng học sinh sẽ khá hào hứng với giờ học. Và hiệu quả giờ học sẽ cao. Bước 6: Soạn bài theo tiến trình dạy học dự kiến[4]. Tiết 42: văn bản:

DÔ TẢ DÔ TÀ ( Mạnh Lê )

A. Mục tiêu cần đạt. 1. Kiến thức: – Giúp HS nắm khái quát về tác giả Mạnh Lê. – Hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp về truyền thống văn hóa, lịch sử,con người Thanh Hóa các hình ảnh cụ thể trong bài thơ[2]. 2. Kĩ năng. – Rèn luyện kĩ năng đọc và phân tích tác phẩm. – Rèn luyện kĩ năng tích hợp liên môn trong bài học. * Kĩ năng sống: Kĩ năng tự nhận thức, Kĩ năng tư duy sáng tạo… 3. Thái độ: Học sinh có lòng tự hào và tình yêu quê hương. Ghi chú (giải thích cho việc Trích dẫn TLTK) Ở bước 5 “xác định phương pháp … bài học”,bước 6 “Soạn bài..dự kiến” tác giả tham khảo nguyên văn từ TLTK số 4. mụĐoạn “Hiểu và cảm nhận…..hình ảnh cụ thể trong bài thơ” TLTK số 2 đoạn tiếp theo do tác giả tự viết ra. 8

Yêu cầu cần đạt I. Tìm hiểu chung

GV tổ chức cho HS đọc phần chú 1. Tác giả, tác phẩm: thích sách Chương trình địa phương, – Mạnh Lê (1953-2008), quê xã Thiệu Quan sát về chân dung nhà thơ:

Trung huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh

? Nêu những hiểu biết của em về nhà Hóa. thơ?

– Quê hương đã ảnh hưởng trực tiếp

– Quê hương đã ảnh hưởng như thế tới những sáng tác của ông. nào trong sáng tác của nhà thơ?

– Hoàn cảnh ra đời: sáng tác năm

– Hoàn cảnh ra đời bài thơ?

1995 bên bờ sông Mã.

GV hướng dẫn HS đọc văn bản: chậm 2. Đọc văn bản. rãi, nhấn giọng theo trường độ, nhịp. GV đọc mẫu một lần, gọi học sinh đọc lại. ? Bài thơ được chia thành mấy phần 3. Bố cục: 2 phần. và cho biết nội dung của từng phần?

– Phần 1: Hai khổ thơ đầu: Truyền thống lịch sử, văn hóa. 9

– Phần 2: Bốn khổ thơ còn lại: Phẩm chất con người xứ Thanh. II. Phân tích GV cho HS đọc lại 2 khổ thơ đầu.

1. Truyền thống văn hóa, lịch sử [1].

? Trong câu thơ đầu có hình ảnh nào – Sông Mã: Là nơi giao lưu buôn bán, đáng chú ý?

là con đường giao thông thuận tiện, là

?( Tích hợp với kiến thức địa lí) Hãy không gian sống, sinh tồn của nhân cho biết về sông Mã và ý nghĩa của dân hai bên bờ sông, là điểm trải nghiệ nó đối với người dân Thanh Hóa?

cho khách du lich, là nơi bồi đắp tình

– Nói về văn hóa nghệ thuật dân gian Thanh Hóa. + Điệu hò sông mã

?Những loại hình này gắn với hoạt + Dân ca đi cấy. động gì của người dân?

? Em hiểu gì về hai làn điệu dân ca này?

