Soạn Văn 8 Bài Tức Cảnh Pác Bó Violet / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Bài Tức Cảnh Pác Bó Ngữ Văn 8

Tức Cảnh Pác Bó là một sáng tác vô cùng độc đáo của Hồ Chí Minh nói về cuộc sống cách mạng cho dù gian khó thế nhưng Bác vẫn lạc quan. Giải Văn mang đến cho các em bài soạn này hi vọng giúp cho các em có thể tiếp thu bài học tốt nhất!.

Soạn bài Tức Cảnh Pác Bó Ngữ văn 8

Bài làm

Câu 1:Bài thơ thuộc thể thơ gì? Hãy kể tên một số bài thơ cùng thể thơ này mà em đã học.

Nhận xét thấy được bài thơ thuộc thể thơ tứ tuyệt Đường luật. Thế rồi có một số bài thơ cùng thể thơ này đã học đó chính là những bài thơ: Cảnh Khuya, Nguyên Tiêu, Nam quốc sơn hà, Tĩnh dạ tứ, …

Câu 2:Nhận xét về giọng điệu chung của bài thơ. Tâm trạng của Bác Hồ ở Pác Bó được biểu hiện như thế nào qua bài thơ? Vì sao Bác cảm thấy cuộc sống gian khổ đó “thật là sang” ?

Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng một giọng thơ hài hước, dí dỏm, tươi vui. Cho dù là cuộc sống khó khăn và thiếu thốn như thế nào đi chăng nữa thì Bác vẫn lạc quan và coi đó là một việc “sang”. Thực sự với Bác thì đó cũng chính là niềm vui lớn nhất là được làm cách mạng, được giúp sức mình cho dân cho nước.

Nhận xét về “Thú lâm tuyền” của Nguyễn Trãi xưa đó chính là cái “thú lâm tuyền” của người ẩn sĩ bất lực khi đứng trước thực tế xã hội, lúc đó thì chỉ muốn lánh đục về trong và có thể tự tìm đến cuộc sống mang tính an bần lạc đạo. Thế nhưng chúng ta cũng nhận thấy được ở vị lãnh tụ Hồ Chí Minh thì cái “thú lâm tuyền” lúc này đây lại cứ vẫn gắn với con người hành động, gắn bó với con người chiến sĩ. Thông qua đây ta nhận thấy được cũng chính nhân vật trữ tình trong bài thơ tuy có dáng vẻ của một ẩn sĩ nhưng ta có thể nhận thấy được chính thực tế đó lại là một người chiến sĩ đang tận tâm, luôn luôn tận lực vì tự do độc lập của non sông của đất nước đó chính là “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”.

Chúc các em học tốt

Minh Minh

Soạn bài Thông tin về ngày trái đất năm 2000

Soạn bài Ôn dịch thuốc lá

Soạn bài Trường từ vựng Ngữ văn lớp 8

Topics #Soạn bài Tức Cảnh Pác Bó #Soạn bài Tức Cảnh Pác Bó Ngữ văn 8 #Soạn văn #Tức Cảnh Pác Bó

Soạn Văn 8 Vnen Bài 19: Tức Cảnh Pác Bó

Soạn văn 8 VNEN Bài 19: Tức cảnh Pác Bó

A. Hoạt động khởi động

(trang 18, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Em đã được học bài thơ nào của Bác Hồ viết ở chiến khu Việt Bắc? Hãy đọc và nêu cảm nhận của em về hình ảnh Bác trong bài thơ đó.

Trả lời:

Bài thơ “Rằm tháng giêng” (Nguyên tiêu) được Bác Hồ viết vào năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc:

Phiên âm:

Nguyên tiêu

Kim dạ nguyền tiêu nguyệt chính viên Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên Yên ba thâm xứ đàm quân sự Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền Dịch thơ:

Rằm tháng giêng

Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Cảnh sắc trong bài thơ là trăng xuân, cảnh trăng trên sông, con thuyền nhỏ, không gian bát ngát tràn sức xuân. Bài thơ còn biểu hiện tâm hồn thơ mộng, yêu thiên nhiên, say đắm, hòa mình vào ánh trăng núi rừng. Thể hiện phong thái ung dung, tinh thần lạc quan của Bác.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1. (trang 19, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Đọc văn bản “Tức cảnh Pác Bó”.

2. (trang 19, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu văn bản.

a. Em hiểu thế nào về hai chữ “tức cảnh” trong nhan đề bài thơ?

b. Đọc hiểu hai câu thơ mở đầu và thực hiện các yêu cầu:

(1) Tìm và nêu tác dụng của các từ trái nghĩa trong câu thơ đầu. Những hình ảnh như hang, bờ suối gợi lên mối quan hệ như thế nào giữa con người với thiên nhiên?

(2) Theo em, hình ảnh nhân vật trữ tình trong hai câu thơ đầu có nét gần gũi với kiểu hình tượng nào sau đây trong thơ ca trung đại?

