Soạn Văn 8 Tập 1 Bài Nói Quá / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Bài Nói Quá Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

1. Bài tập 1, trang 102, SGK.

Tìm biện pháp nói quá và giải thích ý nghĩa của chúng trong các ví dụ sau:

a)

Bàn tay ta làm nên tất cả Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

(Hoàng Trung Thông, Bài ca vỡ đất)

b) Anh cứ yên tâm, vết thương mới chỉ sướt da thôi. Từ giờ đến sáng em có thể đi lên đến tận trời được.

(Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng)

Trả lời:

c) […] Cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn mời hắn vào nhà xơi nước.

(Nam Cao, Chí Phèo)

Muốn tìm biện pháp nói quá và thấy được ý nghĩa của nó, cần phải nắm vững hai đặc điểm của biện pháp nói quá là tính chất phóng đại trong diễn đạt và mục đích nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. Ví dụ, ở câu (c), thét ra lửa là biện pháp nói quá. Trong thực tế chẳng ai thét được ra lửa. Nghĩa của thét ra lửa là “rất hống hách, nói năng quát tháo ai cũng phải nể sợ”.

Trả lời:

2. Bài tập 2, trang 102, SGK.

Điền các thành ngữ sau đây vào chỗ trống /…/ để tạo biện pháp tu từ nói quá: bầm gan tím ruột, chó ăn đá gà ăn sỏi, nở từng khúc ruột, ruột để ngoài da, vắt chân lên cổ. a) Ở nơi l…l thế này, cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

Để làm tốt bài tập này, trước hết cần phải tìm hiểu ý nghĩa của mỗi thành ngữ đã cho, sau đó lần lượt tìm hiểu ý khái quát của mỗi câu đã được cho để chọn thành ngừ thích hợp điền vào chỗ trống. Ví dụ, thành ngữ Chó ăn đá gà ăn sỏi có ý nghĩa là “thuộc nơi đất đai cằn cỗi, trơ trọi, khó bề làm ăn và luôn luôn đói kém, nghèo khổ”. Thành ngữ này điền vào chỗ trống ở câu (a) là thích hợp.

Trả lời:

3. Bài tập 3, trang 102, SGK.

Đặt câu với các thành ngữ dùng biện pháp nói quá sau đây: nghiêng nước nghiêng thành, dời non lấp biển, lấp biển vá trời, mình đồng da sắt, nghĩ nát óc.

Tương tự như ở bài tập 2, trước hết phải tìm hiểu nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng) của thành ngữ rồi mới đặt câu. Ví dụ : Nghiêng nước nghiêng thành có nghĩa bóng chỉ sắc đẹp tuyệt vời, có sức lôi cuốn kì diệu của người phụ nữ.

Đặt câu : Đến năm mười sáu tuổi, nàng đã nổi tiếng đàn thơ cung kiếm và có một sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành.

(Trịnh Cao Tường, Non nước Đồ Sơn)

Trả lời:

4. Bài tập 4, trang 103, SGK.

Tìm năm thành ngữ so sánh có dùng biện pháp nói quá.

Làm theo mẫu trong SGK.

5. Bài tập 5, trang 103, SGK.

Viết một đoạn văn hoặc làm một bài thơ có dùng biện pháp nói quá.

Trả lời:

6. Bài tâp 6*, trang 103, SGK.

Phân biệt biện pháp tu từ nói quá với nói khoác.

Nói quá, với tư cách là một biện pháp tu từ, và nói khoác giống nhau ỏ chỗ cả hai đều dùng cách nói phóng đại. Vậy nói quá và nói khoác khác nhau ở chỗ nào ? Để giải đáp câu hỏi này, cần xét xem mục đích của mỗi hành động là gì. Nên tìm một số ví dụ về trường hợp nói khoác mà em biết.

7. Thay những từ ngữ nói quá trong các câu sau bằng từ ngừ thông thường mà tương ứng về nghĩa cơ bản để thây rõ tác dụng biểu cảm của câu văn giảm sút do không dùng biện pháp nói quá.

a) Khi gặt xong, sẵn thóc rơi vãi ngoài ruộng, đàn vịt chóng lớn như thổi.

b) Thằng ấy vào loại rán sành ra mỡ đấy.

