Bài Viết Số 2 Đề 3

[Văn 8] Bài viết số 2 đề 3

Tớ chỉ có đề 2 thui : các bạn xem đỡ , nếu thấy hay thì nhớ thanks : ĐỀ 2 : Dòng sông lớn dần theo năm tháng Người lái đò tuổi bạc thời gian Đưa người khách sang sông Đưa khát vọng vào bờ Nhưng biết bao giờ, Người khách Quay đầu ngó lại ?!

Là người Việt Nam, ai cũng nhớ nằm lòng truyLà người Việt Nam, ai cũng nhớ nằm lòng truyền thống tôn sư trọng đạo mà cha ông ta đã truyền dạy từ bao đời nay. Thầy cô là người chắp cánh cho ước mơ của chúng ta bay cao, bay xa, cho chúng ta hành trang tri thức vào đời và trở thành người hữu ích cho xã hội. Ngày 20 -11, ngày vui của hàng triệu nhà giáo trên đất nước Việt Nam và cũng là ngày để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người cha, người mẹ thứ hai trong cuộc đời mình. Hôm nay đi học về, em bị mệt, lên giường nằm, trằn trọc mãi mà hôk ngủ đc. Bỗng dưng em nghĩ đến ngày mai- ngày 20/11…và nghĩ về cô Nếucó ai hỏi em người phụ nữ thân nhất của em là ai??? Em sẽ hôk ngần ngại mà nói đó hôk pải mẹ, chỵ gái hay bà em, mà là cô. Người đã luôn bên em trong suốt 2 năm học qua. Cùng em bước đi trong suốt 2 năm học cấp 3.( năm nay nữa là 3). Với em cô vừa là cô vừa là người mẹ thứ 2 của em. Cô còn nhớ hôk cô. Cái hôm trước đại hội chi đoàn lớp ngày, cô đã mắng em vì tội mặc quần bò với cả áo phông cổ rộng( Sai đồng phục) cô bít hôk lúc đó e tức lắm, thậm chí em đã ghét cô. Hum đó cô bảo em đi cùng xe với cô, đến nhà cô Huệ cô nhỷ Thấy cô nói chuyện, em cũng thấy thích thích, rồi dần dần em đã lấy hết can đảm nói chuyện với cô…Thời gian cứ thế trôi đi. Cô đã cùng em bước tiếp trong suốt gần 3 năm. Cô đã dạy cho em thật nhiều…thật nhiều điều. Về học tập cũng như kinh nghiệm sống…để em có thể vững tin bước vào đời. Cô àh! có lẽ em sẽ hôk bao giờ quên được cô_ người mẹ thứ 2 đã dìu dắt em suốt mấy năm qua. Em sẽ nhớ về cô-“cô còi” của e. Năm 11, em thật nghịch pải hôk cô. Giờ nghĩ lại em thấy mình có lỗi với cô quá. Em vẫn còn nhớ như in. Hôm đó, lúc em xuống văn phòng nhận phấn cho lớp, các bạn con trai lớp 11A1 đã dùng con rắn nhựa để trêu em. Mặc dù em rất sợ rắn, nhưng em vẫn cúi xuống và cầm nó về lớp. Ban đầu em chỉ định trêu bạn Vân( vì bạn Vân rất nhát gan) lúc quay về chỗ thấy cô nằm úp mặt xuống bàn. Em đã nãy ra ý định sẽ dọa cô. Em để con rắn lên tay cô. Cô tỉnh dậy vì giật mình mà ngất đi. Em cứ nghĩ cô đùa vẫn cứ đứng cười to ơi là to. Nhưng mãi chẳg thấy cô ngồi dậy. Lúc đó em đã rât sợ. Bạn Ý vội bồng cô chạy xuống văn phòng. Em vừa chạy theo sau vừa khóc. Lúc cô tỉnh em chỉ biết lí nhí nói xin lỗi cô. Các thầy cô khác bảo nếu biết ai làm thỳ sẽ đuổi học. Lúc đó em sợ lắm. Suốt mấy ngày liền em tránh mặt cô. Em sợ cô mắng, em đã nghĩ chắc cô sẽ ghét em lắm. Sẽ cho em 1 con 0 to tướng vào sổ điểm cho đỡ ghét. Nhưng cô đã hôk làm vậy. Cô đã chủ động nói chuyện với em. Kỷ niệm đó em có lẽ em sẽ hôk bao giờ quên. Có lẽ em sẽ hôk bao gi

do toi lam roi ne.

Dàn bài nàk

Việc làm bố mẹ vui thì thiếu cha gì, nhưng ai đâu nhớ

do toi lam roi ne.

ọe đây bài văn mẫu trên mạng mà tui cần 1 bài đúng thực tế và đúng tuổi cơ đây tận lớp 11 ồy

GOOD LUCK

ღ♫ Không ai có thể vượt qua được chính mình Tuy không cao nhưng ai cũng phải ngước nhìn ღ♫

Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 2

Soạn Văn 8: Viết bài tập làm văn số 2 – Văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

Soạn Văn 8 Viết bài tập làm văn số 2 tập 1

Viết bài tập làm văn số 2 – Văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ I sắp tới đây của mình.

Soạn Văn: Viết bài tập làm văn số 2 – Văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm

Đề 1: Hãy kể về một kỉ niệm đáng nhớ đối với một con vật nuôi mà em yêu thích.

Mở bài: Giới thiệu chung về con vật nuôi và kỉ niệm đáng nhớ với nó.

– Đó là con gì? Tại sao em yêu thích nó? Nó có tính cách phá phách hay hiền dịu?

– Kỉ niệm đáng nhớ xảy ra:

+ Hoàn cảnh không gian, thời gian.

+ Sự việc diễn ra: Bắt đầu, quá trình, kết quả ra sao?

– Những ấn tượng sâu đậm về kỉ niệm đó để lại trong em cảm xúc gì khi sự việc xảy ra và trong hiện tại.

Kết bài: Em cảm thấy như thế nào khi nhớ lại kỉ niệm đó. Thời điểm hiện tại con vật nuôi đó như thế nào.

Đề 2: Kể về một lần em mắc khuyết điểm khiến thầy, cô giáo buồn.

Mở bài: Em từng mắc khuyết điểm khiến thầy cô giáo buồn: Bị điểm kém, học hành không nghiêm túc, quậy phá, trêu chọc và đánh bạn…

– Hoàn cảnh xảy ra sự việc: Thời gian (một buổi chiều, sau giờ học), không gian (trên dãy hành lang cạnh lớp học).

– Nguyên nhân của việc em đánh bạn: Do bạn trêu chọc cùng với việc em nóng tính không kiểm soát được hành vi.

– Kể lại sự việc diễn ra:

+ Một chiều sau giờ học Toán, em thấy bạn Nam buồn vì chuyện bố mẹ ly hôn nhưng em không những không an ủi mà còn lấy chuyện đó ra đùa giỡn.

+ Nam tức giận quát em, cảm thấy bị xúc phạm, em nóng tính đã không kiểm soát được hành vi của mình và đánh bạn.

+ Nam cũng không giữ được bình tĩnh xông vào đánh em. Mỗi cú đấm làm hai bên cùng tăng lên sự tức giận và lao vào nhau. Đến lúc có người vào can ngăn thì hai đứa đều có vết bầm ở má.

+ Thầy, cô giáo giảng giải cho em lỗi sai của mình và của bạn. Em đã nhận ra sự sai lầm trong suy nghĩ và hành động của bản thân.

– Hậu quả của hành động: Gây thương tích cho bạn và cho bản thân, gây ra sự thất vọng về một đứa con ngoan trò giỏi của bố mẹ và thầy cô.

– Suy nghĩ về hành động: Tự giận mình vì đã làm bố mẹ và thầy cô buồn. Hối hận vì những hành động và suy nghĩ nông nổi của mình.

Kết bài: Đó là lần mắc khuyết điểm sâu sắc trong cuộc đời. Tự hứa phải biết giữ bình tĩnh suy xét mọi việc trước khi hành động và sẽ không tái phạm hành động như vậy nữa.

Đề 3: Kể về một việc em đã làm khiến bố mẹ vui lòng.

Mở bài: Giới thiệu việc tốt em làm – giúp một đứa trẻ đi lạc tìm mẹ trong khu vui chơi đông đúc. Cảm xúc của em và thái độ của bố mẹ khi đó.

– Hoàn cảnh xảy ra sự việc: Vào một buổi lễ hội… Em đi chơi và gặp một em bé chừng 4 tuổi đang thút thít vẻ sợ hãi trong một góc.

– Sự việc xảy ra:

+ Em đến gần bé hỏi han và biết bé đang bị lạc mẹ giữa đám đông.

+ Em quyết định dẫn bé ra quầy trung tâm nhờ người thông báo tìm mẹ cho bé. Em ở cạnh bé suốt thời gian chưa gặp được mẹ, vì bé rất sợ hãi.

+ Cuối cùng mẹ bé cũng chạy đến với khuôn mặt đầy lo lắng ôm chầm lấy con. Thế là bé đã gặp được mẹ rồi.

– Em mừng cho hai mẹ con. Về nhà em kể lại cho bố mẹ và bố mẹ rất vui lòng vì em đã biết giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn.

Kết bài: Em cảm thấy rất vui và tự hào, cũng vui vì khiến bố mẹ vui lòng. Tự hứa với bản thân sẽ làm nhiều việc tốt hơn nữa.

Đề 4: Nếu là người chứng kiến cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo trong truyện ngắn của Nam Cao thì em sẽ ghi lại câu chuyện đó như thê nào?

Ngôi kể thứ nhất (tôi) có mặt trong truyện như người thứ ba ngoài lão Hạc với ông giáo (phân biệt với ngôi kể ông giáo trong truyện).

Mở bài: Hoàn cảnh lão Hạc sang nhà ông giáo kể chuyện bán chó. Có ông giáo và người kể (tôi).