Các làn điệu Hò sông Mã được hát riêng của người dân Thanh Hóa. theo lối xướng – xô, câu kể của một người bắt cái (thường là người cầm lái) được luân phiên với câu đồng thanh phụ họa của các trai đò. Các điệu hò được thể hiện theo suốt chặng đường đò đi. Khi con thuyền bơi ngược dòng nước, người ta thể hiện điệu Hò đò ngược, sau mỗi câu kể của người bắt cái như hiệu lệnh để cùng thống nhất động tác lấy đà, các trai đò vừa hùa nhau hát câu xô vừa chống sào đẩy thuyền tiến về phía trước. Chưa hết, con thuyền đôi khi còn phải đối đầu với thác gềnh nữa, cả câu xướng lẫn xô trong Hò vượt thác đều ngắn gọn, chắc nịch. Khi thuyền thong dong trôi theo dòng nước êm ả, người giữ tay lái cất giọng hò các làn điệu Hò xuôi dòng, bốn trai đò chia ra hai bên mạn thuyền thong thả chèo vừa hòa giọng xô vừa nhịp nhàng giậm chân lên mặt ván. GV sử dụng phương pháp trực quan, HS lắng nghe và quan sát các làn điệu dân ca Thanh Hóa và điệu hò sông Mã qua video trình chiếu. Gv gọi một học sinh hát vài câu dân ca “Đi cấy”? GV và HS nhận xét, đánh giá. 11

? Ngoài các làn điệu dân ca đặc trưng tác giả còn nhắc đến truyền thống gì – Truyền thống hiếu học. của người Thanh Hóa ?

+ Vượt khó để học.

? Truyền thống hiếu học của người

+ Gia đình, xã hội rất quan tâm.

Thanh Hóa được thể hiện như thế

+ Học giỏi thành danh.

nào? Gv: có nhiều học sinh giỏi nổi tiếng, vượt khó vươn lên đáng khâm phục như bạn Lê Thị Thắm, viết chữ bằng chân hiện đang học đại Hồng Đức. ? Về truyền thống lịch sử tác giả nhắc tới những triều đại nào?

– Triều đại Nhà Lê

thái bình cho dân và sự Thịnh vượng

? Ngoài nhà Lê tác giả còn nhắc tới cho quốc gia dân tộc. một nhân vật lịch sử nổi tiếng với sự – Nhân vật trạng Quỳnh: Là đại diện thông minh, hài hước. Đó là nhân vật của tầng lớp nhân dân, đứng về phía nào?

nhân dân với trí tuệ, tài năng và chất

? Nhân vât trạng Quỳnh có ý nghĩa gì hóm hỉnh dân gian trong mình. với đời sống nhân dân?

GV: Trạng Quỳnh tức Nguyễn Quỳnh vị một thần. là một danh sĩ thời Lê-Trịnh. Quê ở làng Bột Thượng nay là xã Hoằng Lộc, huyện Hoằng hóa tỉnh Thanh Hóa. Ông nổi tiếng với sự trào lộng, hài hước tạo nên nhiều giao thoại nên trong dân gian vẫn thường gọi là trạng Quỳnh. Các truyện nôi tiếng về ông 12

truyền thống văn hóa, với những trang sử hào hùng và những con người kiệt xuất.

Gv cho Hs đọc khổ thơ 3,4,5,6.

2.Phẩm chất của con người xứ

? Câu thơ: ” Một chiếc cầu sắt gánh Thanh.[1]. ngàn tấn bon” tác giả nhắc tới địa – Cầu Hàm Rồng: danh nào?

+ Biểu tượng cho sức mạnh của quân

? ( Tích hợp với kiến thức lịch sử và và dân Thanh Hóa trong kháng chiến địa lí).Em những hiểu biết của mình chống Mĩ. về cầu hàm rồng?

+ Là di tích lịch sử vô giá.

GV: Cầu Hàm Rồng cách TP Thanh

+Là điểm tham quan du lịch.