Trả lời:

c) Năm ấy mất mùa, gạo châu củi quế, đời sống nông dân vô cùng khốn khổ.

d) Trại giặc im lìm chúng đang ngủ say như chết.

chúng tôi

Từ ngữ thông thường ở đây là những từ ngữ dùng để thay thế cho từ ngữ nói quá mà câu văn vẫn giữ được ý nghĩa tương tự, chỉ có điều là tác dụng nhấn mạnh, gây ấn tượng biểu cảm như câu có dùng từ ngữ nói quá đã giảm đi nhiều.

Soạn Bài Nói Quá Lớp 8, Ngữ Văn 8

Hướng dẫn soạn bài Nói quá trang 101 SGK Ngữ văn 8 tập 1 để em làm quen với một biện pháp tu từ nghệ thuật bên cạnh biện pháp so sánh, ẩn dụ,… đã học nhằm làm tăng sức biểu đạt cho câu thơ, câu văn, giúp cách diễn thêm hay và giàu ý nghĩa.

Soạn bài Nói quá

Soạn bài Nói quá, Ngắn 1

I. Nói quá và tác dụng của nói quá

Câu 1.Cách nói“Đêm tháng năm chưa nằm đã sángNgày tháng mười chưa cười đã tối”🡪 Đây là cách nói phóng đại🡪 Câu này thực chất muốn nói thời gian tháng năm và tháng mười là rất ngắn

Câu 2: Nhấn mạnh quy mô, tính chất của sự việc, hiện tượng, khuyên chúng ta cần biết trân quý thời gian, sắp xếp thời gian sao cho phù hợp.

Câu 1.

Câu 2.a. Điền vào chỗ chấm ” chó ăn đá gà ăn sỏi“b. Điền vào chỗ chấm ” bầm gan tím ruột“c. Điền vào chỗ chấm ” ruột để ngoài da“d. Điền vào chỗ chấm ” nở từng khúc ruột“e. Điền vào chỗ chấm ” vắt chân lên cổ mà chạy “

Câu 3.

Hoa hậu Đỗ Mỹ Linh có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành

Dù dời non lấp biển nhân dân ta vẫn quyết chí đồng lòng

Chỉ cần có ý chí, chúng ta có thể lấp biển vá trời

Dù có mình đồng da sắt tôi cũng không chịu được cái thời tiết mùa hè nóng nực

Tôi nghĩ nát óc mà vẫn chưa giải quyết được vấn đề

Câu 4.

Đẹp như tiên sa cá lặn

Ăn như thuồng luồng

Khỏe như trâu

Đen như cột nhà

Dữ như cọp

Câu 5: Chủ nhật tuần trước, Minh được Hùng mời đến dự sinh nhật. Minh vốn là một cô gái xinh đẹp. Vẻ đẹp của Minh có thể ví như tiên sa cá lặn, cô bé ngoan ngoãn, học giỏi, luôn giúp đỡ mọi người nên được bạn bè yêu mến. Hùng cũng quý mến Minh vì tất cả những nét tính cách tốt đấy. Hùng tỏ ra rất vui mừng khi Minh đến và vui mừng nở từng khúc ruột khi được Minh khen ngợi về sự chỉnh chu của bản thân trong buổi sinh nhật đó.

I. NÓI QUÁ VÀ TÁC DỤNG CỦA NÓI QUÁCâu 1:Thực chất là sự phóng đại mức độ, tính chất nội dung của các câu này.

II. LUYỆN TẬPCâu 1:a. Ý nghĩa: Lao động đã mang lại cho con người cuộc sống no ấm.b. không ngại khó khăn, gian khổ.c. Ý muốn nói quá về lời nói của con người có quyền hành.Câu 2:a. Ở nơi chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.b. Nhìn thấy tội ác của giặc ai ai cũng bầm gan tím ruột.c. Cô Nam tính tình xởi lợi ruột để ngoài da.d. nở từng khúc ruột.e. vắt chân lên cổ.