– Lão Hạc kể chuyện: Lão đã bán cậu Vàng với cảm giác tội lỗi, lương thiện dằn vặt tâm lão.

– Nét mặt, biểu cảm lão Hạc: Đau khổ, ân hận, chua xót.

– Về ông giáo: Nghĩ ngợi và thương lão, biểu hiện trên nét mặt và lời an ủi lão Hạc.

– Suy nghĩ, cảm xúc của bản thân: Thương xót cho lão Hạc và cảnh đời, cảnh người trong xã hội.

Kết bài: Nhắc lại việc bán chó. Nhận định, đánh giá sự việc.

Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3

VIẾT BÀI TẬP LÀM VĂN số 3 - VĂN THUYẾT MINH (Làm tại lớp) ĐỀ BÀI THAM KHẢO Để 1. Thuyết minh về kính đeo mắt. Đề 2. Thuyết minh về cây bút máy hoặc cây bút bi. Đề 3. Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến. Đề 4. Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam. BÀI LÀM THAM KHẢO Đề 1. Thuyết minh về kính đeo mắt "Từ khi ra đời còn chưa được ưa chuộng, trải qua nhiều thế kỉ, ngày nay, kính mắt đã trở thành phục trang quen thuộc, và phổ biến với mọi người. Cặp kính đầu tiên ra đời ở Ý vào năm 1260. Nhưng trong xã hội bấy giờ chỉ có các thầy tu và giới quý tộc biết đọc mà họ lại không thấy mặn mà với kính. Kể từ khi ra đời, cặp mắt kính luôn được cải tiến để phù hợp và tiện lợi hơn cho người sử dụng. Ban đầu, khi mới được phát minh, thiết kế của kính chỉ có độc cái mắt kính nối với nhau bởi cầu mũi nên rất bất tiện. Trước đó, người Tây Ban Nha đã dùng dây ruy-băng buộc cặp mắt kính vào hai tai để tránh cho nó khỏi nghịch ngợm mà "nhảy dù" khỏi hai mắt của người sử dụng, nhưng cái sáng kiến ấy chẳng bao giờ được chấp nhận vì trông nó thật quá tạm bợ. Mãi đến năm 1730, Edward Scarllet - một chuyên gia quang học người Luân Đôn - mới sáng kiến ra hai càng để kính có thể gá lên mặt một cách chắc chắn. Nhiều người cho rằng Tổng thống Mĩ Benjamin Franklin là người đã phát minh ra kính đa tròng nhưng thực tế, ông chỉ là người đưa ra ý tưởng. Vào năm 1780, vì mệt mỏi với việc cứ phải thay kính mắt liên tục, ông đã yêu cầu một người thợ cắt mắt kính làm hai phần để có thể nhìn -lên nhìn xuống mà không phải thay kính. Dù đã được phác thảo trước đó bởi danh họa Leonardo da Vinci nhưng phải mãi tới năm 1827, công nghệ kính áp tròng mới thực sự bắt đầu do ý tưởng mài mắt kính áp tròng đầu tiên vừa khít với mắt. Những phát minh ấy đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị. Nếu tìm hiểu kĩ, ta sẽ thấy được sự đa dạng của kính mắt từ chất liệu cấu thành đến các phụ kiện đi kèm. Mắt kính được làm từ nhiều chất liệu khác nhau như thủy tinh, nhựa, polycarbonate, polarized, propionate... Ngoài ra, mắt kính còn được áp dụng nhiều công nghệ như. xử lí tia cực tím, tráng chông xước, tráng gương, tráng phản quang, công nghệ đổi màu, mắt kính có màu nhuộm... nên khi mới ra đời mắt kính ít được biết đến và càng hiếm người sử dụng nó. Đã thế, kính mắt chẳng thuộc một tôn giáo nào và cũng chẳng là của ăn hay dùng được mà lại là một phát minh của khoa học trong khi ở thời Trung cổ mê muội thì những phát minh đa phần bị phản đọì hoặc lờ toẹt đi. Kính mắt thuộc về trường hợp thứ hai. Ngay cả những người cần kính để đọc thì cũng hiếm lúc mang nó ra ngoài. Khi khoa học thường bị coi là ma quỷ và những nhà khoa học luôn đồng nghĩa với các thầy phù thủy thì mạng sống 1'à thứ không thể đem ra thách thức hay đùa giỡn chỉ bằng một cặp kính mắt. Nhưng không phải ai cũng như người Anh và Pháp, khăng khăng rằng kính mắt chỉ nên đeo ở nhà, những người Tây Ban Nha tin rằng kính mắt khiến họ trở nên quan trọng, đáng kính hơn và biến nó thành một biểu tượng của giới học giả và thầy tu. Nhờ vậy, kính mắt ngày càng được nhiều người biết tới và dần dần trở thành phổ biến như hiện nay. Gọng kính cũng là một thế giới chất liệu rất phong phú. Nhựa là chất liệu phố biến nhất vì nó không những rẻ mà còn tạo ra những biên độ vô cùng sáng tạo. Tuy thế, cũng còn rất nhiều các chất liệu khác có thể làm thành gọng kính với những ưu điểm khác như: laminatezyl, acetate, propionate, titanium, beryllium, thép không rỉ, ticral, flexon, scandium, monel, đồng thiếc nguyên chất, bạc, vàng,... Đi theo các cặp mắt kính ấy còn có nhiều phụ kiện đa dạng như: dây đeo, nước rửa kính, khăn lau kính, kẹp kính, bao kính,... Tất cả góp phần tạo nên một thế giới kính mắt phong phú và hấp dẫn mọi người. Kính có thể được chia thành nhiều loại như kính thuốc, kính râm, ■ kính thời trang,... Kính thuốc là loại kính dùng cho người có bệnh về mắt như cận thị, viễn thị, loạn thị; kính lão hay để bảo vệ mắt khi đọc sách nhiều và làm việc lâu bên máy vi tính. Với từng loại và mức độ bệnh của mắt mà kính có độ dày, độ cong và cấu tạo khác nhau hay thiết kế phù hợp để điều chỉnh khoảng cách tốt nhất, tránh cho người sử dụng bị mỏi mắt, căng thẳng khi phải tập trung quá lâu vào một điểm. Trong họ nhà kính, kính râm được sử dụng phổ biến nhất nhưng lại có tuổi đời trẻ nhất, mãi đến năm ,1752 nó mới ra đời. Kính râm giúp cho mắt đỡ bị mỏi và bị chói do ánh nắng gay gắt ngoài trời. Kính thời trang luôn là mặt hàng không thể thiếu trong các hiệu kính. Các mắt kính luôn được thay đổi theo thời gian, chúng được thay đổi thành nhiềụ kiểu dáng và chất liệu khác nhau, được nhuộm màu sắc phù hợp với sở thích của mỗi người sử dụng. Tuy vậy, các kính vẫn phải đạt tiêu chuẩn là ngăn chặn được ít nhất 70% tia UVB và 60% tia UVA. Trên các khung kính đều có in các con số' chỉ cỡ của thấu kính, cỡ của cần mũi và chiều dài của-càng kính. Mỗi người có một cỡ đầu nhất định nên cũng có rất nhiều số đo khác nhau. Càng ngày, xã hội càng phát triển với các xu thế thời trang hiện đại và các cặp mắt kính vẫn là một phục trang đóng góp một phần không nhỏ vào dòng chảy ấy." (Khúc Mai Thương, lớp 8A1, Trường THCS Ngô Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) (Theo Hướng dẫn Tập làm văn 8 - Vũ Nho Chủ biên) Đề 3. Thuyết minh về đôi dép lốp. Thời nay, kể cả khi tiết kiệm được đưa lên hàng đầu thì cũng không có ai có ý định sử dụng loại dép lốp xưa đã dùng. Đơn giản vì chúng cần sự thoải mái và tiện lợi. Đó cũng là một nhu cầu chính đáng. Còn những chiếc dép lốp xưa tuy tiết kiệm nhưng đi thì không dễ chịu chút nào. Thế nhưng loại dép tái chế ấy lại giúp ích rất nhiều cho nhân dân ta thời xưa. Đó là một loại dép có quai mà nhân dân ta thường sử dụng trong thời gian khó khăn, nhất là trong hai cuộc kháng chiến chông ngoại xâm. Đây là một loại sản phẩm tái chế mang tính tiết kiệm cao. Quy trình làm dép khá đơn giản. Từ những chiếc lốp cao su lớn không còn sử dụng, người ta tách lấy từng lớp cao su mỏng, cắt theo hình dáng bàn chân người và theo nhiều kích cỡ lớn nhỏ. Trên lớp đế cắt được, người ta xuyên bôn lỗ nhỏ ở đầu và bốn lỗ khác lớn hơn một chút ở đuôi để xỏ dây làm quai dép. Dây quai dép được làm bằng loại cao su tốt hơn, chắc hơn đế dép. Bốn dây cao su nhỏ, chắc được xỏ bắt chéo vào dép. Hai quai đầu ôm khít lấy phần mũi chân, còn hai quai sau vòng ôm lấy phần cổ chân. Vậy là ta có một đôi dép lốp (hay còn gọi là dép cao su). Loại dép này khá tiện dụng trong thời bấy giờ. Những chiếc dép làm ra giúp ta không bỏ phí những vật dụng còn dùng được. Hơn nữa, do được làm hầu hết từ các sản phẩm phế liệu nên giá của những đôi dép lốp rất rẻ, phù hợp với mức sống thời ấy. Những đôi dép này khá bền, chắc, sử dụng được trong một thời gian dài. Sự bền chắc đó còn phù hợp với những chuyến hành quân hay sơ tán của quân và dân ta trong chiến đấu cũng như trong lao động sản xuất và sinh hoạt. Ngoài ra, những đôi dép lốp này còn là hình ảnh nhắc nhở mọi người cần tiết kiệm và sáng tạo hơn trong đời sông. Nó giúp họ thấm nhuần một đạo lí: không có gì là không còn sử dụng được mà nó chỉ là không còn được dùng cho mục đích ban đầu mà thôi. Điều ấy rất quan trọng bởi nó giúp chúng ta vừa tiết kiệm vừa sử dụng tiện lợi trong sản xuất, sinh hoạt và chiến đấu. Những đôi dép này có rất nhiều công dụng tốt nhưng cũng có một số bất tiện. Ví dụ như ở phần cấu tạo, được làm bằng cao su, những dây quai dép chỉ được luồn vào trong đế rồi nhờ lực đàn hồi của cao su dính chặt vào dép. Do đó, đi vào nơi ẩm ướt, dép rất dễ bị trơn trượt và quai dễ bị tuột. Do đó mỗi người, đặc biệt là các chiến sĩ khi hành quân đều phải đem theo một que tre mỏng đế' rút lại dây dép. Tuy nhiên nhược điểm đó không lấn át được những cái tốt mà nó đem lại. Những đôi dép lốp là những sản phẩm tiết kiệm mà bộ đội và nhân dân thường dùng xưa kia. Hình ảnh những chiếc dép cao su ấy dường như đã đi kèm với hình ảnh những anh bộ đội cụ Hồ như khi sinh ra nó đã vốn thế. Trong lịch sử, chiến thắng lẫy lừng của chiến dịch Điện Biên Phủ, những chuyến hành quân vượt dãy Trường Sơn đánh Mĩ luôn có dấu chân những đôi dép lốp đơn sơ quen thuộc. Đôi dép ấy như trở thành hình tượng về sự giản dị, mộc mạc của người chiến sĩ. Ngay trong hành lang của vị Chủ tịch nước cũng có đôi dép cao su. Hình ảnh quen thuộc đó càng tôn thêm vẻ đẹp giản dị nhưng cao quý trong tâm hồn Bác. Ngày nay, "Đôi dép Bác Hồ" ấy đã trở thành một kỉ vật thiêng liêng, vô giá của dân tộc ta. Hàng triệu người trong và ngoài nước thuộc nhiều dân tộc, nhiều màu da, khi vào viếng Bác đã nhìn thấy đôi dép ấy được đặt trong hộp kính để dưới chân Người. Bác cùng đôi dép lốp của mình đã in dấu ấn sâu đậm trong văn và âm nhạc. Lời của một bài hát viết về đôi dép ấy thật ngọt ngào và lắng đọng: "Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ Bác đi từ ở Chiến khu Bác về Phô" phường, trận địa, nhà máy, đồng quê Đều in dấu dép Bác về, Bác ơi..." Trong lịch sử dân tộc ta, chiếc dép lôp bé nhỏ ấy đã xuất hiện một cách đầy tự hào như thế đó. Ngày nay, khi cuộc sống thay đổi, chúng ta gần như không thấy ai- đi dép lốp nữa. Thế nhưng mọi người sẽ luôn nhớ về nó như một vật dụng thân thiết và hình ảnh của một thời lịch sử gian khổ hào hùng. (Nguyễn Ngọc Thủy, lớp 8A1, Trường THCS Ngõ Sĩ Liên, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) (Theo Hướng dẫn Tập làm văn - Vũ Nho Chủ biên) Đề 4. Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam. "Có tìm hiểu dĩ vãng của chính mình thì mới quý nó được, và có quý trọng dĩ vãng thì mới tìm được hướng đi cho tương lai". Đó là lời của cố học giả Nguyễn Hiến Lê mà người viết bài này muốn gửi đến các bạn trẻ và những ai quan tâm đến việc bảo vệ kho tàng văn hóa dân tộc. Khi tìm đọc "văn học sử Việt Nam", chiếc áo dài đã ghi lại rất nhiều nét đan thanh không những qua ca dao tục ngữ mà còn qua điêu khắc, hội họa, kịch nghệ, văn chương và âm nhạc. Ngược dòng thời gian tìm về nguồn cội, chiếc áo dài Việt Nam đầu tiên với hai tà áo thướt tha bay lượn đã được tiền nhân ghi khắc trên cổ vật, như trống đồng Ngọc Lũ, Hòa Bình, Hoàng Hạ... từ trên ba ngàn năm trước. Áo dài Việt Nam quả đã có một quá trình đi sát với lịch sử dân tộc để lắm phen khóc cười theo mệnh nước nổi trôi. Trải qua cả mười thế kỉ bị Trung Hoa đô hộ - một Trung Hoa vĩ đại về mọi phương diện - rồi ngót một thế kỉ dưới ách thông trị của Pháp - quốc gia đứng hàng đầu về thời trang quốc tế - tà áo dài Việt Nam vẫn uyển chuyển tung bay, biểu dương tinh thần bất khuất, đặc tính thích nghi với hoàn cảnh, và khiếu thẩm mỹ của người Việt. Dưới thời kì bị Trung Hoa đô hộ, dân ta đã bao phen bị người Tàu ra lệnh dồng hóa: Đàn ông phải dóc tóc bím đuôi sam, đàn bà phải cắt tóc ngắn và mặc quần thay vì mặc váy, mọi người phải để răng tráng không được nhuộm... Nhưng những cố' 'vật tiền nhân để lại cho thấy người Việt xưa vẫn búi tóc, vẫn mặc áo dài và váy. Chiếc áo dài xưa nhất là áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy tơ đen, thắt lưng mầu buông thả. Xưa các bà, các cô búi tóc trên đỉnh đầu hoặc quấn quanh đầu, đội mũ lông chim dài, về sau bỏ mũ lông chim để đội khăn, vấn khăn, đội nón lá, nón thủng. Cố' nhân xưa đi chân đất, về sau mang guốc gỗ, dép, giày. Vì phải làm việc đồng áng hoặc buôn bán, chiếc áo giao lãnh được thay đổi và vạt con nằm dưới vạt trước là thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nốì với hai vạt cả nhờ cổ áo có bâu đệm, và khép kín nhờ năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo quan niệm Nho giáo': Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Áo ngũ thân không những tôn vinh giá'trị cao quý của người nữ trong gia đình cũng như xã hội, mà còn gói ghém nhân sinh quan của dân tộc: Con người nhờ cha mẹ sinh dưỡng, khi thành nhân có cha mẹ người bạn đời cùng che chở bao bọc là tứ thân phụ mẫu, luôn tôn trọng đạo làm người và giữ lòng nhân ái, ăn ở có nhân nghĩa trên kính dưới nhường, biết nơi trọng chỗ khinh, biết suy luận tính toán và giữ vững niềm tin nơi người. Áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là Quốc phục của phái nam. Các bà các cô dùng màu sắc óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm. [...] chiếc áo dài cách tân được hoan nghênh nhiệt liệt trong Hội chợ Nữ công Đà Nẵng năm 1934 với gian hàng phụ nữ có các bà các cô đứng bán mứt bánh và đồ thêu, đan, đoan trang hiền thục dịu dàng với áo màu quần trắng tóc búi lỏng hoặc vấn trần hay vấn khăn nhung. Tới nay, chiếc áo dài dung hòa được mới với cũ để tôn vinh những nét đẹp của người phụ nữ và tìm được nhân dáng chính xác, để đứng vững từ đó đến bây giờ. Suốt cả ba thập niên sau đó, chiếc áo dài không có gì thay đổi lớn ngoại trừ cổ áo lúc thấp, khi vuông lúc tròn, khi kín lúc hở, chiều dài cũng lên xuống khi mini lúc maxi, gấu áo cũng khi lớn lúc nhỏ, vòng eo có khi rộng lúc thắt chặt. Chiếc quần thay đổi từ kiểu cẳng què qua đáy giữa, lưng từ to bản luồn giải rút đổi sang lưng nhỏ luồn dây thun rồi đổi già nút, và sau cùng là khóa kéo kiểu Tây phương, trong khi ông quần cũng theo thời khi chân voi lúc ống túm. [...] Nữ sinh Việt Nam trước năm 1975 đến trường đều thường là "áo trắng học trò", nhưng thứ hai chào cờ phải mặc đồng phục: Áo trắng nữ sinh Đồng Khánh Huế, áo lam Hà Nội, áo xanh da trời Trưng Vương, áo hồng Gia Long... những mầu áo thơ mộng đã một thời lên hương qua thơ, nhạc. Một điều ghi nhận là sau khi không còn thể chế quân chủ, hầu hết các cô dâu đều mặc quốc phục áo dài có khoác một áo phụng rộng may theo kiểu mệnh phụ hoặc áo hoàng hậu, và đội khăn vành xanh hoặc vàng. Ý hẳn đó là ngày nàng trở thành một bậc mệnh phụ và bước lên ngôi hoàng hậu trong cuộc đời của chàng vậy. [...] Những chiếc áo dài Việt Nam dù với màu sắc đậm chói hay dịu mát, may bằng vải thô sơ'hay tơ gấm lụa là, vạt áo có ngắn cũn cũng chỉ tiếp nhận tinh hoa mà gạn lọc cặn bã, tô bồi thêm nét đẹp mà vẫn giữ cá tính độc lập. Áo dài Việt Nam là niềm kiêu hãnh của người Việt Nam. Chính vì vậy mà người Việt Nam vẫn yêu quý tà áo Việt." (Trần Thị Lai Hồng) Đề 4. Giới thiệu về trang phục truyền thống của dân tộc. Áo dài Việt Nam. - "Dù ở đâu, Pari, Luân Đôn hay những miền xa. Thoáng thấy áo dài bay trên đường phô', sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó em ơi!". Đã từ lâu áo dài là hình ảnh thân quen trong cuộc sông, là biểu tượng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, vẻ đẹp-Việt Nam. Cho đến nay, vẫn chưa ai biết được nguồn gốc xuất xứ của chiếc áo dài. Nhưng theo truyền miệng và một số báo chí thì lịch sử áo dài có từ thế kỉ XVIII. Thời đó chúa Nguyễn Phúc Khoát có ý định thay đổi đời sống cho người dân, bắt đầu từ trang phục. Bởi ông nghĩ rằng, trang phục là vật dụng để đánh giá thẩm mĩ, phẩm chất của. một con người. Từ nền tảng áo dài của phụ nữ Chăm, kết hợp với lại váy xẻ hai tà của Thượng Hải (Trung Quốc) và một số hoa văn, chi tiết của áo các dân tộc khác, chiếc áo dài đã ra đời. Và đến năm 1934, nhà may Cát Tường đã cho ra mắt bộ áo dài mang nhãn hiệu Le Mur. Thập niên những năm 1930, họa sĩ Lê Phó" đã cải tiến chiếc áo dài Le Mur thành chiếc áo dài có hình dáng gần giông với áo dài Việt Nam ngày nay. Đến thời vua Bảo Đại (1935), chiếc áo dài được chuyển đổi thành áo dài ngũ thân. Hình dáng như áo dài nhưng kết hợp với áo tứ thân mớ năm mớ bảy. Do không phù hộ với cuộc sông của nhân dân nên đã mất dần. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chiếc áo dài truyền thống bị trôi nổi theo từng giai đoạn lịch sử. Cổ áo dài vẫn tồn tại và phát triển đến tận bây giờ. Nói chung, chiếc áo dài có ba thời kì lịch sử chính. Thời kì thứ nhất: áo dài truyền thống: làm từ vải trắng hay vải nhung pha màu với cách may cổ điển, lấy theo mẫu phương Tây. Tay áo phồng, áo Cổ hở tròn, tay áo hơi bó, thân áo gần như suôn, quần thì miền Bắc màu trắng còn miền Nam màu đen. Thời kì thứ hai: áo dài tân thời (gần như áo dài hiện đại): cổ cao, bó, vạt áo khá rộng, thân áo may lượn theo cơ thể, vạt áo khá dài, mặc áo rộng và thường được may bằng vải lụa trắng, the. Thời kì thứ ba: áo dài hiện đại: đó là chiếc áo ngày nay như chúng ta nhìn thấy và chất liệu là bao gồm gần như tất cả các loại vải: gấm, nhung, the, lụa, thổ cẩm với đủ màu sắc. Để may một chiếc áo dài cũng thật kì công như chính giai đoạn phát triển của nó. Đầu tiên, ta phải biết chọn loại vải đẹp, phù hợp với màu da và khuôn mặt. Ta có thể tìm đến những địa chỉ như: lụa Hà Đông, Vạn Phúc. Sau đó, ta đặt may chiếc áo phù hợp với vóc dáng của cơ thể. cổ áo phải may cao khoảng lcm bằng hồ cứng, tay áo hơi bó, suôn dần xuống bàn tay. Áo phải chia thành hai phần vạt trước và vạt sau. Để ghép nốì hai mảnh lại với nhau, phải có đường may mềm mại, uôn lượn theo thân thể. Tránh để đường may thô, tạo cảm giác cứng nhắc, khó chịu. Nách áo dài cần được may thật cẩn thận đến từng chi tiết. Các khuy áo cần phải có độ chính xác, tránh lộ ra phía ngoài. Đôi khi muôn có được chiếc áo dài thêm phần lộng lẫy, người may còn đơm thêm những họa tiết trang trí. Nếu biết tuân thủ những chi tiết đó, chắc chắn ta sẽ có một chiếc áo dài tuyệt đẹp. Có rất nhiều nơi may áo và sản xuất áo dài nổi tiếng như: Hà Nội (phô' Cầu Gỗ), Huế, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến những nơi đó, bạn có thể may cho mình một bộ áo dài đẹp. Đã từ lâu, chiếc áo dài không còn chỉ như trang phục hằng ngày. Nó đã thật sự tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ về mặt hình thể. Chiếc áo dài được may uốn lượn, làm nổi bật lên vẻ đẹp hết sức uyển chuyển của người phụ nữ. Mặc chiếc áo dài, trông người phụ nữ thật duyên dáng. Nhìn những em bé mũm mĩm mặc áo dài màu sắc, trông thật rực rẻr, đáng yêu. Những nữ sinh trong trang phục áo dài trông thật trong sáng, hồn nhiên khiến ai cũng phải ngước nhìn mà lòng xao xuyến. Đến người già' cũng có thể mặc áo dài. Mặc những chiếc áo dài màu nhung đen với hình họa nổi bật, trông họ thật đẹp lão. Chiếc áo dài thực sự dành cho mọi lứa tuổi. Áo dài được xem là trang phục truyền thống của nước ta không chỉ vì vẻ đẹp hình thức của nó mà bởi áo dài thực sự đã tôn vinh, thế' hiện vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp tinh thần của dân Việt. Phụ nữ mặc áo dài trông vừa kín đáo, duyên dáng vừa trang trọng, lịch sự. Áo dài thực sự đã tôn thêm nét nữ tính của người phụ nữ. Bởi vậy mà chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của phụ nữ Việt Nam." {Theo Lê Thị Hoa, Phạm Thị Loan, Lê Thị Tân Hảo - Sđd) - "Không những là một trang phục truyền thống được người Việt Nam tôn vinh và sử dụng rộng rãi mà áo dài còn được nhiều người nước ngoài ưa chuộng. Những người bạn phương Tây rất thích áo dài Việt Nam bởi chất liệu đẹp, hoa văn đẹp và kiểu dáng cũng thật độc đáo. Nhìn thấy các bạn nước ngoài mua áo dài Việt Nam đem về làm kỉ niệm, ta có thể biết chắc chắn rằng, chiếc áo dài chính là cầu nối của Việt Nam với các bạn nước ngoài. Đốì với họ, áo dài là kỉ niệm, là hình ảnh, là vẻ đẹp Việt Nam. Ngày nay, trong nhịp sống hiện đại, người phụ nữ có thể có nhiều trang phục khác, đẹp và phụ hợp với sở thích, hoàn cảnh sử dụng nhưng chiếc áo dài vẫn rất quan trọng trong đời sống tinh thần. Vào mỗi dịp lễ tết hay ngày kỉ niệm lớn phụ nữ đều mặc áo dài trong thật duyên dáng và trang trọng. Ớ nơi công sở, chị em phụ nữ cũng thường mặc áo dài tạo vẻ đẹp tự tin và lịch sự. Trong nhiều cuộc thi người đẹp, hoa hậu Việt Nam thì trình diễn áo dài luôn được chọn là phần thi quan trọng nhằm giữ gìn và tiếp tục phát huy vẻ đẹp áo dài truyền thông và tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ. Để duy trì và tiếp tục phát triển nét đẹp truyền thống này, nhiều Việt kiều cũng hay mặc áo dài để luôn nhớ về đất nước, quê hương với tà áo dài thân thương. Quả thực, chiếc áo dài Việt nam đã trở thành biểu tượng hết sức cao quý của người phụ nữ, là một nét đẹp văn hóa truyền thống của người Việt và của thế giới cần được gìn giữ. Dù mai đây chiếc áo dài có thay đổi, cách tân hay có những trang phục khác thời trang hơn thì không gì có thể sánh bằng chiếc áo dài Việt. Áo dài thật xứng đáng là nét đẹp Việt Nam!" (Sà/ làm của học sinh, có sửa chữa) {Theo Lê Thị Hoa, Phạm Thị Loan, Lê Thị Tân Hảo - Sdd)

Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 3: Văn Thuyết Minh

Soạn Văn 8: Viết bài tập làm văn số 3: Văn thuyết minh

Soạn Văn Viết bài tập làm văn số 3: Văn thuyết minh

được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp các bạn học sinh nắm rõ kiến thức từ đó học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 8 chuẩn bị cho bài giảng sắp tới đây của mình.

Soạn Văn: Viết bài tập làm văn số 3: Văn thuyết minh Đề 1: Thuyết minh về kính đeo mắt.

Mở bài: Kính đeo mắt là vật dụng quen thuộc trong thời đại ngày nay, cần thiết với nhiều lứa tuổi.

– Cấu tạo của kính: Gọng kính và mắt kính.

+ Gọng kính làm bằng nhựa cao cấp hoặc kim loại, có nhiều hình dạng, màu sắc.

+ Mắt kính làm bằng nhựa hoặc thủy tinh trong suốt.

– Kính đeo mắt có nhiều loại như kính cận, kính viễn, kính thời trang, kính râm,… Không nên sử dụng tùy tiện vì có một số loại kính chỉ dùng trong những trường hợp nhất định, kính cận chỉ người bị cận thị mới đeo,…

– Cách sử dụng và giữ gìn: Sau khi dùng nên lau kính và cho vào hộp tránh trầy xước.

Kết bài: Cần có hiểu biết về kính để sử dụng và giữ gìn kính đúng cách bảo vệ đôi mắt khỏe đẹp.

Đề 2: Thuyết minh về cây bút máy hoặc bút bi.

Mở bài: Nêu khái quát vai trò của bút bi trong học tập và công việc.

– Cấu tạo gồm nhiều bộ phận:

+ Vỏ bút phong phú về chủng loại, kiểu dáng, màu sắc thường làm bằng nhựa hoặc kim loại có công dụng bảo vệ các vật bên trong, để dễ cầm viết và còn thể hiện phong cách của người viết khi lựa chọn cây bút đó.

+ Ngòi bút chứa mực, đầu có một viên bi nhỏ như mũi kim điều hòa lượng mực ra đề mỗi khi viết. Đây cũng là lí do để đặt tên bút bi. Trên thân ngòi bút thường có kèm theo chiếc lò xo để tạo lực đàn hồi khi ấn và bấm bút khi viết.

– Hình dạng chung của bút bi: Thường ở dạng hình trụ dài, hoặc nhiều nhà sản xuất tạo ra nhiều kiểu dáng mập gầy cho cây bút, có khi còn gắn thêm trên đầu bút hình chú thỏ hay con gà dễ thương.

