Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương

Soạn bài chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

I.Đọc – hiểu văn bản

Câu 1. Đại ý và bố cục của văn bản Chuyện người con gái Nam Xương.

a.Đại ý: Truyện viết về số phận oan nghiệt của một người phụ nữ có nhan sắc, đức hạnh dưới chế độ phong kiến, chỉ vì lời nói ngây thơ của một đứa trẻ mà bị chồng nghi ngờ, xỉ nhục, bị đẩy đến chỗ chọn cái chết để giãi bày tấm lòng trong sạch. Truyện cũng đề cao ước mơ ngàn đời của nhân dân là người tốt bao giờ cũng được đền trả xứng đáng, dù chỉ là ở một thế giới huyền bí.

Câu 2. Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Ở mỗi hoàn cảnh, Vũ Nương lại bộc lộ những đức tính tốt đẹp.

Câu 3. Qua cách xử sự của Trương Sinh ta thấy Trương Sinh là một người hồ đồ, độc đoán, chỉ nghe một đứa trẻ lên ba mà không phán đoán phân tích, bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, không tin cả những nhân chứng bênh vực cho nàng, nhất quyết không nói ra duyên cớ để có cơ hội minh oan, mắng nhiếc và đuổi nàng đi. Trương Sinh đã trở thành một kẻ vũ phu thô bạo đã bức tử Vũ Nương. Nỗi oan khuất của Vũ Nương do nhiều nguyên nhân đưa đến. Nhưng tựu chung là do xã hội phong kiến – Một xã hội gây ra bao bất công ấy, thân phận người phụ nữ thật bấp bênh, mong manh, bi thảm. Họ không được bênh vực chở che mà lại còn bị đối xử một cách bất công, vô lí, chỉ vì lời nói ngây thơ của đứa trẻ, vì sự hồ đồ, ghen tuông của người chồng mà đến nỗi phải kết liễu cuộc đời mình.

Câu 4. Cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện tạo kịch tính, lôi cuốn. Từ những chi tiết hé mở, chuẩn bị thắt nút đến khi nút thắt ngày một chặt hơn đã tạo cho truyện trở nên hấp dẫn, sinh động.

Câu 5. Những yếu tố truyền kỳ trong truyện là: chuyện Phan Lang nằm mộng, gặp Vũ Nương, hình ảnh Vũ Nương thể hiện ở bên Hoàng Giang…

Soạn Văn 9: Chuyện Người Con Gái Nam Xương

Soạn Văn 9: Chuyện người con gái Nam Xương được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để hiểu rõ hơn về vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Vũ Nương một người phụ nữ Việt Nam thời xưa được trích từ tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ giúp các bạn học sinh tham khảo học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 9.

Soạn Văn: Chuyện người con gái Nam Xương (Trích Truyền kì mạn lục) Tóm tắt:

Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) đẹp người đẹp nết, được Trương Sinh thất học, hay ghen cưới về làm vợ. Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ chồng chu đáo và nuôi con thơ. Khi mẹ chồng mất cũng lo ma chay chu tất. Khi Trương Sinh trở về, hay tin mẹ mất mà đau buồn. Con trẻ không biết không nhận cha, Trương Sinh đâm ghen tuông ngờ vực sự thủy chung của Vũ Nương. Vũ Nương chứng tỏ sự trong sạch của mình nên nhảy sông tự vẫn.

Phan Lang do cứu được Linh Phi nên được báo đáp. Sau đó gặp được Vũ Nương, Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ nhưng Vũ Nương không còn trở lại dương gian vì xã hội phong kiến quá hà khắc.

Câu 1 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu … chịu khắp mọi người phỉ nhổ): Nỗi oan và cái chết của Vũ Nương.

– Phần 2 (còn lại): Vũ Nương ở thủy cung và nỗi oan được giải.

Câu 2 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Nhân vật Vũ Nương trong từng hoàn cảnh:

– Trước khi lấy Trương Sinh: Tính thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp.

– Khi về nhà chồng: Người vợ thảo hiền, nết na.