Hóa 4 Km về phía bắc. Cầu được xây dựng năm 1904 dưới thòi pháp thuộc và được xây mới lại năm 1962 khánh thành ngày 19/5/1964.Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, là trọng điểm đánh pha và bảo vệ cầu. Mỹ liên tục đáng phá với cường độ cao và nhiều chiến thuật khác nhau: Hàng trăm tấn bom mỹ ném xuống, nhằm làm hư hỏng cầu, cắt đứt con đường bắc-nam. 13

Các đơn vị của ta ngày đêm bảo vệ cầu, đã chiến đấu hàng trăm trận, bắn roi hơn 100 máy bay các loại. Trung đoàn pháo phòng không 228 bảo vệ cầu được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. ? Khổ thơ thứ 3 như là một bức tranh, – Bức tranh quê hương với các hình bức tranh đó có những hình ảnh nào?

ảnh :

HS trả lời GV nhận xét.

+ Cây cầu + Mặt trời + Dòng nước xanh

?Nêu cảm nhận của em về bức tranh + Vách đá hai bờ sông. miền quê Thanh Hóa?

HS trả lời GV nhận xét.

nước hữu tình, hùng vĩ.

GV cho HS quan sát bức tranh cầu Hàm Rồng trên máy chiếu. ? Khổ thơ tiếp theo cho ta biết nét – Ngôn ngữ địa phương : mô, tê, riêng biệt nào của người Thanh Hóa?

? Tình cảm, cuộc sống của người dân – Tình cảm, cuộc sống con người : được thể hiện như thế nào?

+ Miền ngược, miền xuôi không phân biệt, yêu thương và gắn bó với nhau. + Họ cùng nhau vượt qua gian khổ khó khăn.

? Tác giả đã sử dụng nghệ thuật gì và – Nghệ thuật: tác dụng của nó trong hai câu thơ:

+ Nhân hóa- cuộc đời sông: như cuộc

Một cuộc đời sông bao đời thuyền nát

đời con người lúc thăng, lúc trầm, lúc

Mãi còn câu hát vỗ vào ánh trăng.

đầy, lúc vơi… + Ẩn dụ- thuyền nát: nỗi khó khăn vất 14

nhưng họ vẫn luôn lạc quan, tin tưởng vào cuộc đời. Đó là phẩm chất vô cùng đáng quý.

thống lịch sử, văn hóa vẻ vang, với anh hùng hào kiệt , thiên nhiên hữu

.

tình, con người kiên cường, chân chất, lạc quan trong cuộc sống GV tổ chức cho HS khái quát về nội III. Tổng kết

dung và nghệ thuật của bài thơ.

1.Nghệ thuật.

? Nêu những nét đặc sắc về nghệ thuật – Giọng điệu tâm tình. của bài thơ?

– vận dụng nền nhịp điệu của điệu hò

GV tổ chức cho HS khái quát về nội sông Mã, làm cho bài thơ mang âm 15

dung và nghệ thuật của bài thơ.

hưởng dân ca. – Nghệ thuật nhân hóa, ẩn dụ… 2.Nội dung. – Truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời. – Niềm tự hào và tình yêu sâu nặng

với quê hương đất nước. 4.Củng cố: Gv cho HS đọc phần ghi nhớ sgk 5. Hướng dẫn học ở nhà: – Học thuộc lòng bài thơ. – Nắm chắc nội dung và nghệ thuật bài thơ. 2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường Qua quá trình nghiên cứu thiết kế bài giảng và đưa vào giảng dạy ở hai lớp 9 năm học 2014-2024. chúng tôi đã có được những kết quả đáng mừng. Nếu trước đó dạy theo phần chuẩn bị cũ: nội dung bài học đơn giản, ít kiến thức, không tích hợp được kiến thức các môn học khác. Tiết học rời rạc, đối phó, học sinh thờ ơ, thụ động, số học sinh không yêu ngữ văn địa phương chiếm hơn 2/3 thì nay khi áp dụng thiết kế bài giảng mới tiết học trở nên sôi nổi, học sinh hoạt động tích cực, có em đã thuộc bài thơ ngay trong giờ học.Số học sinh yêu ngữ văn địa phương tăng lên. Cụ thể như sau: Ghi chú (giải thích cho việc Trích dẫn TLTK ở phần nêu trên):- Ở bước 6 ” soạn bài..dự kiến” Đề mục: Truyền thống lịch sử , văn hóa; Đề mục; phẩm chất con người xứ thanh tác giả tham khảo từ TLTK số 1. Các đoạn khác do tác giả tự viết ra.