– Công dụng: Rất tiện lợi vì tính viết nhanh gọn, người bạn đồng hành của học sinh, sinh viên, giáo viên và tất cả mọi người.

– Cách bảo quản: Ngòi bút là phần quan trọng nên khi dùng xong nên bấm ngòi thụt vào tránh rơi gây vỡ, gai ngòi bút.

Kết bài: Bút bi mãi là vật dụng cần thiết, gắn bó trong cuộc sống con người.

Đề 3: Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến.

Mở bài: Đôi dép lốp trong kháng chiến là vật chứng tiêu biểu cho một quá trình gian khổ của nhân dân Việt Nam trong kháng chiến.

– Giới thiệu khái quát lịch sử ra đời của đôi dép lốp cao su: Trong cuộc kháng chiến muôn vàn khó khăn, đôi dép cắt từ lốp xe cùng một vài vật dụng khác là trang phục kháng chiến của các anh bộ đội.

– Đặc điểm hình dáng, cấu tạo:

+ Hình dáng giống như đôi dép bình thường có quai dép làm từ săm xe ô tô cũ, hai quai trước bắt chéo, hai quai sau song song, vắt ngang cổ chân.

+ Đế dép làm từ lốp xe ô tô cũ hoặc đúc bằng cao su, đế được đục những cái lỗ để xỏ quai qua.

+ Điểm đặc biệt: Giữa quai và đế không dính băng keo mà cố định nhau bằng sự giãn nở của cao su.

– Dép lốp cao su dễ làm, dễ sử dụng trong mọi địa hình, rất bền.

– Rất dễ bảo quản: Chỉ cần không để ở nơi có nhiệt độ cao.

Kết bài: Dép lốp tuy không còn phổ biến như xưa nhưng đó là một thời kì lịch sử với bao gian khó. Chúng ta sống ở thời bình phải biết trân trọng những giá trị quá khứ.

Đề 4: Giới thiệu về chiếc áo dài Việt Nam.

Mở bài: Chiếc áo dài là biểu tượng cho nét duyên dáng của người phụ nữ Việt.

– Lịch sử ra đời: Đầu thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1739 – 1765). Áo dài thay đổi theo từng thời gian và giai đoạn lịch sử khác nhau.

– Cấu tạo:

+ Cổ áo cao 4 – 5cm, khoét hình chữ V trước cổ, ngày nay được biến tấu đa dạng.

+ Thân áo từ cổ xuống phần eo, được may vừa vặn, ôm sát, phần eo được chít ben (hai ben ở thân sau và hai ben ở thân trước). Cúc áo thường là cúc bấm từ cổ áo qua vai xuống đến eo.

+ Từ eo xẻ làm hai tà: Tà trước và tà sau đều dài quá gối.

+ Tay áo may sát cánh tay, dài đến qua cổ tay.

+ Quần mặc trong hai tà xẻ là quần ống rộng, may chấm gót chân, vải mềm, rũ.

– Chất liệu và màu sắc: Vải mềm, có độ rũ cao như lụa, voan, nhung,… màu sắc cũng đa dạng phong phú, tùy thuộc tuổi tác người mặc.

– Công dụng: Trang phục lễ hội truyền thống, trang phục của các ngành nghề như tiếp viên hàng không, học sinh, giáo viên, …

– Bảo quản: Mặc xong nên giặt phơi nhẹ nhàng, tránh bạc màu, không vứt bừa tránh nhàu xấu. Nên treo trên mắc áo để giữ dáng áo.

Kết bài: Chiếc áo dài là trang phục truyền thống không bị lu mờ thời buổi hiện đại, được thiết kế cách tân với nhiều kiểu dáng mẫu hiện đại.

Bài Viết Số 3 Lớp 8 Văn Thuyết Minh Đầy Đủ Từ Đề 1

Bài viết số 3 lớp 8 văn thuyết minh, bài văn mẫu số 3 lớp 8 chọn lọc hay nhất để thầy cô và các bạn học sinh tham khảo

Bài làm

Bài viết số 3 lớp 8 đề 1: Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những văn hóa, nét đặc trưng của từng vùng miền và trang phục truyền thống riêng. Phụ nữ Nhật tự hào với Kimono, phụ nữ Hàn Quốc nổi tiếng với Hanbok, phụ nữ Ấn Độ để lại cho ta ấn tượng rất đặc biệt với bộ Sari. Còn phụ nữ Việt Nam, từ xưa đến nay vẫn mãi song hành với chiếc áo dài duyên dáng và thướt tha.

Cho đến nay, vẫn chưa biết được nguồn gốc chính xác của chiếc áo dài. Nhưng nối ngược dòng thởi gian, tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài với hai tà áo thướt tha đã được tìm thấy ở các hình khắc mặt trống đồng Ngọc Lũ cách đây vài nghìn năm.

Áo dài có rất nhiều loại. Nhưng sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là áo giai lãnh: cũng giống như áo tứ thân nhưng khi ,mặc thì hai thân trước để giao nhau mà không buộc lại. Vì sau này, phụ nữ phải làm việc đồng áng hay buôn bán nên áo giai lãnh được thu gọn lại thành áo tứ thân: gồm bốn vạt nửa trước phải, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái. Nhưng với những người phụ nữ tỉnh thành nhàn nhạ, muốn có một kiểu áo dài dược cách tân thế nào đó dể giảm chế nét dân dã lao động và tăng dáng dấp sang trọng, khuê các. Thế là áo tứ thân được biến cải ở chỗ vạt nửa trước phải nay lại được thu bé trở lai thành vạt con; thêm một vạt thứ năm be bé nằm ở dưới vạt trước trở thành áo ngũ thân.

Ngoài ra còn áo dài Le Mor của một họa sĩ vào đầu thập niên 1930, áo dài Lê Phổ của họa sĩ Lê Phổ được thiết kế vào năm 1934, áo dài với tay giác lăng vào thập niên 1960, áo dài miniraglan danh cho các nữ sinh…

Khác với Kimono của Nhật Bản hay Hanbok của Hàn Quốc, chiếc áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại vừa hiện đại, có thể mặc ở mọi lúc mọi nơi: dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc để tiếp khách trang trọng trong nhà… Việc mặc loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kì, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài guốc, hay giày đều được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm ái dài và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hay một chiếc miện Tây tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.

Áo dài có thể nhiều màu nhưng có lẽ đẹp nhất vẫn là chiếc áo dài trắng thể hiện sự thuần khiết của người phụ nữ Việt Nam. Trong trường học, không gì đẹp mắt và thanh bình cho bằng mỗi sáng, từng nhóm nữ sinh trong bộ áo dài, thướt tha, xõa tóc dài chạy xe đạp đến trường. Cũng nơi đó, những cô giáo, những người mẹ thứ hai của các học sinh nhẹ nhàng đón rón những đứa con của mình trước giờ vào học trong chiếc áo dài mới thực sự toát lên vẻ đằm thắm, và thương yêu. Trong những dịp lễ Tết, chiếc áo dài lại thêm một lần nữa thấp thoáng trên các ngã tư đường phố, cùng hoa va cảnh sắc của trời mới đất mới, khoe sắc ngày Tết. Áo dài giũa phố đông chật chội người và xe, ấm ào náo động, làm dịu lại cảnh sắc và làm mát lại những hồn người, làm cho ai đó phải quay lại ngắm nhìn dù chỉ một lần, dịu đi cái khó chịu và u uất vốn có trong bản tính mỗi con người bân rộn.

Chiếc áo dài hình như có cách riêng để tôn lên nét đẹp của mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật rộng trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ đến trên vòng eo khiến cho người mặc có cảm giác thoải mái, lại tạo dáng thướt tha tôn lên vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bằng vài lụa mềm lại cũng vừa khiêu gợi vì nó làm lộ ra sống eo. Chính vì thế, chiếc áo dài mang tính cá nhân hóa rất cao, mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người và chỉ dành cho ngươi ấy, không thể là một công nghệ “sản xuất đại trà” cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo rất kĩ, khi may xong phải thử và chỉnh sửa lại thêm vài lần nữa thì mới hoàn thiện được.

Thực vậy, trong các hội nghị quốc tế, ở hội thảo khoa học nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nữ học giả Mỹ đã vận một chiếc áo dài, và mở đầu bài phát biểu của mình bằng một câu tiếng Việt: “Xin chào các bạn”, cả hội trường Ba Đỉnh trang trọng khi đó bỗng tràn ngập một không khí thân thương trìu mến. Trong hội nghị cấp cao APEC lần thứ 14 ở Việt Nam, áo dài đã được vinh dự là trang phục chính cho các vị lãnh đạo nguyên thủ quốc gia của các nước mặc trong buổi lễ bế mạc kết thúc hội nghị. Áo dài, như vậy có thể là đại sứ tinh thần của văn hóa Việt, mang nước Việt Nam cùng hòa chung vào dòng kinh tế năng động và nhiệt huyết trên thương trường thế giới, là một nét riêng của người phụ nữ Việt nói riêng và cả dân tộc Việt nói chung.

Áo dài là hiện thân của dân tộc Việt, một vẻ đẹp mĩ miều nhưng đằm thắm, là một phần tất yếu trong mỗi phụ nữ Việt, là đặc trưng cho một quốc gia có người phụ nữ chịu thương chịu khó, luôn hy sinh, đứng phía sau để cổ động tinh thần cho nước nhà, cùng nhau hòa nhịp và phát triển. Trải qua từng thời kì, từng giai đoạn cùng với những diễn biến của quà trình lịch sử Việt Nam, tà áo dài Việt Nam luôn tồn tại theo dòng thời gian, vẫn mãi sẽ là tâm hồn Việt, văn hóa Việt, là tinh thần Việt và là trang phục truyền thống mang đậm tính lịch sử lâu đời của nước Việt ngàn năm văn hiến.