Câu 3:– Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành.– Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp biển.– Đoàn kết là sức mạnh lấp biển vá trời để kiến tạo một cuộc sống tự do.– Bộ đội ta mình đồng da sắt.– Bài toán này tớ nghĩ đã nát óc mà chưa giải được.

Câu 4:– Kêu như trời đánh.– Dữ như cọp.– Nhìn như muốn nuốt chửng người ta.– Khỏe như voi.– Ăn như lợn.

Câu 5:Gươm mài đá, đá núi cũng mònVoi uống nước, nước sông phải cạnĐánh một trận sạch không kình ngạcĐánh hai trận, tan tác chim muông.

Câu 6:Nói quá và nói khoác cùng là nói phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật hiện tượng được nói đến.Nói quá mục đích nhấn mạnh, khẳng định, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm. Còn mục đích của nói khoác là làm cho người nghe tin vào những điều không có thực, hoặc để phô trương, khoe khoang.

Xem tiếp các bài soạn để học tốt môn Ngữ Văn lớp 8

– Soạn bài Lão Hạc – Soạn bài Từ tượng hình, từ tượng thanh

I. Nói quá và tác dụng của nói quáCâu 1: (trang 101 sgk Ngữ văn 8 tập 1):Nói đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, Ngày tháng mười chưa cười đã tối và Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày là quá sự thật, là sự phóng đại mức độ, tính chất nội dung của các câu này:+ Thực chất câu tục ngữ này muốn nhấn mạnh tới sự đối lập về thời gian trong ngày giữa hai mùa trong năm (mùa hè- mùa đông)+ Nỗi vất vả, nhọc nhằn của người nông dân.

Câu 2: (trang 101 sgk Ngữ văn 8 tập 1):Cách nói như trên có tác dụng nhấn mạnh điều mình muốn nói và tăng sức biểu cảm.

Câu 1 (trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1):– Nói quá nhấn mạnh vai trò sự cố gắng, kiên trì, sức khỏe trong lao động.b, “em có thể đi lên tới tận trời được”– Nói quá nhằm khẳng định không ngại khó, không ngại khổc, “cụ bà thét ra lửa”– Nói quá thể hiện nhân vật bà cụ có thế lực, có quyền lực.

Câu 2 (trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1):a, Chó ăn đá gà ăn sỏib, Bầm gan tím ruộtc, Ruột để ngoài dad, Nở từng khúc ruột

Câu 3: (trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1):– Thúy kiều có vẻ đẹp ngiêng nước nghiêng thành.– Sơn Tinh dời non lấp biển đánh bại Thủy Tinh– Nữ Oa có sức mạnh lấp biển vá trời cứu chúng sinh khỏi lầm than.– Thánh Gióng cường tráng, mình đồng da sắt, hùng dũng ra trận.– Bài toán này khó, nghĩ nát óc vẫn không giải được.

Câu 4: (trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1):– Ăn như rồng cuốn– Làm như mèo mửa– Đẹp như tiên– Đen như than– Nói hay như hát.

Câu 5: (trang 102 sgk Ngữ văn 8 tập 1):Hôm nay, Hà Nội nóng như đổ lửa. Thủ đô đang trong mùa nắng nóng và đây là đợt nắng nóng cao điểm nhất từ đầu mùa. Nhiệt độ cao nhất có thể lên tới 43 độ C. Trong thời điểm này, chúng ta cần hạn chế ra đường từ 9h sáng đến 5h chiều. Các bạn nên uống nhiều nước, ăn nhiều rau xanh để giải nhiệt, không nước nước đá vì có thể gây bệnh về họng. Ở trong nhà có điều hòa, tránh bật dưới 25 độ C, dễ gây sốc nhiệt khi bạn ra ngoài. Thời tiết này cần đưa trẻ em và người già vào nới thoáng mát. Để sống chung với cái nóng như Hỏa Diệm Sơn của Hà Nội chúng ta hãy cố gắng thực hiện những điều trên.– Biện pháp nói quá: nóng như đổ lửa, cái nóng như Hỏa Diệm Sơn

Bài đang học soạn bài Lão Hạc trang 38 SGK Ngữ Văn 8 tập 1

Trong chương trình học Ngữ Văn 8 phần Thuyết minh cái phích nước là một nội dung quan trọng các em cần chú ý chuẩn bị trước.