A – Hình tượng chinh phu, tráng sĩ bày tỏ chí hướng, hoài bão.

B – Hình tượng ẩn sĩ vui thú lâm tuyền.

C – Hình tượng lữ khách mang tâm trạng nhớ quê.

D – Hình tượng người tài tử chán ghét công danh.

c. Câu thơ thứ ba tạo nên bước chuyển về cảm xúc thơ như thế nào?

d. Vì sao trong câu thơ cuối, nhân vật trữ tình cảm nhận cuộc đời cách mạng “thật là sang”? Câu thơ hé mở điều gì về tâm hồn, lẽ sống của Bác.

e. Nhận xét về giọng điệu của bài thơ.

Trả lời:

a. Hai chữ “tức cảnh” trong nhan đề bài thơ: Người viết bất chợt bắt gặp một sự việc, một cảnh tượng cụ thể mà nảy sinh cảm hứng sáng tác nên bài thơ.

b. Đọc hiểu hai câu thơ mở đầu

(1) Các từ trái nghĩa trong hai câu thơ đầu:

Các cặp từ trái nghĩa kết hợp với nhịp thơ linh hoạt diễn tả lối sống nhịp nhàng, đều đặn, nề nếp của Bác Hồ.

Những hình ảnh như hang, bờ suối gợi lên mối quan hệ hòa hợp, gắn bó giữa con người với thiên nhiên, sự ung dung, thoải mái giữa cuộc sống núi rừng.

(2) Chọn B – Hình tượng ẩn sĩ vui thú lâm tuyền.

c. Câu thơ thứ ba tạo nên bước chuyển về cảm xúc thơ vì hai câu thơ trên đang thể hiện tâm hồn khoáng đạt, giao cảm với thiên nhiên. Câu 3 này lại chuyển sang sự trang nghiêm, trang trọng, lớn lao của cuộc đời, sự nghiệp Cách mạng. Ý thơ từ chất thi sĩ chuyển sang chất chiến sĩ.

d.Trong câu thơ cuối, nhân vật trữ tình cảm nhận cuộc đời cách mạng “thật là sang” bởi vì:

+ Bác đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên hàng đầu.

+ Niềm vui lớn nhất của Người là tìm ra đường giải phóng nước nhà.

+ “sang” Người sống hòa hợp, vui vẻ với tự nhiên.

→ Câu thơ hé mở sự hi sinh thầm lặng của Người- một Nhân cách vĩ đại, cao khiết.

e. Nhận xét về giọng điệu của bài thơ:

Giọng điệu chung của bài thơ là vui, pha chút hóm hỉnh, hài hước

– Tâm trạng của Bác Hồ ở Pác Bó :

+ “sáng ra bờ suối, tối vào hang” → cuộc sống tự tại, hòa hợp với tự nhiên

+ “cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng” → thiếu thốn, đói khổ nhưng vẫn yêu đời, vui vẻ.

+ “bàn đá chông chênh” → sự khó khăn gian khổ của hoàn cảnh sống cũng chính là gian khổ của cuộc chiến đấu chống ngoại xâm.

→ Trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ khi sống ở Pác Bó nhưng Bác vẫn sống ung dung, tự tại và hòa hợp với tự nhiên.

3. (trang 20, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Tìm hiểu về câu cầu khiến

a. Chỉ ra câu cầu khiến trong những đoạn trích sau:

(1) Ông lão chào con cá và nói: – Mụ vợ tôi lại nổi cơn điên rồi. Nó không muốn làm bà nhất phẩm phu nhân nữa, nó muốn làm nữ hoàng. Con cá trả lời: – Thôi đừng lo lắng. Cứ về đi. Trời phù hộ lão. Mụ già sẽ là nữ hoàng.

(Ông lão đánh cá và con cá vàng)

(2) Tôi khóc nấc lên. Mẹ tôi từ ngoài đi vào. Mẹ vuốt tóc tôi và nhẹ nhàng dắt tay em Thuỷ: – Đi thôi con.

(Theo Khánh Hoài, Cuộc chia tay của những con búp bê)

b. Cách đọc câu “Mở cửa.” và “Mở cửa!” trong những trường hợp sau có gì khác nhau? Câu nào là câu cầu khiến? Tại sao?

(1) – Anh làm gì đấy?

– Mở cửa. Hôm nay trời nóng quá.

(2) Đang ngồi viết thư, tôi bõng nghe tiếng ai đó vọng vào:

– Mở cửa!

c. Theo em, câu cầu khiến thường có những từ ngữ nào? Câu cầu khiến được dùng để làm gì? Khi viết câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu hiệu gì?

Trả lời:

a.Câu cầu khiến trong các đoạn trích:

(1) – Thôi đừng lo lắng. Cứ về đi.

(2) – Đi thôi con.

b. Khi đọc câu “Mở cửa” trong trường hợp (1), ta đọc với giọng đều và bình thường. Còn với câu “Mở cửa!” trong trường hợp (2) ta cần đọc với sự nhấn giọng, thể hiện thái độ (bực bội hoặc đe dọa …)

Câu “Mở cửa!” (2) là câu cầu khiến.