Kín đáo, duyên dáng và gợi cảm là một trong những yếu tố đưa áo dài trở thành niềm kiêu hãnh của người Việt. Không chỉ là cái áo nữa – chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt, tạo thành sản phẩm văn hoá vật thể truyền thống không thể thiếu cho vẻ duyên dáng của người phụ nữ Việt.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 2: Thuyết minh về chiếc nón bảo hiểm

Mũ bảo hiểm là loại mũ được cấu tạo đặc biệt dùng để bảo vệ đầu người khi bị tai nạn giao thông. Mũ cấu tạo gồm ba lớp. Lớp thứ nhất ở bên ngoài là lớp vỏ cứng được làm từ nhựa đặc biệt, cao cấp hơn người ta còn sử dụng sợi carbon siêu nhẹ… Lớp thứ hai là miếng xốp dày để giảm chấn động cho đầu khi bị va đập mạnh. Lớp trong cùng được cấu tạo bằng một chất liệu mềm và thưa để làm thoáng khí và làm êm đầu khi đội mũ.

Bên dưới nón là dây quai nón có tác dụng giữ nón chặt vào đầu người sử dụng kể cả khi người sử dụng bị té ngã hay chịu lực tác động khác thì nó vẫn giữ chặt vào đầu người. Dây được may từ sợi dây dù vừa rẻ, bền, chắc hay cao cấp hơn thì dây được làm bằng da. Để giúp cho việc đội nón vào bỏ nón, người ta chia dây thành hai phần gắn lại với nhau bằng một móc khóa nhựa rất chắc nhưng thao tác tháo mở thì cực kì đơn giản. Trên sợi dây dài được gắn một miếng cao su hay nhựa dẻo có thể di động được phù hợp với vị trí cằm để góp phần giữ chặt nón vào đầu. Trên sợi dây còn có một khớp để có thể nới dây dài ra hoặc thu ngắn lại giúp nón giữ chặt với đầu có các kích thước lớn nhỏ khác nhau.

Mũ bảo hiểm ở một số loại có từ 2 đến 3 lỗ hầm gió để khi di chuyển sẽ tạo ra nguồn gió làm thông thoáng bên trong mũ. Những nước nhiệt đới như Việt Nam ta thì những loại mũ có lỗ thông gió là loại thông dụng nhất vì khí hậu nóng lại phơi nắng lâu nên có một thời gian nón bảo hiểm được ví như “nồi cơm điện” chụp trên đầu. Chính các lỗ thông gió này đã tạo cơ hội cho người sử dụng các loại nón kiểu này cảm thấy thuận tiện hơn khi đội nón. Người ta cấu tạo nón bảo hiểm có lỗ thông gió còn kèm thêm các nút bít để sử dụng thuận tiện vào mùa mưa.

Về hình dạng nón ta thường thấy có hai loại là: nón nửa đầu và nón trùm đầu. Đặc điểm nón nửa đầu là có trọng lượng nhẹ và rẻ hơn so với nón trùm đầu được người dân yêu thích vì nón trùm đầu giống như “nồi cơm điện” úp trên đầu. Phải chăng lúc ban đầu các nón bảo hiểm đều chủ yếu có màu trơn như trắng, đen nhìn rất đơn điệu. Sau này, các nhà sản xuất đã tiếp thị được nhu cầu của người sử dụng nên đã dán decal, in hình, hay làm màu sắc đa dạng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Thậm chí màu sắc, hình ảnh trên nón còn thể hiện cái tôi, cái cá tính riêng của từng người. Ngoài ra, còn có chương trình hướng dẫn cho các bạn trang trí theo cá tính riêng của mình. Qua sự việc này ta thấy nón bảo hiểm đã trở thành một hình ảnh rất thân thiện không thể thiếu được trong cuộc sống của chúng ta.

Để tăng thêm tiện ích cho mũ bảo hiểm, các nhà sản xuất đã gắn thêm lưỡi trai ngắn hay kính để che bụi giúp cho nón. Hiện nay, đôi khi ta vẫn thấy có những nón có nhiều phụ kiện làm đẹp thái quá, rất phản khoa học như các phụ nữ thường gắn thêm miếng vải che nắng hoặc do thói quen đội nón vải mà nhiều người đã gắn thêm miếng lưỡi trai quá dài. Điều đáng nói là tất cả nón này đều không được các nhà sản xuất lớn, có uy tín sản xuất ra vì đây là phản khoa học và những cái nón đấy lại được sản xuất ở các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, chuyên sản xuất hàng nhái… gây nguy hiểm cho người sử dụng khi gặp tai nạn.

Đôi khi ra đường ta vẫn bắt gặp những người công nhân đi xe máy đội nón bảo hộ lao động. Đấy là sự thiếu hiểu biết của người tham gia giao thông. Nón bảo hộ lao động chịu tác động tốt từ trên xuống chứ không chịu được tác động mạnh ở mọi hướng. Mà nón bảo hiểm được cấu tạo để bảo vệ khắp vùng đầu nên chúng ta cần phải sử dụng nón bảo hiểm thay cho sử dụng nón bảo hộ lao động khi đi ra ngoài đường sau khi ra khỏi công trường.

Bên cạnh những cửa hiệu bán nón bảo hiểm nghiêm túc, chúng ta cũng thấy được không ít người bán hàng rong nón bảo hiểm kém chất lượng, hàng nhái hàng giả với giá thành cao nhất chỉ bằng 1/10 giá gốc, chính hãng. Sự tồn tại và phát triển của những loại nón nhái chính là ý thức của một bộ phận người dân trong việc bảo vệ họ khi tham gia giao thông. Họ sợ công an hơn là tính mạng của họ khi tham gia giao thông. Họ không nhận thức được quyền lợi của họ khi đội nón bảo hiểm. Điều này nói lên rằng công tác tuyên truyền của ta chưa tốt, nón nhái kém chất lượng vẫn còn đất để sống.

Hiện nay, mũ bảo hiểm có quá nhiều giá, nhiều loại và nhiều chất lượng khác nhau. Vậy để mua được một nón bảo hiểm chất lượng, ta nên chọn mua như thế nào? Mũ bảo hiểm thật gồm hai loại mũ trong nước sản xuất và mũ nhập khẩu. Với mũ bảo hiểm trong nước phải có dấu CS (dấu do tự doanh nghiệp công bố sản phẩm của mình phù hợp với tiêu chuẩn Việt Nam), mũ ngoại nhập không có dấu CS nhưng phải có tem kiểm tra. Kiểm tra các thông số ghi trên mũ: Tên và địa chỉ đơn vị sản xuất, cỡ mũ, ngày sản xuất, hướng dẫn sử dụng… và những kí hiệu này phải rõ ràng, không lu mờ, trơn bóc.

Vậy để sử dụng nón được lâu, ta nên biết cách để bảo quản nón một cách tốt nhất. Ta nên tránh để va đập quá nhiều làm giảm chất lượng sản phẩm. Thường xuyên sử dụng nước khử mùi hay giặt miếng lót bên trong. Tránh việc đội chung mũ với người lạ đặc biệt là nón của xe ôm để tránh lây các bệnh da đầu. Không nên treo mũ trên tay lái bởi dễ gây trầy xước hoặc hỏng quai mũ, không nên dùng nước nóng, các chất tẩy rửa mạnh để lau chùi, bởi dễ làm hỏng mũ.

Cuối cùng thì việc chiếc nón bảo hiểm của chúng ta sẽ chỉ có thể phát huy tác dụng cho việc bảo vệ cuộc sống của chúng ta tùy thuộc vào tần suất sử dụng chúng có thường xuyên hay không. Vậy khi nào chúng ta sẽ phải thay một chiếc nón bảo hiểm mới?

Nón bảo hiểm đã bị va đâp và chịu lực va đập lớn do tai nạn. Những chi tiết phụ kiện của nón bảo hiểm bị hư hỏng do thường xuyên sử dụng, hoặc xuất hiện những dấu hiệu của sự xuống cấp. Những tấm đệm lót bên trong nón bảo hiểm có dấu hiệu xuống cấp hư hỏng do sử dụng thường xuyên. Bạn có thể kiểm tra bằng cách: Đội nón bảo hiểm, cài dây khoá nón, và lắc mạnh đầu bạn theo bên trái và bên phải. Nếu nón bảo hiểm bị lỏng và không ôm theo đầu bạn có nghĩa nón đã không còn đảm bảo an toàn. Trên bề mặt của vỏ nón bảo hiểm có những đường nứt màu trắng hoặc những khe nứt nhỏ. Tuy nhiên dù cho bạn không phát hiện bất kỳ dấu hiệu gì tương tự như được nêu trên. Nhưng bạn nên thay chiếc nón bảo hiểm mới sau 5 năm sử dụng theo lời khuyến cáo của các nhà nghiên cứu. Theo các báo cáo từ các bệnh viện, ngay từ khi luật đội nón bảo hiểm được áp dụng, số ca chấn thương do tai nạn giao thông lập tức giảm thấy rõ. Ở Bệnh viện Việt Đức số bệnh nhân chấn thương sọ não do tai nạn giao thông đã giảm từ 40 ca/ngày năm ngoái xuống còn 30 ca/ngày chỉ sau 3 ngày luật được áp dụng. Ngay tại Thành phố Hồ Chí Minh, báo chí cũng cho biết các ca chấn thương sọ não đã giảm rõ rệt sau khi luật đội nón bảo hiểm có hiệu lực.