Kết quả khi đã áp dụng SKKN năm học 2014 – 2024 STT 1 2

Khối

Hs được hỏi

Chưa yêu

Bình

Yêu

Ghi chú

là thành công, dù là rất nhỏ.Nhưng sẽ là cách làm mới để tôi thực hiện các nội dung tiếp theo và cũng là kinh nghiệm để tôi phất triển thêm trong những năm tới; 16

XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thúy Sơn, ngày 26 tháng 02 năm 2024 Người viết

Phạm Thị Anh

18

19

Soạn Bài Chiếu Dời Dô Siêu Ngắn

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Trả lời câu 1 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

– Các triều đại lớn trước đó dời đô nhằm mục đích mưu toan nghiệp lớn, xây dựng vương triều thịnh vượng, mở tương lai lâu bền cho thế hệ sau. Kết quả các cuộc dời đô mang lại sự bền vững, hưng thịnh cho quốc gia.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

– Theo Lý Công Uẩn, kinh đô cũ ở vùng Hoa Lư (Ninh Bình) của hai triều Đinh, Lê không còn phù hợp:

+ Hai nhà Đinh, Lê tự làm theo ý mình, khinh thường mệnh trời, không theo dấu cũ nhà Thương Chu.

+ Triều đại không hưng thịnh, vận nước ngắn ngủi, nhân dân khổ cực, vạn vật không thích nghi.

+ Việc đóng đô của hai triều Đinh, Lê vẫn cứ đóng đô ở Hoa Lư chứng tỏ thế và lực của cả hai triều chưa đủ mạnh (vẫn còn dựa vào thế núi sông).

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2) – Theo Lý Công Uẩn, những thuận lợi của thành Đại La:

+ Từng là kinh đô cũ của Cao Vương.

+ Địa hình: rộng rãi, bằng phẳng, cao ráo, thoáng đãng, không bị lụt, muôn vật phong phú.

+ Chính trị, văn hóa: chốn hội tụ bốn phương trời, mảnh đất muôn vật tốt tươi.

+ Vị trí: trung tâm trời đất, thế rồng cuộn hổ ngồi.

– Về lí lẽ:

+ Lý Thái Tổ đã nêu sử sách làm tiền đề chứng minh cho việc dời đô là hoàn toàn hợp lý thuận lẽ trời.

– Về tình cảm:

+ Sau khi đưa ra hàng loạt lí lẽ chặt chẽ, đến câu cuối cùng không phải là một mệnh lệnh của vua ban mà là một câu hỏi mang tính chất đối thoại.

Trả lời câu 5 (trang 51 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

+ Tác dụng: tạo sự đồng cảm giữa dân chúng và nhà vua, vừa thể hiện tinh thần dân chủ, đồng thời làm tăng thêm sức thuyết phục của bài chiếu.

Câu 5 Chứng minh Chiếu dời đô có kết cấu chặt chẽ, lập luận giàu sức thuyết phục. Trả lời:

Dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng chứng tỏ triều đình nhà Lý đủ sức chấm dứt nạn phong kiến cát cứ, thế và lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang hàng phương Bắc.

… ” Chiếu dời đô được chia thành hai phần lớn với hệ thống lí lẽ được triển khai sắc sảo mà đầy thuyết phục. Ngôn từ của văn bản tuy rất kiệm lời mà ý tứ thì thấm đượm sâu xa.