Vì câu “Mở cửa.” ở trường hợp (1) nhằm trần thuật, giải thích. Còn câu “Mở cửa!” ở trường hợp (2) là nhằm ra lệnh, cầu khiến.

c. Câu cầu khiến thường có những từ ngữ như: hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào…

Câu cầu khiến được dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo…

Khi viết, câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than.

4. (trang 20, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh

Đọc bài viết sau và trả lời câu hỏi:

HỒ HOÀN KIẾM VÀ ĐỀN NGỌC SƠN

Nếu tính từ khi hồ Hoàn Kiếm còn là một đoạn của dòng cũ sông Hồng để lại sau khi sông chuyển dòng thì tới nay hồ đã có đến vài nghìn tuổi. Nhưng cái tên Hoàn Kiếm thì mới có từ năm thế kỉ nay. Trước đó, hồ có tên là Lục Thủy vì nước hồ bốn mùa xanh ngắt. Tới thế kỉ XV có tên Hoàn Kiếm do sự tích Lê Lợi trả gươm. Truyện kể rằng Lê Lợi khi còn ở Lam Sơn có bắt được một thanh gươm. Gươm ấy luôn ở bên ông trong suốt mười năm chinh chiến. Khi dẹp xong giặc Minh, vua Lê về Thăng Long, một hôm ngự thuyền dạo chơi trên hồ Lục Thủy, bỗng một con rùa nổi lên, ông rút gươm ra trỏ thì rùa liền đớp ngay thanh gươm mà lặn xuống. Như vậy là vua trả gươm cho trời. Vì vậy, hồ có tên là Hoàn Kiếm, gọi nôm na là Hồ Gươm. Sau thủy quân dùng hồ làm nơi luyện tập nên có thêm tên là hồ Thủy Quân.

Theo truyền thuyết thì đời Lê Thánh Tông (nửa sau thế kỉ XV) chỗ này là gò Tháp Rùa từng là Điếu Đài tức là nơi vua đến ngồi câu cá. Đến thời Vĩnh Hựu, chúa Trịnh Giang lập cung Khánh Thụy ở đảo Ngọc làm nơi hóng gió ngày hè. Đầu thế kỉ XIX, một ngôi chùa được dựng lên trên nền cung Khánh Thụy cũ và có tên chùa Ngọc Sơn. Ít lâu sau, nơi đây không thờ Phật nữa mà thờ thánh Văn Xương (chủ về văn chương, khoa cử) và Đức thánh Trần (tức anh hùng Trần Quốc Tuấn), do vậy được đổi gọi là đền Ngọc Sơn. Năm 1864, Nguyễn Văn Siêu, nhà văn hóa lớn của Hà Nội thời đó, đã đứng ra sửa sang lại toàn cảnh. Trên gò Ngọc Bội, ông xây một ngọn tháp hình bút lông, thân tháp có tạc ba chữ Tả thanh thiên (có nghĩa là viết lên trời xanh). Đó là Tháp Bút. Đi qua Tháp Bút tới một cửa cuốn gọi là Đài Nghiên vì trên có đặt một cái nghiên mực bằng đá. Qua Đài Nghiên đến cầu Thê Húc (có nghĩa là nơi ánh mặt trời đậu lại). Cầu dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn. Đền có ba nếp, nếp ngoài là bái đường, nếp giữa là nơi thờ Văn Xương và nếp sau thờ Trần Hưng Đạo. Trước mặt bái đường là Trấn Ba Đình (đình chắn sóng). Nhìn thẳng về hướng nam là Tháp Rùa. Tháp chỉ mới có từ cuối thế kỉ XIX nhưng đã trở thành biểu tượng quen thuộc của Hồ Gươm Hà Nội.

Ngày nay khu vực quanh hồ đã thành tên là Bờ Hồ, là nơi nhân dân thủ đô dạo chơi ngày hè, nơi đón giao thừa, lại còn là nơi tổ chức hội hoa đăng – đèn hoa – pháo hoa – trong những dịp lễ tết hằng năm.

(Theo Lịch văn hóa tổng hợp 1987 – 1990 )

a. Bài viết giới thiệu hai danh thắng cảnh nào của Thủ đô Hà Nội?

b. Bài viết được sắp xếp theo bố cục, trình tự nào? Bài viết còn có chỗ nào chưa hoàn chỉnh về bố cục?

c. Bài viết đã sử dụng phương pháp thuyết minh nào?

Trả lời:

d. Muốn viết được bài giới thiệu về một danh lam thắng cảnh, em cần phải làm gì?

a. Bài viết giới thiệu hai danh thắng cảnh của Thủ đô Hà Nội là: Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn

b. Bài viết được sắp xếp theo bố cục sau:

Mở bài: Giới thiệu chung về hai thắng cảnh hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn.