Khi việc đội mũ bảo hiểm đã được pháp luật quy định thì tình hình giao thông nước ta đã trở nên đặc biệt không giống ai. Trong khi các nước phát triển, người dân sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, kế đến là xe hơi và xe gắn máy thì được sử dụng rất hạn chế. Người ta quy định những làn đường đi riêng không chung với xe hơi như ở nước ta. Chúng ta đã phát triển một cách sai lầm khi không tập trung xây dựng mạng lưới giao thông công cộng mà trao cho người dân một phương tiện rất hữu ích đó là xe gắn máy. Chính vì thế mà hiện nay số lượng xe gắn máy ở nước ta lên hàng chục triệu chiếc xe gắn máy. Nếu mỗi xe gắn máy cần phải 2 cái nón thì như vậy nước ta sẽ là thị trường khổng lồ của nón báo hiểm, một sự phát triển dị dạng không giống ai. Nhưng trong tương lai nước ta sẽ phải phát triển mạng lưới giao thông công cộng và tiến đến cấm xe gắn máy ở một số thành phố lớn. Điều này có nghĩa là chiếc nón bảo hiểm sẽ có một ngày không còn là nỗi ám ảnh của mỗi người dân khi ra đường. Lúc đó nhận thức của người dân về nón bảo hiểm sẽ thực tế hơn, đúng ý nghĩa với sự tồn tại của nó.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 3: Thuyết minh về cây bút máy

Từ thuở xa xưa, Khi sáng tạo ra được những ký tự, con người đã luôn khao khát lưu lại bằng văn bản những cuộc phiêu lưu như là một bằng chứng thể hiện khả năng chinh phục thiên nhiên, cuộc sống để lại cho thế hệ sau. Để làm được điều đó, người ta cần hai thứ : dụng cụ để viết và vật để lưu những ký tự đó. Người Xume là những người đầu tiên ghi lại lịch sử trên những phiến đất sét. Cách thức này được gọi là “chữ hình nêm” (tức chữ Ba Tư cổ), có từ khỏang 3.000 năm trước.

Bút và giấy đầu tiên được ra đời trong nền văn minh Ai Cập cổ. Những người chép sử đã sử dụng cây sậy với đuôi được nhai nát để chấm lên chất màu. Sau đó, họ vẽ những chữ tượng hình lên tường hoặc giấy cói. Dần dần, cùng với sự phát triển của chất màu, những cây sậy được “lên đời” thành dụng cụ sắc nhọn với đường rãnh ở cuối, dọn đường cho việc ra đời bút lông chim.

Trong thế kỷ 16, bút làm bằng lông cánh chim thiên nga trở thành dụng cụ viết số một với những ưu điểm là đầu dễ vót nhọn, dễ uốn hơn và ít gãy hơn dưới lực ép từ bàn tay nhằm tạo ra những nét thanh, nét đậm. Ống lông có thể lưu trữ mực đủ để viết nhiều dòng.

Đến giữa thế kỷ 19, kim loại được sử dụng để chế tạo đầu bút vì dễ làm được chuẩn xác mà lại bền. Thế nhưng, người viết vẫn phải chấm bút vào lọ mực nên mỗi khi di chuyển thì rất phiền phức.

Năm 1884, anh nhân viên môi giới bảo hiểm Lewis Waterman phát chán với những bất tiện trên đã tiến hành một cuộc cách mạng trong thế giới bút. Waterman phát hiện ra rằng lực hút mao dẫn có mối liên hệ động lực với áp suất khí quyển. Waterman tạo ra hai hoặc ba rãnh để không khí và mực đồng thời vận động. Không khí sẽ thế chỗ của phần mực đã sử dụng. Và cuộc cách mạng bắt đầu.

Bút máy gồm có ba phần nắp bút được làm bằng nhôm, có khi được mạ đồng. Thân bút có thể chia thành ba phần : bình mực dự trữ, ống dẫn và ngòi bút. Trong đa số bút máy hiện đại, phần này dự trữ mực theo hai cách. Một cách đơn giản là đổ mực vào bình. Cách thứ hai sử dụng hệ thống pistol. Ống dẫn đưa mực xuống ngòi bút bằng một loạt các rãnh.

Bút máy tạo nên những nét đậm nhạt khác nhau tùy thuộc vào lực tay người viết, góc độ của bút với mặt giấy và độ quay của đầu ngòi bút. Hiệu quả là những nét tao nhã được tạo nên và hình thành cả nghệ thuật viết chữ đẹp.

Những kim loại quý đóng vai trò quan trọng trong việc chế tạo ngòi bút, giúp ngòi bút có độ bền và viết đẹp hơn. Thường thì người ta dùng ngòi bút bằng thép không rỉ hoặc mạ vàng. Ở dạng nguyên chất, vàng không đáp ứng được những tiêu chuẩn đàn hồi nên dùng vàng pha là tốt nhất. Loại vàng hay được sử dụng để chế tạo ngòi bút là vàng mười bốn nghìn và vàng mười tám.

Đầu ngòi bút không thể làm bằng vàng vì sẽ nhanh mòn trong thời gian ngắn. người ta chọn một chất liệu rắn, thường là Iridium hoặc Rhodium. Nhờ đó, người dùng có thể viết cả đời mà đầu bút vẫn nguyên vẹn.

Thân bút thường làm bằng những chất liệu bền để nâng tuổi thọ cho cây bút. Những cây bút máy đời đầu có vỏ bằng cao su đã qua xử lý lưu huỳnh rất chắc chắn.

Ngày nay, các nhà sản xuất sử dụng những chất liệu hiện đại hơn. Ở Italia, người ta dùng Celluloid cho những cây bút đắt tiền. Loại chất liệu này có khả năng chống va đập rất tốt và có thể tạo nên vẻ tao nhã, lịch lãm. Những cây bút làm bằng celluloid lúc mới dùng có mùi long não do có chất này trong quá trình nitơ hóa celluloid. Axetat hay nhựa tổng hợp cũng là các chất liệu quen thuộc đáp ứng được yêu cầu về độ bền.

Loại bút vừa túi tiền thường có thân được làm bằng đồng thau phủ sơn, giúp cây bút có độ thăng bằng tốt và có dáng vẻ bắt mắt. Những chất liệu hiện đại giúp tạo nên nhiều màu sắc cho cây bút hơn. Còn với những cây bút cao cấp, thân bút thường được làm bằng bạc, bạc mạ vàng, vàng hoặc thậm chí cả bạch kim.

Ngày nay đã xuất hiện nhiều loại bút máy của các hãng nổi tiếng. Những cây bút đẹp của hãng Paker. Những nét bút lướt nhẹ nhàng trên giấy tập của hãng Pilot và nhiều hãng khác. Giá thành những cây bút cao cấp này không dưới 100$ một cây. Những cây bút làm bằng vàng hoặc mạ vàng, giá thành không dưới 1000$.

Bút không có thuộc tính chọn chủ như những cây đũa phép trong truyện Hary Potter. Con người chọn nó tùy vào túi tiền, cá tính của họ. Có cây giá bình dân 15.000đ đến 20.000đ… loại được ưa chuộng nhất trên thị trường, cũng có cây lên cả bạc triệu.

Nhìn bút, con người biết được “đẳng cấp” của nhau, nhìn vào nét chữ họ đoán tính cách, đánh giá những gì thành chữ họ rõ trình độ của nhau.

Một cái áo cà sa không làm nên ông thầy tu, một cây bút tốt, đắt đến cỡ nào cũng chỉ là vật để trang trí nếu vào tay kẻ đầu rỗng.

Ngày nay, nhiều loại bút bi đa dạng nhiều kiểu dáng và giá thành rẻ đã ra đời và chiếm lĩng thị trường văn phòng phẩm; đã xuất hiện nhữhng cây bút điện tử thông minh. Liệu cây bút máy còn tồn tại được bao nhiêu lâu nữa?

Nhưng, dù bút hiện đại có đa dạng cỡ nào cũng không thể thay thế được bút máy bởi những nét chữ thanh đậm sống động, có hồn đòi hỏi con người phải gai công rèn luyện.

Cây bút máy dù bị thu hẹp thị trường nhưng giá trị của nó vẫn không thể nào thay đổi với thời gian.

“Dù cho sống thác ai ơi

Bút ta vẫn sống trọn đời tươi vui

Bài viết số 3 lớp 8 đề 4: Thuyết minh về cái kéo

Cái kéo được phát minh ở đâu và bao giờ là chuyện ngày nay vẫn còn gây tranh cãi. Xuất phát điểm cho sự phát triển của cái kéo dường như bắt đầu từ việc dùng đồng thời một cặp dao một lúc. Đó là hai lưỡi dao rời nhau. Trong khi một tay giữ lưỡi dao nằm dưới, tay kia thực hiện động tác cắt. Những di vật thuộc thế kỷ 2 – 3 sau Công nguyên (CN) tìm thấy ở khu vực La Mã- sông Ranh đã chứng minh cho điều đó . Nhưng có thể kéo đã xuất hiện trước đó rất lâu.

Kéo có nhiều loại tùy theo tính chất công việc từng loại kéo mà người ta sáng tạo ra các mẫu kéo phù hợp với công dụng của nó như: kéo chốt đuôi, kéo kẹp, kéo khớp…

Kéo chốt đuôi: Bước phát triển tiếp của kéo là chiếc kéo có chốt ở đuôi. Đó là hai lưỡi kéo mà phần đuôi của chúng được gắn một cái chốt tạo thành khớp nối. Sử dụng chiếc kéo kiểu này trong thực tế khá rắc rối, vì để cắt được cần phải ấn các lưỡi kéo vào nhau, và sau đó phải dùng tay tách chúng ra khỏi nhau.

Kéo kẹp: So với kéo khớp , kéo kẹp với cần kéo hình chữ U nằm ngang có tiến bộ hơn hẳn, vì nó có thể sử dụng được bằng một tay do sức đàn hồi của vật liệu mà cánh kéo có thể tự mở ra. Kép kẹp chỉ xuất hiện khi người ta sản xuất được đồng thau hay hợp kim của sắt có thể rèn được vào khoảng năm 1000 trước CN. Đó là điều kiện để cánh kéo có thể đàn hồi được. Vì độ đàn hồi của đồng thau mau chóng giảm đi, nên kéo kẹp bằng đồng thau ngày một hiếm dần. Người ta đã tìm được kéo kẹp bằng sắt ở Trung Âu được sản xuất vào khoảng năm 500 trước CN. Có những mẫu kéo thời đó có lò xo hình chữ U, để tăng độ căng, người ta dần chuyển cần kéo sang dạng gần tròn. Thời Đường ở Trung Quốc đã có dạng kéo kẹp mà cần kéo có dạng cần bắt chéo lên nhau như hai chữ oo liền nhau. Đến tận thế kỷ 17, kéo kẹp là dạng kép phổ biến nhất ở châu Âu.