Bố cục

Thiên đô chiếu mở đầu bằng việc nêu ra mục đích quan trọng của việc dời đô. Dời đô là để ” ở nơi trung tâm” tiện ” mưu toan việc lớn” và cũng là để ” tính kế muôn đời cho con cháu về sau “. Dời đô cũng có nghĩa là để trên thì hợp mệnh trời, dưới thì thấu đạt ý dân. Như vậy dời đô thực là để xây dựng đất nước mạnh giàu, đem lại hạnh phúc và nền thái bình thịnh trị đời đời. Xét về lí, việc dời đô, đến đây, quả thực vô cùng quan trọng. Nhưng để cho chân lí được vững chãi hơn, nhà vua đã dẫn ra những chứng nhân của lịch sử để dễ dàng thu phục nhân tâm.”…

Bố cục: 3 phần

– Phần 1. “Xưa nhà Thương… không dời đổi”: Cơ sở lịch sử và thực tiễn của việc dời đô.

– Phần 2. “Huống gì thành Đại La…. đế vương muôn đời”: Lí do chọn thành Đại La làm kinh đô

ND chính

– Phần 3. Đoạn còn lại: Quyết định dời đổi.

chúng tôi

Chiếu dời đô phản ánh khát vọng của nhân dân về một đất nước độc lập, thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc Đại Việt đang trên đà lớn mạnh.

Soạn Bài Lớp 9: Miêu Tả Trong Văn Bản Tự Sự

Soạn bài: Miêu tả trong văn bản tự sự

I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Yếu tố miêu tả có vai trò gì trong văn bản tự sự

Đọc đoạn trích sau đây và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

(1) Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền 3 tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính khỏe mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng dắt dao ngắn, hai mươi người khác đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất”, vua Quang Trung cưỡi voi đi đốc thúc, mờ sáng ngày mùng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra, chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự hại mình.

Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che, vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy đều cầm dao chém bừa, những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh.

Quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại.

(Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí)

Tóm tắt các sự việc chính trong đoạn trích văn bản tự sự trên.

Vua Quang Trung cho ghép ván lại, cứ mười người khiêng một bức, rồi tiến sát đến đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh bắn ra, không trúng người nào, sau đó phun khói lửa. Quân của vua Quang Trung khiêng ván nhất tề xông lên mà đánh. Quân Thanh chống đỡ không nổi, tướng Thanh là Sầm Nghi Đống thắt cổ chết. Quân Thanh đại bại.

Gợi ý: Tóm tắt các sự việc trong văn bản tự sự tức là trả lời câu hỏi: Văn bản kể về những sự việc gì? Bản thân các sự việc của câu chuyện được đặt theo trình tự trước – sau đúng như nó diễn ra trong câu chuyện chỉ thể hiện được rất hạn chế diễn biến cụ thể, sinh động của câu chuyện (như đoạn văn trên). Sở dĩ như vậy bởi vì muốn tái hiện một cách cụ thể, sinh động, hấp dẫn diễn biến các sự việc trong câu chuyện, người ta phải kết hợp sử dụng yếu tố miêu tả. Ở đoạn văn trên, là sự lắp ghép các sự việc, yếu tố miêu tả đã bị tước đi, vì thế không tái hiện được diễn biến của trận đánh.

II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1. Đọc lại hai đoạn trích Chị em Thuý Kiều và Cảnh ngày xuân để tìm những yếu tố tả người và tả cảnh.

Trong đoạn trích Chị em Thuý Kiều: Có một câu tả cảnh (Êm đềm trướng rủ màn che); còn lại chủ yếu là các hình ảnh tả tài sắc của Thuý Kiều và vẻ đẹp của Thuý Vân. Các hình ảnh thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên được lấy để khắc hoạ vẻ đẹp của hai nhân vật chứ không phải để tả thiên nhiên. Đây là đặc điểm ước lệ của văn học trung đại.