– Thân bài:

+ Giới thiệu về hồ Hoàn Kiếm

+ Giới thiệu đền Ngọc Sơn

– Kết bài: Giới thiệu về các danh lam thắng cảnh xung quanh hồ.

c. Bài viết đã sử dụng phương pháp thuyết minh là: phân tích, liệt kê.

d. Muốn viết được bài giới thiệu về một danh lam thắng cảnh, em cần:

+ Sự quan sát và trải nghiệm thực tiễn

+ Tìm hiểu kiến thức thông qua sách vở, lịch sử, tích truyện dân gian, truyền thống văn hóa của vùng đất được thuyết minh.

→ Kết hợp hai nguồn kiến thức trên để bài viết sinh động, chân thực, có chiều sâu.

C. Hoạt động luyện tập

1. (trang 21, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Nhận xét về câu thơ thứ 2 của bài thơ “Tức cảnh Pác Bó”, có ý kiến cho rằng từ “sẵn sàng” chỉ sự có sẵn của “cháo bẹ rau măng”, nhưng ý kiến khác lại cho rằng đó là sự “sẵn sàng” của tinh thần cách mạng. Em đồng ý với ý kiến nào? Vì sao?

Cả hai ý kiến trên đều đúng, bởi vì:

+ Thứ nhất, trong điều kiện sống giữa núi rừng chiến khi Việt Bắc, những sản vật như “bẹ”, như “rau”, như “măng” rất đầy đủ và lúc nào cũng có “sẵn”.

+ Thứ hai, ở đây ta còn có thể hiểu câu thơ này là, dẫu trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn về vật chất nhưng người chiến sĩ cách mạng lúc nào cũng “sẵn sàng” để phục vụ cho cách mạng, phục vụ cho lợi ích dân tộc.

2. (trang 21, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về câu cầu khiến

(1) Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương.

a. Gạch dưới những từ ngữ cầu khiến trong các câu sau và thử thêm, bớt hoặc thay đổi chủ ngữ xem ý nghĩa của câu thay đổi như thế nào.

(2) Ông giáo hút trước đi.

(Bánh chưng, bánh giầy)

(3) Nay chúng ta đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không.

(Nam Cao, Lão Hạc)

(Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng)

(1) Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!

b. Gạch dưới câu cầu khiến trong những đoạn trích sau. Nhận xét sự khác nhau về hình thức biểu hiện ý nghĩa cầu khiến giữa các câu đó.

(2) Ông đốc tươi cười nhẫn nại chờ chúng tôi: – Các em đừng khóc. Trưa nay các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai lại được nghỉ cả ngày nữa.

(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)

(3) Có anh chàng nọ tính tình rất keo kiệt. Một hôm đi đò qua sông, anh chàng khát nước bèn cúi xuống, lấy tay vục nước sông uống. Chẳng may quá đà, anh ta lộn cổ xuống sông. Một người ngồi cạnh thấy thế, vội giơ tay hét lên: – Đưa tay cho tôi mau! Anh chàng sắp chìm nghỉm nhưng vẫn không chịu nắm tay người kia. Bỗng một người có vẻ quen biết anh chàng chạy lại, nói: – Cầm lấy tay tôi này! Tức thì, anh ta cố ngoi lên, nắm chặt lấy tay người nọ và được cứu thoát […].

(Thanh Tịnh, Tôi đi học)

(Theo Ngữ văn 6, tập một)

(1) Thầy em hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột. (2) Hãy cố ngồi dậy húp ít cháo cho đỡ xót ruột!

c. So sánh hình thức và ý nghĩa của hai câu sau:

Trả lời:

(Ngô Tất Tố, Tắt đèn)

a. Những từ cầu khiến trong câu:

(1) Hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương.

(2) Ông giáo hút trước đi.

(3) Nay chúng ta đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không.

Khi thêm, bớt hoặc thay đổi chủ ngữ, nghĩa của câu có những sự thay đổi nhất định:

(1) Thêm chủ ngữ: Con hãy lấy gạo làm bánh mà lễ Tiên vương.

Nghĩa của câu về cơ bản không thay đổi nhưng giúp cho đối tượng tiếp nhận được xác định rõ hơn và đồng thời sắc thái của lời yêu cầu những nhẹ nhàng, tình cảm hơn.

(2) Bớt chủ ngữ: Hút trước đi.

Nghĩa của câu thay đổi: Lời đề nghị trở nên sỗ sàng, bất lịch sự và khiếm nhã.

(3) Thay đổi chủ ngữ: Nay các anh đừng làm gì nữa, thử xem lão Miệng có sống được không?

Nghĩa của câu thay đổi: người nói đã bị loại ra khỏi những đối tượng tiếp nhận lời đề nghị.

b. Câu cầu khiến:

(1) Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi.

(2) – Các em đừng khóc.

(3) – Đưa tay cho tôi mau!

– Cầm lấy tay tôi này!