Ngoài ra, Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam là một bài học quan trọng trong chương trình Ngữ Văn 8 mà các em cần phải đặc biệt lưu tâm.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-noi-qua-lop-8-37880n.aspx

Soạn Bài Nói Quá Lớp 8

Soạn bài nói quá lớp 8

I. Nói quá và tác dụng của nói quá

Đọc các câu tục ngữ và ca dao trong SGK ta thấy:

1.Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

Ngày tháng mười chưa cười đã tối

Và:

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

Thực chất là sự phóng đại mức độ, tính chất nội dung của các câu này.

2.Trong ngôn ngữ nói và viết, có lúc người ta diễn tả một cách cường điệu sự vật quá mức bình thường để nhấn mạnh. Những cách diễn đạt như vậy gọi là nói quá nhưng không phải là nói sai nên người nghe vẫn hiểu ý đó là nhấn mạnh, làm đậm nét hơn ý muốn nói.

II. Luyện tập.

1.

a.Nói quá về sức người, nhưng rất đúng: bàn tay con người có thể biến sỏi đá thành cơm ( lao động tỉa trên sỏi đá để lấy hạt thóc).

b.Có ý nhấn mạnh dù vết thương có đau vẫn có thể đi bất cứ đâu – đi lên đến tận chân trời.

c.Ý muốn nói quá về lời nói của con người có quyền hành, mỗi lời nói ra là người khác phải nghe theo. ” Thét ra lửa ” là nói quá về nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm Chí Phèo.

2.

a.Ở nói chó ăn đá gà ăn sỏi thế này, đến cỏ không mọc nổi nữa là trồng rau, trồng cà.

b.Nhìn thấy tội ác của giặc ai ai cũng bầm gan tím ruột.

c.Cô Nam tính tình xởi lợi ruột để ngoài da.

Các em làm tiếp câu d và câu e.

3.

-Kiều có vẻ đẹp nghiên nước nghiêng thành.

-Việc xây dựng các nhà máy thủy điện, có khác gì chúng ta dời non lấp biển.

-Bà Nữ Oa là người đội đá vá trời.

-Bộ đội ta mình đồng da sắt.

-Bài toán nay tớ nghĩ đã nát óc mà chưa giải được.

4.Năm thành ngữ có biện pháp nói quá.

-Nhìn như muốn nuốt chửng người ta.

-Khỏe như voi.

-Ăn như lợn.

-Nhanh như cắt.

-Hiền như đất.

-Chậm như rùa.

5.Viết đoạn văn hoặc làm một bài thơ có dùng đến biện pháp nói quá.

CA DAO (Sưu tầm)

Lỗ mũi mười tám gánh lông

Chồng yêu chồng bảo: Tơ hồng trời cho.

Đêm nằm thì gáy o o,

Chồng yêu chồng bảo: Ngáy cho vui nhà.

Đi chợ thì hay ăn quà

Chồng yêu chồng bảo: về nhà đỡ cơm.

Trên đầu những rác cùng cơm.

Chồng yêu chồng bảo: Hoa thơm rắc đầu.

-Làm trai cho đáng sức trai

Khom lưng uốn gối gánh hai hạt vừng.

-Mình chạy như bay đén nỗi mấy chiếc máy bay đuổi theo cũng không kịp. Thế mà vẫn không kịp giờ vào lớp. Sau khi xin cô giáo vào lớp, mình ngồi xuống đọc đề văn rồi ngoáy như điên mà cũng không kịp.

-Mặt trời đã lên cao, song sương không biến hẳn. Nó lãng đãng, vần vũ, chỗ đậm, chỗ nhạt, để rồi lại quánh sệt vào sáng hôm sau.

Theo chúng tôi

Soạn Bài Nói Giảm Nói Tránh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 73 SBT Ngữ văn 8 tập 1. Đặt câu hoặc sưu tầm câu có nội dung tỏ sự khiêm nhường với các từ ngừ sau đây : thiển nghĩ, món quả nhỏ mọn, rồng đến nhà tôm, tài hèn đức mọn, con ong cái kiến.