Trong đoạn trích Cảnh mùa xuân:

Chú ý các hình ảnh tả cảnh: con én đưa thoi; Cỏ non xanh tận chân trời; Cành lê trắng điểm một vài bông hoa; Ngổn ngang gò đống kéo lên; Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay; Tà tà bóng ngả về tây; phong cảnh có bề thanh thanh; Nao nao, dòng nước uốn quanh; Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Tả người: Gần xa nô nức yến anh; Dập dìu tài tử giai nhân; Ngựa xe như nước, áo quần như nêm; Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

2. Các yếu tố miêu tả trong hai trích đoạn Chị em Thuý Kiều và Cảnh ngày xuân có tác dụng gì trong việc thể hiên nội dung?

Gợi ý: Chú ý vai trò của yếu tố miêu tả trong việc khắc hoạ vẻ đẹp của hai chị em Thuý Kiều. Nhờ yếu tố miêu tả, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp khác nhau giữa hai chị em Thuý Kiều như thế nào? Yếu tố miêu tả có tác dụng gì trong việc ca ngợi vẻ đẹp của con người và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh?

3. Dựa vào đoạn trích Cảnh ngày xuân, hãy tưởng tượng và viết một đoạn văn tự sự có sử dụng yếu tố miêu tả kể về việc chị em Thuý Kiều đi chơi trong chiều Thanh Minh.

Gợi ý: Xác định nội dung của đoạn văn: sự việc, nhân vật, phong cảnh, diễn biến cuộc du xuân. Trong đó, chú ý dựa vào những hình ảnh gợi tả ở đoạn trích để miêu tả về cảnh đẹp ngày xuân, khung cảnh chơi xuân nhộn nhịp, cảnh chiều tà, dáng vẻ của chị em Thuý Kiều khi chuẩn bị ra về,…

4. Viết một đoạn văn giới thiệu về vẻ đẹp của chị em Thuý Kiều.

Gợi ý: Không nên dùng lại y nguyên những hình ảnh ước lệ trong đoạn trích Chị em Thuý Kiều để giới thiệu mà phải biết liên tưởng từ những hình ảnh gợi tả mà tác giả sử dụng để làm nổi bật vẻ đẹp của hai nhân vật này theo cảm nhận của riêng mình. Chú ý đảm bảo mạch giới thiệu theo câu chuyện (ở đây là việc giới thiệu về gia đình Thuý Kiều, trình tự giới thiệu từ Thuý Vân đến Thuý Kiều, từ vẻ đẹp hình thức đến tài hoa,…).

Theo chúng tôi

Soạn Bài Miêu Tả Trong Văn Tự Sự Trang 92 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

Hướng dẫn trả lời câu hỏi và các bài tập phần soạn bài Miêu tả trong văn tự sự trang 92 SGK Ngữ văn 9 tập 1 để em hiểu hơn về tầm quan trọng của yếu tố miêu tả trong văn bản tự sự và biết cách đưa yếu tố này vào trong văn một cách linh hoạt, hợp lí, giúp truyện kể hấp dẫn, thú vị hơn.

Soạn bài Miêu tả trong văn tự sự trang 92 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Soạn bài Miêu tả trong văn bản tự sự, Ngắn 1