Sự khác nhau về hình thức biểu hiện ý nghĩa cầu khiến giữa các câu:

Câu (1): có từ cầu khiến: đi; không có chủ ngữ.

Câu (2): có từ cầu khiến: đừng, có chủ ngữ: Các em.

Câu (3): Không có chủ ngữ và từ ngữ cầu khiến, chỉ có ngữ điệu cầu khiến.

c. So sánh hình thức và ý nghĩa của hai câu:

Câu (1) có chủ ngữ Thầy em, ngược lại câu (2) không có chủ ngữ

⇒ Ý nghĩa cầu khiến của câu (1) nhẹ nhàng, ân cần và tình cảm hơn.

3. (trang 21, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Luyện tập về văn bản thuyết minh

a. Lập bảng so sánh đặc điểm của văn bản thuyết minh với các loại văn bản đã học trong chương trình (tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận) theo mẫu sau:

b. Lập dàn bài cho các đề bài sau:

(1) Giới thiệu một đồ dùng học tập hoặc đồ dùng sinh hoạt.

(2) Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em.

Trả lời:

(3) Giới thiệu về một văn bản mà em đã học.

a. Lập bảng so sánh

Loại văn bản Văn bản tự sự Văn bản miêu tả Văn bản biểu cảm Văn bản nghị luận Văn bản thuyết minh Mục đích (Đặc điểm)

kể lại, thuật lại sự việc

Vẽ lại sự vật, sự việc bằng ngôn ngữ một cách sinh động

Bày tỏ suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc của người viết

Bày tỏ quan điểm, nhận xét, đánh giá về một vấn đề

Giới thiệu sự vật, hiện tượng; giúp cho người đọc hiếu rõ đặc điểm, tính chất, nguyên nhân và có cái nhìn khách quan về sự vật, hiện tượng đó.

(1) Giới thiệu một đồ dùng học tập hoặc đồ dùng sinh hoạt.

b. Lập dàn bài:

Mở bài: Giới thiệu về đồ dùng thuyết minh (thước kẻ, bút chì, bút máy…)

Thân bài:

– Nguồn gốc, xuất xứ của đồ dùng : hãng sản xuất

– Hình dáng: Màu sắc, kích thước

– Cấu tạo:

+ Gồm mấy phần?

+ Gồm những bộ phận nào?

+ Các bộ phận được sắp xếp ra sao? Công dụng của từng bộ phận

– Cách sử dụng

– Cách bảo quản

(2) Giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em.

Kết luận: Giá trị, tầm quan trọng hữu ích của đồ dùng đó trong học tập

Mở bài: Giới thiệu chung về thắng cảnh tại quê hương

Thân bài:

– Vị trí địa lý

+ Diện tích ( lớn, nhỏ )

+ Đến đó bằng phương tiện gì thuận tiện?

+ Cảnh vật xung quanh thắng cảnh đó như thế nào?

– Nguồn gốc ( hình thành và phát triển)

+ Lịch sử hình thành: có từ bao giờ, ai là người khởi công xây dựng…

+ Hiện tại thắng cảnh đó trong tình trạng nào? ( cần tu sửa nâng cấp, đã được sửa sang kiên cố…)

+ Quy mô

– Nhìn toàn cảnh:

+ Nhìn tổng thể từ xa

+ Nổi bật nhất là điều gì

+ Kiến trúc nổi bật bên trong: Cách trang trí, sắp xếp, bố cục…

– Giá trị văn hóa lịch sử của địa danh

+ Địa danh tô điểm đẹp cho vùng quê như thế nào?

+ Thu hút lượng khách du lịch

(3) Thuyết minh về một văn bản, một thể loại văn học mà em được học

Kết bài: Tình cảm, cảm nghĩ chung về đối tượng

Mở bài: Giới thiệu chung về thể loại văn học mà em chọn thuyết minh ( văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại)

Thân bài:

– Khái quát chung:

+ Đưa ra khái niệm về thể loại văn học đó

– Các đặc trưng của thể loại:

+ Chỉ ra các đặc điểm cơ bản

+ Nhấn mạnh vào đặc điểm nổi bật có giá trị khu biệt

– Dẫn ra các tác phẩm văn học tiêu biểu của thể loại

Kết bài: Cảm nghĩ chung về thể loại văn học đó.

D. Hoạt động vận dụng

Côn Sơn suối chảy rì rầm Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai Côn Sơn có đá rêu phơi Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm Trong ghềnh thông mọc như nêm, Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm. Trả lời:

1. (trang 23, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) So sánh hình ảnh Bác Hồ trong bài thơ Tức cảnh Pác Bó và hình ảnh Nguyễn Trãi trong đoạn trích Bài ca Côn Sơn sau đây:

Thú vui “lâm tuyền” của Hồ Chí Minh và Nguyễn Trãi:

– Giống nhau:

+ Đều sống hòa hợp, vui vẻ, chan hòa với tự nhiên.

+ Thuận theo tự nhiên, lấy tự nhiên là nhà.