Kéo khớp: Dạng kéo khớp được sử dụng ngày nay xuất hiện khoảng năm 300 trước CN. Vì chỉ còn rất ít di vật còn lại nên không thể xác định chính xác năm xuất hiện. Vào thế kỷ 17 và từ đó trở đi những loại kéo chuyên dụng được phát triển: kéo cắt giấy dài và lưỡi mỏng, kéo bản lưỡi rộng để cắt vải và kéo đa năng có lưỡi nhọn dần.

Kéo được cấu tạo bằng hai thanh kim loại được mài sắc tạo thành lưỡi kéo, phần đuôi uốn cong tạo thành tay cầm. Lưỡi kéo có thể được làm bằng sắt hay một hợp chất sắt pha gang, phần tay cầm được bọc bởi một lớp nhựa dẻo hoặc nhựa cứng.

Có thể nói, kéo là một dụng cụ chủ yếu dùng để cắt, tuy nhiên, tùy theo mục đích sử dụng mà kéo cũng có nhiều loại khác nhau như: kéo cắt vải để thợ may tạo nên quần áo đẹp, đa dạng và hợp thời trang; các em bé thì dùng kéo cắt giấy để cắt giấy xếp tàu bay, tên lửa…; thợ hớt tóc không thể tỉa ra các mô-đen nếu không có kéo; kéo cắt tôn cắt sắt; kéo phục vụ cho việc bếp núc để cắt cá, cắt bánh tráng, khô bò…; còn có kéo dùng trong y tế khi phẫu thuật…

Kéo là một vật dụng không thể thiếu trong cuộc sống, tuy nhỏ nhưng kéo thường được sử dụng trong các ngành công nghiệp, nông nghiêp, thủ công nghiệp và sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày. Vì vậy, kéo có rất có ích cho cuộc sống của con người, không có kéo, chúng ta sẽ rất vất vả khi xử lý một việc nào đó mà dùng dao hoặc sức bằng tay của chúng ta không thể làm tốt được.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 5: Thuyết minh về cái cặp

Suốt quãng đời cắp sách tới trường, người học sinh luôn bầu bạn với sách, vở, bút, thước,… và coi đó là những vật dụng không thể thiếu được. Trong số những dụng cụ học tập ấy thì vật dụng để đựng các thứ kể trên chính là chiếc cặp – một vật đã gắn bó với tôi nhiều năm và chắc trong tương lai sẽ còn hữu ích với tôi lắm!

Cặp sách được sử dụng nhiều trong quá trình học tập cũng như trong đời sống. Chắc chắn một điều rằng, cặp sách có thể được đưa vào danh sách hàng loạt những phát minh quan trọng của loài người. Việc phát minh ra cặp sách là do người Mỹ nghĩ ra vào năm 1988.

Về cấu tạo, bên ngoài, ta dễ thấy nhất: nắp cặp, quai xách, kẹp nắp cặp, một số cặp có quai đeo, một số khác có bánh xe nhỏ được dùng để kéo trên đường,… Cấu tạo bên trong, có thể có một hoặc nhiều ngăn dùng để đựng tập sách, đồ dùng học tập, áo mưa, có thể có ngăn đựng ví tiền hay cả đồ ăn, nước uống nữa,…

Về quy trình, cho dù quy trình làm ra chiếc cặp như thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ có những công đoạn chính gồm: lựa chọn chất liệu, xử lí, khâu may, ghép nối. Chất liệu thì có rất nhiều loại cho phù hợp với yêu cầu của người dùng: vải nỉ, vải bố, da cá sấu, gải da,… Dù làm bằng chất liệu gì thì cặp cũng phải chắc, vì nó phải khiêng vác rất nặng các tập sách. Kèm theo đó, kiểu dáng cặp cũng phải phù hợp, ví dụ như con trai thì thường đeo cặp có quai sang một bên cho có khí phách, năng động. Con gái mặc áo dài thì ôm cặp trước ngực để có vẻ dịu dàng, thùy mị. Con nít thì đeo cặp ra sau lưng để dễ dàng chạy nhảy, vui đùa. Cùng với màu sắc, hiện đang thịnh hành rất nhiều loại cặp với nhiều màu sắc, hình ảnh đa dạng, phong phú, bắt mắt phù hợp cho từng lứa tuổi.

Một số lời khuyên về việc sử dụng cặp cho đúng cách: chiếc cặp khi đeo không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể của mình. Nên xếp những đồ vật nặng nhất vào phần trong của cặp (phần tiếp giáp với lưng). Xếp sách vở và đồ dùng học tập sao cho chúng không bị xô lệch. Chắc chắn rằng những vật dụng để trong cặp đều càn thiết cho các hoạt động trong ngày. Đối với cặp hai quai, chúng ta không nên đeo lủng lẳng một quai, dễ cong vẹo người. Đối với cặp chỉ có một quai, nên thay đổi vai đeo để tránh cong vẹo người. Khi mua cặp, nên chọn loại quai đeo có độn bông, mút hoặc vải,…

Ngày nay, có rất nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như Miti, Samsonite, Tian Ling, Ling Hao,… phổ biến ở khắp mọi nơi như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,… Nhưng cho dù chúng đẹp đến đâu, bền cỡ nào đi chăng nữa, cũng từ từ theo thời gian mà hỏng dần đi nếu như chúng ta không biết cách bảo quản nó, chẳng hạn như quăng chúng ình ình mỗi khi gặp chuyện bực mình hoặc ham vui mà quăng nó đi. Thế nên, chúng ta không nên quăng cặp bừa bãi, mạnh tay, thường xuyên lau chùi cặp cho sạch sẽ.

Nói tóm lại, cặp sách là một vật dụng rất cần thiết trong việc học tập và cả trong đời sống của chúng ta. Nếu chúng ta sử dụng đúng cách, nó sẽ mang lại cho chúng ta nhiều lợi ích và có thể được coi là người bạn luôn luôn đồng hành với mỗi chúng ta. Đặc biệt là đối với học sinh- chủ nhân tương lai của đất nước.

Bài viết số 3 lớp 8 đề 6: Giới thiệu đôi dép lốp trong kháng chiến

Đôi dép cao su là vật dụng đầy sáng tạo và độc đáo, chỉ ở đất nước Việt Narn mới có. Nó đã gắn bó thân thiết với cán bộ và chiến sĩ ta qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đố quốc Mĩ xâm lăng.

Đôi dép có hình dáng giống các đôi dép bình thường khác. Quai dép được làm bằng săm (ruột) xe ô tô cũ. Hai quai trước bắt chéo nhau, hai quai sau song song, vắt ngang cổ chân. Bề ngang mỗi quai khoảng 1,5 cm. Quai được luồn xuống đế qua các vết rạch vừa khít với quai. Đế dép được làm bằng lốp (vỏ) xe ôtô hỏng hoặc đúc bằng cao su, mặt dưới có xẻ những rãnh hình thoi để đi cho đỡ trơn.

Dép lốp cao su dễ làm, giá thành rẻ, tiện sử dụng trong mọi thời tiết nắng, mưa. Khi xỏ quai sau vào, dép sẽ ôm chặt lấy bàn chân và gót chân nên người đi đường sẽ không bị mỏi. Người đi đường xa mang sẵn cái rút dép tự tạo bằng cật tre già hoặc bằng nhôm, đề phòng khi dép cao su bị tuột quai thì rút lại.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, mỗi anh bộ đội được phát một đôi giày và một đôi dép cao su. Chiến sĩ ta thường sử dụng dép cao su để hành quân đánh giặc. Đi giày vừa nặng vừa nhiều cái bất tiện, nhất là lúc hành quân qua địa hình rừng núi, gặp trời mưa thì giày là cái túi nước dưới chân, là nơi trú ngụ tốt nhất của các con vắt rừng chuyên hút máu. Dẫu biết có vắt trong giày, các chiến sĩ vẫn phải cắn răng chịu đựng, không dám dừng lại để bắt nó ra vì sợ lạc đội ngũ.

Nếu dùng dép lốp để hành quân thì mọi việc đơn giản hơn nhiều. Trời nắng thì dép nhẹ, dễ vận động. Nếu trời mưa, gặp đường sình lầy thì chỉ cần đổ ít nước trong bi đông ra rửa bớt bùn là tiếp tục đi. Vắt cắn chân thì cúi xuống nhặt, vứt sang lề đường, chẳng mất thời gian.

Đôi dép cao su là biểu tượng giản dị, thuỷ chung trong hai cuộc chiến tranh giải phóng đau thương mà oanh liệt của dân tộc ta. Đôi dép cao su còn gắn liền với cuộc sống thanh cao, giản dị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Đôi dép cao su, đôi dép Bác Hồ đã trở thành đề tài bài thơ của nhà thơ quân đội Tạ Hữu Yên, được nhạc sĩ Văn An phổ nhạc. Bài hát đã in đậm hình ảnh đáng yêu của đôi dép cao su trong lòng công chúng: Đôi dép đơn sơ, đôi dép Bác Hồ, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường, trận địa, nhà máy, đồng quê, đều in dấu dép Bác về Bác ơi! Dép này Bác trải đường dài. Đã cùng Bác vượt chông gai, xây non nước nhà. Đường đi chiến đấu gần xa, dấu dép Cha già dẫn lối con đi… Bài hát đã vang lên cùng năm tháng, nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta hãy trân trọng thành quả và vinh quang to lớn mà ông cha ta đã tạo dựng nên từ những thứ bình thường nhất trong quá trình dựng nước và giữ nước.