I. Tìm hiểu yếu tố miêu tả trong văn bản tự sựCâu 1: Đọc đoạn tríchCâu 2:a. Đoạn trích kể về trận đánh đồn Ngọc Hồi của quân Tây Sơn. Nhân vật vua Quang Trung là người chỉ huy trực tiếp.b. Các chi tiết miêu tả trong đoạn trích:– cứ ghép liền ba tấm làm một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín.– dàn thành trận chữ “nhất”– khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì– đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém bừa, những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh;– bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết;– chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối.c. Nếu chỉ kể sự việc diễn ra như thế thì nhân vật vua Quang Trung không nổi bật. Trận đánh cũng không sinh động.Luyện tậpCâu 1:– Những yếu tố tả người trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều:+ Tả chung vẻ đẹp của hai chị em:Mai cốt cách tuyết tinh thần,Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.+ Tả riêng về Thúy Vân:Vân xem trang trọng khác vời,Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.Hoa cười ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.+ Tả riêng về Thúy Kiều:Kiều càng sắc sảo mặn mà,So bề tài sắc lại là phần hơn:Làn thu thủy nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.Một hai nghiêng nước nghiêng thành.Sấc đành đòi một tài dành họa hai.Thông minh vốn sẵn tính trời,Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.– Yếu tố tả cảnh trong đoạn trích Cảnh ngày xuân:+ Ngày xuân con én đưa thoi,…+ Cỏ non xanh tận chân trời,Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.+ Gần xa nô nức yến anh,+ Dập dìu tài tử giai nhân,Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.+ Ngổn ngang gò đống kéo lên.Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.Tà tà bóng ngả về tây,+ Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.Nao nao dòng nước uốn quanhDịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.Nếu không có những yếu tố miêu tả thì nội dung của đoạn trích sẽ nghèo nàn và đơn giản. Trong trường hợp xem xét ở trên, giả sử tước bỏ yếu tố miêu tả thì giống như đã tước bỏ hầu hết nội dung của đoạn trích, chỉ còn lại một số câu thơ kể chuyện.Câu 2: Đoạn văn kể chuyện chị em Thúy Kiều đi chơi tiết Thanh minh:Trời tháng ba thật đẹp. Bầu trờ trong sáng với đàn chim én chao lượn. Bao nhiêu tài tử, giai nhân nô nức đổ về lễ hội. Ngựa xe đông như nước chảy. Quần là áo lượt của các chàng và các nàng dập dìu chen nhau chật như nêm. Những đôi giày của những bàn chân nam thanh, nữ tú lướt nhẹ êm trên thảm cỏ xanh. Người ta đổ dồn hết lên những gò đống để rắc vàng thoi, đốt tiền giấy, thắp hương cho những ngôi mộ. Chị em Thúy Kiều cũng hòa lẫn trong số người mải mê, say sưa đó. Khi bóng đã tà tà ngả về tây, chị em Thúy Kiều cũng hòa lẫn trong số người mải mê, say sưa đó. Khi bóng đã tà tà ngả về tây, chị em Thúy Kiều thơ thẩn dan tay ra về. Lúc này họ bước chầm chậm theo một dòng suối nhỏ, nước trong vắt. Dòng nước uốn quanh, chảy chầm chậm, luồn dưới một cây cầu nho nhỏ trông thật thơ mộng. Tâm trạng mọi người cũng xao xuyến, nao nao.

Xem trước và xem lại các bài học gần đây để học tốt Ngữ Văn lớp 9 hơn

– soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích Truyện Kiều, Nguyễn Du– soạn bài Trau dồi vốn từ– Soạn bài Thuật ngữ

Soạn bài Miêu tả trong văn bản tự sự, Ngắn 2 I, Yếu tố miêu tả trong văn bản tự sự

Câu 1 (trang 91 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1): Đọc đoạn tríchCâu 2 (trang 91 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):a, – Đoạn trích kể về trận đánh vua Quang Trung đánh chiếm Ngọc Hồi– Vua Quang Trung dẫn dắt, điều khiển trận đấu, ra lệnh cho binh sĩ phải làm những việc gì, làm như thế nào– Vua Quang Trung xuất hiện một cách hùng dũng, oai phong, đầy mưu lượcb, – Các câu văn miêu tả+ Nhân có gió bắc … tự mình hại mình+ Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết+ Quân Tây Sơn … quân Thanh đại bại– Các chi tiết ấy nhằm thể hiện sự thất bại của quân Thanh và sự chiến thắng của tac, – Trận đánh không sinh động và Vua Quang Trung không nổi bật– Bởi vì thiếu đi những chi tiết miêu tả đặc sắc– Yếu tố miêu tả giúp cho tác phẩm trở nên sinh động và hấp dẫn hơn