– Khác nhau:

+ Nguyễn Trãi: bất lực trước thực tại nên lui về ở ẩn, “lánh đục về trong”, tự tìm đến cuộc sống ẩn sĩ “an bần lạc đạo”.

+ Hồ Chí Minh: ở giữa thiên nhiên do điều kiện cách mạng bắt buộc, Bác thiếu thốn mọi thứ từ đồ dùng, thực phẩm, cho tới nhà ở. Người hoạt động cách mạng, tìm đường hướng cứu nước giúp đời.

Trả lời:

2. (trang 23, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 2) Dựa vào những gợi ý ở mục 3, Hoạt động luyện tập, hãy viết bài văn giới thiệu một đồ dùng học tập/ sinh hoạt hoặc giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở quê hương em hay giới thiệu một văn bản mà em đã học.

“Mặt Hồ Gươm vẫn lung linh mây trời, càng toả mát hương hoa thơm Thủ đô…”. Nhắc đến Hà Nội là nhắc đến hình ảnh Hồ Gươm trong xanh và bóng Tháp Rùa nghiêng nghiêng soi dáng. Hồ Gươm cùng quần thể kiến trúc của nó đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ và thiêng liêng về Hà Nội – trái tim hồng của cả nước.

Hồ Gươm đã tồn tại từ rất lâu. Cách đây khoảng 6 thế kỷ, theo những địa danh hiện nay, hồ gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ.

Vào thế kỷ XV, hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm. Sự kiện ấy gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng của vị vua khai triều nhà Hậu Lê – người anh hùng của khởi nghĩa Lam Sơn chống lại giặc Minh (1417 – 1427), Lê Lợi. Truyền thuyết kể rằng khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, có người dân mò được một lưỡi gươm, sau đó chính ông nhặt được một cái chuôi ở trong rừng. Khi lưỡi gắn vào chuôi gươm thì thân gươm ánh lên hai chữ “Thuận Thiên” – “Thuận theo ý trời”. Gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc Minh. Khi lên ngôi về đóng đô ở Thăng Long, trong một lần nhà vua đi chơi thuyền trên hồ Lục Thuỷ, bỗng một con rùa xuất hiện. Rùa vươn đầu cất tiếng nói: “Xin bệ hạ hãy hoàn lại gươm cho Long Quân”. Lê Thái Tổ hiểu ra sự việc bèn rút gươm khỏi vỏ, giơ gươm ra thì gươm bay về phía con rùa. Rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ, và từ đó hồ Lục Thuỷ có tên gọi mới là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) hay hồ Gươm. Chính truyền thuyết đặc sắc này đã khẳng định tấm lòng yêu chuộng hoà bình, ghét chiến tranh của người dân Thăng Long – Hà Nội nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung. Câu chuyện này đã được nhấn mạnh trong ngày lễ Hà Nội đón nhận danh hiệu “Thành phố Vì hoà bình”

Sau đó, cũng vào thời Lê, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thuỷ quân nên có lúc được gọi là hồ Thuỷ Quân.

Hồ Hoàn Kiếm là một thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội. Quanh hồ trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Đó là những hàng liễu rủ thướt tha, những nhành lộc vừng nghiêng nghiêng đổ hoa soi bóng dưới lòng hồ. Giữa hồ có tháp Rùa, cạnh hồ có đền Ngọc Sơn có “Đài Nghiên Tháp Bút chưa sờn”… Hình ảnh hồ Gươm lung linh giống như một tấm gương xinh đẹp giữa lòng thành phố đã đi vào lòng nhiều người dân Hà Nội. Người dân Hà Nội sống ở khu vực quanh hồ có thói quen ra đây tập thể dục vào sáng sớm, đặc biệt là vào mùa hè. Họ gọi các khu phố nằm quanh hồ là Bờ Hồ.

“Hà Nội có Hồ Gươm Nước xanh như pha mực Bên hồ ngọn Tháp Bút Viết thơ lên trời cao”

Không phải là hồ nước lớn nhất trong Thủ đô, song với nguồn gốc đặc biệt, hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp. Và hơn thế, hồ gắn với huyền sử, là biểu tượng khát khao hòa bình (trả gươm cầm bút), đức văn tài võ trị của dân tộc (thanh kiếm thiêng nơi đáy hồ và tháp bút viết lên trời xanh). Do vậy, nhiều văn nghệ sĩ đã lấy hình ảnh Hồ Gươm làm nền tảng cho các tác phẩm của mình. Nhà thơ Trần Đăng Khoa từng viết:

Và như thế, Hồ Gươm sẽ mãi sống trong tiềm thức mỗi người dân Thủ đô nói riêng và người dân cả nước nói chung như một biểu tượng thiêng liêng về lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

Soạn Bài Tức Cảnh Pác Bó, Ngữ Văn Lớp 8, Trang 28

Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam đồng thời cũng là một nhà thơ, nhà văn lớn, bài soạn văn lớp 8 chúng ta sẽ được học một trong số các bài thơ hay của Bác đó chính là bài Tức cảnh Pác Bó. Các em cùng theo dõi bài soạn để hiểu hơn về nội dung bài học.