1. Bài tập 1, trang 108, SGK.

Trả lời:

Để giải bài tập này, trước hết cần biết các từ ngữ đã cho dùng để nói giảm nói tránh điều gì, sau đó lần lượt tìm hiểu nghĩa chung của câu có chỗ để trống, chọn đúng từ ngữ phù hợp điền vào chỗ trống.

Ví dụ : khiếm thị là từ ngữ dùng để nói giảm nói tránh khuyết tật mù (điền vào chỗ trống của câu c).

2. Bài tập 2, trang 108 -109, SGK.

Trong mỗi cặp câu đã cho có một câu dùng cách nói giảm nói tránh. Em hãy so sánh ý nghĩa của hai câu trong mỗi cặp câu để xác định câu nào là câu nói giảm nói tránh và câu nào không dùng biện pháp tu từ đó. Khi so sánh, nên chú ý sự khác nhau giữa hai câu trong mỗi cặp. Ví dụ cặp câu (a) khác nhau ở hai từ phải và nên. So sánh, ta thấy nghĩa của nên có phần giảm nhẹ mức độ hơn nghĩa của phải. Vậy câu thứ hai là câu sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh.

3. Bài tập 3, trang 109, SGK.

Khi chê trách một điều gì, để người nghe dễ tiếp nhận, ta thường nói giảm nói tránh bằng cách phủ định điều ngược lại với nội dung đánh giá. Chẳng hạn, đáng lẽ phải nói “Bài thơ cùa anh dở lắm” thì lại bảo “Bài thơ của anh chưa được hay lắm”. Hãy vận dụng cách nói giảm nói tránh như thế để đặt năm câu đánh giá trong những trường hợp khác nhau.

Trả lời:

Trước hết, nếu câu có sắc thái chê trách nặng nề, gay gắt, sau đó chuyển câu này sang câu có dùng từ ngừ phủ định và từ ngừ trái nghĩa để lời nói mềm mỏng, lịch sự hơn.

Trong cặp câu này dở và hay là hai từ trái nghĩa.

4. Bài tập 4, trang 109, SGK.

Việc sử dụng cách nói giảm nói tránh là tuỳ thuộc vào tình huống giao tiếp. Trong trường hợp nào thì không nên dùng cách nói giảm nói tránh?

Trả lời:

Việc sử dụng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là tuỳ thuộc vào tình huống giao tiếp, nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao (người nghe dễ tiếp nhận). Tuy nhiên, không phải bao giờ dùng nói giảm nói tránh cũng đạt hiệu quả tốt. Chẳng hạn, có một bạn rất lười học, khuyên bảo nhiều lần mà vẫn không nghe, chúng ta đành phải nói thẳng với bạn đó rằng : “Cậu lười học quá !” chứ không nên nói :

– “Cậu không được siêng lắm.”.

Hãy tìm những trường hợp khác trong giao tiếp ở nhà trường, ngoài xã hội để làm bài tập này.

5. Đặt câu hoặc sưu tầm câu có nội dung tỏ sự khiêm nhường với các từ ngừ sau đây : thiển nghĩ, món quả nhỏ mọn, rồng đến nhà tôm, tài hèn đức mọn, con ong cái kiến.

Trả lời:

Trong giao tiếp, có trường hợp nói về bản thân, để tỏ ra khiêm nhường người ta dùng biện pháp nói giảm nói tránh. Tự đặt câu hay sưu tầm đều được. Để đặt câu, cần phải nắm được ý nghĩa của mỗi từ ngữ đã cho và nghĩa của câu phải toát lên sắc thái khiêm nhường của người nói trong hoàn cảnh giao tiếp đó.

Ví dụ :

Trong lúc viết thư này, một mặt tôi rất đau lòng, vì tôi tài hèn đức mọn chưa đuổi được giặc ngay để đồng bào chịu cực khổ. (Hồ Chí Minh)

Tôi thiển nghĩ việc ấy anh không nên để bụng.

chúng tôi

Bài tiếp theo