– Khi chồng đi lính: Con dâu hiếu thảo, người mẹ hiền, người vợ thủy chung.

– Khi bị nghi oan: Nàng phân tỏ lòng mình mà không có kết quả, đã tự trầm mình xuống sông để bảo toàn danh dự.

→ Vũ Nương là người phụ nữ hiền thục, người vợ thủy chung, yêu thương chồng con, là người con dâu hiếu thảo, là người phụ nữ coi trọng phẩm hạnh, danh dự.

Câu 3 (trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất vì:

– Nguyên nhân trực tiếp: Do Trương Sinh nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, sinh nghi ngờ, ghen tuông.

– Nguyên nhân sâu xa:

+ Chế độ nam quyền, lễ giáo phong kiến.

+ Cuộc chiến tranh phi nghĩa gây chia ly.

→ Thân phận người phụ nữ bị xem nhẹ, khuất sau bóng người đàn ông.

Câu 4 (Trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

Truyện dẫn dắt theo trình tự thời gian, các tình tiết được đan cài khéo léo, hé mở đầu truyện lại là nút thắt đẩy lên cao trào truyện (vì Trương Sinh thất học, tính hay ghen nên mới dễ dàng tin lời con trẻ và nghi oan vợ). Giọng văn trần thuật mang tính khách quan, cộng với lời văn đối thoại đầy tính bất ngờ đã khắc họa tâm lý, tính cách nhân vật thật sâu sắc, đưa truyện đến kịch tính.

Câu 5 (Trang 51 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):

– Yếu tố kì ảo trong truyện:

+ Chuyện nằm mộng của Phan Lang, Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa.

+ Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sông, lúc ẩn lúc hiện, rồi “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”.

– Yếu tố kì ảo tạo ra thế giới huyền ảo hấp dẫn, kích thích trí tưởng tượng. Thể hiện tấm lòng nhân đạo, đó là ước mơ về một thế giới công bằng của nhân dân.

Soạn Bài: Chuyện Người Con Gái Nam Xương

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Dữ trong SGK Ngữ văn 9 tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Chuyện người con gái Nam Xương là một trong 20 truyện của tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

* Thể loại: Truyện được viết theo thể loại truyền kì. Đặc điểm của thể loại truyền kì:

Thường có yếu tố kì lạ, hoang đường, nhưng cũng có khai thác những truyện cổ dân gian và truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam.

Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát một cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng các thế lực bạo tàn và cả lễ giáo khắc nghiệt lại xô đẩy họ vào những hoàn cảnh éo le, oan khuất, bất hạnh. Một loại nhân vật khác là những người trí thức có tâm huyết, bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi chật hẹp

* Tóm tắt: Vũ Thị Thiết (Vũ Nương) là một người con gái đẹp người đẹp nết, được Trương Sinh là người thất học, hay ghen cưới về làm vợ. Cưới nhau chưa được bao lâu, Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ chồng chu đáo và nuôi con thơ. Khi mẹ chồng mất, nàng cũng lo ma chay chu toàn như đối với cha mẹ đẻ mình. Khi Trương Sinh trở về, hay tin mẹ mất mà đau buồn. Đứa con không nhận cha, Trương Sinh nổi máu ghen tuông ngờ vực sự thủy chung của Vũ Nương. Để chứng tỏ sự trong sạch của mình với chồng, Vũ Nương đã nhảy sông tự vẫn. Phan Lang do cứu được Linh Phi nên được báo đáp, sau đó gặp được Vũ Nương. Trương Sinh lập đàn giải oan cho vợ nhưng Vũ Nương không còn được trở lại dương gian vì xã hội phong kiến quá hà khắc.

* Bố cục: Văn bản được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: Vũ Nương ở Thủy Cung và nỗi oan được giải

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1: Bố cục (như trên)

Câu 2:

* Nhân vật Vũ Nương được miêu tả trong những hoàn cảnh:

Trước khi lấy chồng: là người con gái tính tình thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp

Khi về nhà chồng: là một người vợ thảo hiền, nết na, nàng không để xảy ra những bất hòa trong cuộc sống vợ chồng

Khi chồng đi lính: là một người con dâu hiếu thảo, một người mẹ hiền, một người vợ chung thủy

Khi bị nghi oan: nàng cố giải thích nhưng không được, đến bước đường cùng nàng đã tự trẫm mình xuống sông để chứng minh sự trong sạch của mình.