Câu 1: (Trang 28, SGK Ngữ văn 8, tập 2)Trả lời:– Bài thơ Tức cảnh Pác Bó thuộc thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật. Một số bài thơ cùng thể thơ này ta đã được học phải kể đến như: Rằm tháng riêng (Nguyên tiêu), Cảnh khuya, Sông núi nước nam (Nam quốc sơn hà), Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ), Xa ngắm thác núi Lư, Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra,…Câu 2: (Trang 28, SGK Ngữ văn 8, tập 2)Trả lời:– Giong điệu chung của bài thơ là giọng điệu vui tươi, lạc quan, yêu đời thêm chút dí dỏm, ví von hài hước. Tạo nên một cảm giác tự nhiên, mộc mạc, thư thái cho cả bài thơ.– Tâm trạng của Bác Hồ trong bài thơ được thể hiện qua từng câu thơ:+ “Sáng ra bờ suối, tối vào hang”, tạo thành hai vế song song nhau, cho thấy Bác có một cuộc sống rất nhịp nhàng, điều độ, sáng ra tối lại vào, vần thơ cho thấy tâm trạng vui vẻ, tự tại trước nếp sống lề lối cùng với khung cảnh thiên nhiên, non nước hữu tình.+ Câu thơ thứ 2, sự vui tươi, phơi phới lại thêm vài nét đùa vui, “Cháo bẹ rau măng luôn sẵn sàng”, ý Bác muốn nói, ở đây chẳng phải lo thiếu cái ăn, bẹ với măng nơi Pác Bó của Bác chẳng thiếu bao giờ. Hiện ở lên ở Bác nét ung dung, tự tại, hài lòng với cuộc sống hiện tại dù có khó khăn, thiếu thốn.+ “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng”, hoàn cảnh khó khăn, vất vả cũng chẳng thể ngăn được tinh thần cách mạng, lòng yêu nước, yêu Đảng của Bác.+ “Cuộc đời cách mạng thật là sang”, chữ “sang” thật đắt giá khi kết lại cả bài thơ, đẩy được cái tinh thần vui thích, lạc quan của Bác lên một tầm cao mới, lại mang một chút hóm hỉnh, đáng yêu của người làm cách mạng.– Bác cảm thấy cuộc sống gian khổ ở núi rừng Pác Bó “thật là sang” bởi lẽ, Bác vốn là một con người có lòng yêu thiên nhiên sâu sắc, nay lại được sống và làm việc ở nơi rừng xanh núi thẳm, sáng ngắm suối, tối ngủ trong hang, tảng đá thay bàn làm việc, cháo bẹ rau măng không khi nào thiếu, những gian khổ trong mắt mọi người, đối với Bác lại là cuộc sống đầy phiêu diêu, tự tại, thích chí. Khi cách mạng đang tiến dần đến thành công, niềm mong ước cả đời của Bác sắp trở thành hiện thực, chút gian khó này với Bác vốn chẳng có nghĩa lý gì, vì Bác đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Thay vào đó Bác tự hào về sự nghiệp làm cách mạng “thật là sang”, chữ “sang” ở đây là điểm nhấn của cả bài thơ, ở đây là chỉ sự giàu sang trong tâm hồn, niềm vui thích, thoải mái với cuộc sống đầy lý tưởng của người chiến sĩ cộng sản, cả đời cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Thể hiện nhân cách cao đẹp, sự hi sinh thầm lặng vĩ đại của Hồ Chủ tịch cho công cuộc giải phóng dân tộc.Câu 3*: (Trang 28, SGK Ngữ văn 8, tập 2)Trả lời:“Thú lâm tuyền” của Bác và Nguyễn Trãi có những điểm giống và khác sau:– Giống: Đều là những con người yêu thiên nhiên, thích cuộc sống vui vẻ, hòa hợp với thiên nhiên. Lấy thiên nhiên làm nguồn sống, là động lực, vui với cái nghèo, sự bình dị, mộc mạc, nguyên sơ của cảnh rừng xanh, nước biếc. Ngày ngày vui vầy, làm bạn với hoa cỏ, gió trăng, giữ được cái khí tiết trong sạch, tâm hồn tĩnh tại, ung dung.– Khác:+ Nguyễn Trãi lui về vui “thú lâm tuyền” vì bất lực trước thế sự đổi thay, muốn trốn tránh hiện thực nên tìm về sống ẩn dật, vui vầy bên hoa lá, cỏ cây, uống rượu, ngâm thơ, câu cá. Làm một ẩn sĩ trốn đời, để giữ cho tâm hồn được thanh tịnh, thư thái, không nhiễm bụi trần, không màng thế sự.+ Còn với Bác việc tìm về sống hòa mình với thiên nhiên là do hoàn cảnh bắt buộc, Bác không phải là một ẩn sĩ mà là một chiến sĩ cách mạng đang nằm gai nếm mật, tìm thời cơ thích hợp để giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Hoàn cảnh ấy chỉ cho phép Bác được hưởng niềm vui “thú lâm tuyền” trong sự thiếu thốn vật chất, gian khổ vì cuộc đời Người phần lớn là dành cho cách mạng, cách mạng là trên hết.