Luyện tập

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-mieu-ta-trong-van-tu-su-37707n.aspx Câu 1 (trang 92 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):+ Yếu tố miêu tả ngườiVân xem trang trọng khác vời,Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.Hoa cười ngọc thốt đoan trang,Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.Kiều càng sắc sảo, mặn mà,So bề tài, sắc, lại là phần hơn.Làn thu thủy, nét xuân sơn,Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.+ Yếu tố tả cảnhNgày xuân con én đưa thoi,Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.Cỏ non xanh tận chân trời,Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.Tà tà bóng ngả về tây,Chị em thơ thẩn đan tay ra về.Bước dần theo ngọn tiểu khê,Lần xem phong cảnh cỏ bề thanh thanh.Nao nao dòng nước uốn quanh,Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.– Các yếu tố này đều góp phần làm cho câu văn trở nên sinh động, giàu chất trữ tình. Đặc biệt nó còn mang tính dự báo và là nơi gửi gắm tâm tư tình cảm của nhân vậtCâu 2 (trang 92 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):Cùng với nhịp bước của mùa xuân, hai chị em Thúy Kiều cũng hòa vào dòng mình đi lễ, trảy hội. Trong tiết thanh minh, mọi người đi tảo mộ, viếng và sửa sang phần mộ của người thân. Không khí đông vui, rộn ràng như thêm phần náo nhiệt khi đoàn người trảy hội đều là những “tài tử giai nhân” ,nam thanh nữ tú. Trên con đường nhỏ, ngựa xe đi lại tấp nập, ai cũng muốn trong tiết trời xuân ấm áp dành thời gian để nhớ về tiên nhân, tri ân những công lao của người đã khuất. Những nén hương được thắp lên, những thoi vàng, tiền giấy được rắc ra như những cây cầu nối liền giữa âm và dương để nhắc nhở con cháu không bao giờ được quên quá khứ, nguồn cội của mình. Đó là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ ngàn đời nay….Câu 3 (trang 92 Ngữ Văn lớp 9 Tập 1):Tác giả dùng 16 câu thơ để miêu tả về Thúy Kiều “càng” nhấn mạnh vẻ “sắc sảo mặn mà” ở cô hơn hẳn Thuý Vân. Vân là em nhưng được nói đến trước thì ra bởi tác giả muốn lấy Vân làm nền cho vẻ đẹp nổi bật của Kiều. “Sắc sảo” và “mặn mà” đều có tác dụng vừa gợi tả nhan sắc, vừa gợi tả tính cách, tài trí. Nhắc đến nét đẹp của mĩ nhân xưa, ta thường nghĩ đến vẻ liễu yếu đào tơ tha thướt. Bởi vậy, sự “sắc sảo mặn mà” của Thuý Kiều hẳn là điều đặc biệt. Sử dụng hai từ láy đầy sức gợi “sắc sảo”, “mặn mà” tác giả như muốn khắc sâu vào tâm trí người đọc vẻ đẹp nổi bật “khác thường” này của người con gái Vương Thuý Kiều. Nhan sắc của nàng được gợi tả bằng các hình ảnh mang tính ước lệ: thu thuỷ, xuân sơn, hoa, liễu. Việc gợi tả vẻ đẹp của đôi mắt “làn thu thuỷ” ý chỉ đôi mắt trong sáng như nước mùa thu, gợi vẻ lanh lợi, sắc sảo hơn người. Nhưng làn nước mùa thu cũng gợi những thoáng buồn u ẩn nên điều đó còn thể hiện một tâm hồn tinh tế, có phần đa mang. Trong câu thơ “Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”, khác với Thuý Vân, chúng lại báo trước một cuộc đời dông bão bị ghen ghét, đố kị, vùi dập của nhân vật Thúy Kiều.