Như vậy chúng tôi đã gợi ý Soạn bài Tức cảnh Pác Bó bài tiếp theo, các em chuẩn bị trả lời câu hỏi SGK, Soạn bài Câu cầu khiến và cùng với phần Soạn bài Thuyết minh một danh lam thắng cảnh để học tốt môn Ngữ Văn lớp 8 hơn

Chi tiết nội dung phần tình thái từ đã được hướng dẫn đầy đủ để các em tham khảo và chuẩn bị.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-van-lop-8-soan-bai-tuc-canh-pac-bo-30520n.aspx

Soạn Bài Tức Cảnh Pác Bó (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 29 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Bài thơ thuộc thể thơ gì? Hãy kể tên một số bài thơ cùng thể thơ này mà em đã học.

Trả lời:

– Bài thơ được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt.

– Có thể kể tên một số bài thơ cùng thể thơ với bài này đã học như: Sông núi nước Nam, Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra, Xa ngắm thác núi Lư, Cảnh khuya, Rằm tháng riêng, …

Câu 2 Câu 2 (trang 29 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Nhận xét về giọng điệu chung của bài thơ. Tâm trạng của Bác Hồ ở Pác Bó được biểu hiện như thế nào qua bài thơ? Vì sao Bác lại cảm thấy cuộc sống gian khổ thật là sang?

Trả lời:

– Giọng điệu chung của bài thơ là giọng sảng khoái, tự nhiên, hóm hỉnh pha chút vui đùa. Điều đó cho thấy, dù sống trong gian khổ nhưng tâm trạng của Bác vẫn rất lạc quan, hơn thế, Bác còn cảm thấy vui thích và thoải mái với cuộc sống nơi rừng núi hoang vu. Làm cách mạng và được sống hoà hợp với thiên nhiên là một niềm vui lớn của nhà cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh

– Những năm tháng sống và làm việc ở Pác Bó, thực tế Bác đã phải trải qua rất nhiều những khó khăn. Thế nhưng những gian khổ ấy, những cháo bẹ, rau măng, bàn đá chông chênh,…không làm mờ đi được niềm tin và niềm vui vì thời cơ của cuộc giải phóng đang tới gần. Có được niềm tin ấy thì những gian khổ nhỏ nhoi trong sinh hoạt cá nhân kia có nghĩa lí gì, thậm chí, tất cả đều trở nên sang trọng cả. Bài thơ cho thấy cả nhân cách cao khiết của Hồ Chí Minh, cho thấy sự hi sinh thầm lặng của người cho đất nước.

Câu 3 Câu 3 (trang 29 SGK Ngữ văn 8, tập 2)

Qua bài thơ, có thể thấy rõ Bác Hồ cảm thấy vui thích, thoải mái khi sống giữa thiên nhiên. Nguyễn Trãi cũng từng ca ngợi “thú lâm tuyền” (niềm vui thú được sống với rừng, suối) trong bài Côn Sơn ca. Hãy cho biết “thú lâm tuyền” ở Nguyễn Trãi và ở Bác Hồ có gì giống và khác nhau.

Trả lời:

Nguyễn Trãi từng ca ngợi “thú lâm tuyền” (niềm vui thú được sống với rừng, suối) trong bài Côn sơn ca. Trong bài thơ này, Hồ Chí Minh cũng cho thấy niềm vui thú đó. Thế nhưng “thú lâm tuyền” của Nguyễn Trãi, ấy là cái “thú lâm tuyền” của người ẩn sĩ bất lực trước thực tế xã hội muốn “lánh đục về trong”, tự tìm đến cuộc sống “an bần lạc đạo”. Ở Hồ Chí Minh, cái “thú lâm tuyền” vẫn gắn với con người hành động, con người chiến sĩ. Nhân vật trữ tình trong bài thơ tuy có dáng vẻ của một ẩn sĩ nhưng thực tế đó lại là một người chiến sĩ đang tận tâm, tận lực vì tự do độc lập của non sông ( Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng).

Bố cục

Bố cục: 2 phần

– Phần 1 (3 câu thơ đầu): Cảnh sinh hoạt và làm việc của Bác.

– Phần 2 (còn lại): Cảm nghĩ của Bác về cuộc đời cách mạng.

ND chính

“ Tức cảnh Pác Bó” là bài thơ tứ tuyệt bình dị pha giọng vui đùa, cho thấy tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác Hồ trong cuộc cách mạng đầy gian khổ ở Pác Bó. Với Người, làm cách mạng và sống hòa hợp với thiên nhiên là niềm vui lớn.

chúng tôi