Câu 3:

* Vũ Nương phải chịu nỗi oan khuất là vì:

Nguyên nhân trực tiếp: do Trương Sinh là một người quá đa nghi, hay ghen, gia trưởng, độc đoán, không cho Vũ Nương cơ hội trình bày

Nguyên nhân sâu xa: do xã hội phong kiến, chế độ nam quyền với những lễ giáo phong kiến hà khắc gây ra bao bất công khiến cho thân phận người phụ nữ bấp bênh, mong manh, bi thảm. Đồng thời cũng là do cuộc chiến tranh phi nghĩa gây ra.

Câu 4:

* Cách dẫn dắt tình tiết câu chuyện:

Từ những chi tiết hé mở, chuẩn bị thắt nút cho đến khi mâu thuẫn được đẩy lên đến đỉnh điểm đã tạo nên sự hấp dẫn và sinh động cho câu chuyện

Những đoạn độc thoại và đối thoại được sắp xếp rất đúng chỗ giúp cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc họa tâm lý, tính cách nhân vật, đưa truyện đến kịch tính

Câu 5:

* Những yếu tố kỳ ảo trong truyện:

Chuyện nằm mộng của Phan Lang, Phan Lang và Vũ Nương dưới động rùa của Linh Phi

Vũ Nương hiện về ngồi trên kiệu hoa, cờ tán, võng lọng rực rỡ đầy sân, lúc ẩn lúc hiện, rồi “bóng nàng loang loáng mờ nhạt dần mà biến đi mất”

* Đưa những yếu tố kỳ ảo vào một câu chuyện quen thuộc, kết hợp với yếu tố tả thực để tạo ra hiệu quả nghệ thuật về tính chân thực của truyện. Qua đó, tác giả muốn tạo cơ sở để minh oan cho Vũ Nương, khẳng định lòng trong trắng của nàng. Đồng thời, thể hiện tấm lòng nhân đạo, là ước mơ, khát vọng của nhân dân về một thế giới công bằng.

Chuyện Người Con Gái Nam Xương

Chuyện người con gái Nam Xương

Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

I. Đôi nét về tác giả

– Nguyễn Dữ – có sách phiên âm là Nguyễn Tự (chưa rõ năm sinh năm mất)

– Quê quán: Ông là người huyện Trường Tân, nay là Thanh Miện – Hải Dương

– Nguyễn Dữ sống vào nửa đầu thế kỉ XVI, là thời kì Triều đình nhà Lê bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài

– Sự nghiệp sáng tác: Ông học rộng tài cao nhưng chỉ làm quan một năm rồi cáo về, sống ẩn dật ở vùng núi Thanh Hóa. Đó là cách phản kháng của nhiều tri thức tâm huyết đương thời

II. Đôi nét về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

1. Hoàn cảnh sáng tác

“Chuyện người con gái Nam Xương” thuộc tác phẩm Truyền kì mạn lục (ghi chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu truyền), được viết ở thế kỉ XVI. Chuyện người con gái Nam Xương có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian “Vợ chàng Trương”, là thiên thứ 16 trong 20 truyện của Truyền kì mạn lục

2. Tóm tắt

Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết, là cô gái thùy mị nết na, tư dung tốt đẹp, lấy Trương Sinh con nhà khá giả nhưng vô học, vũ phu. Cuộc sống vợ chồng chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính. Mẹ chồng nàng vì nhớ thương con mà bệnh nặng qua đời, một mình Vũ Nương gánh vác mọi thứ, tự sinh con một mình đặt tên là Đản. Để bù đắp cho con sự thiếu thốn tình cha, đêm đến Vũ Nương chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản. Khi Trương Sinh trở về nhất quyết bé Đản không chịu nhận cha và nói cha đản thường đến vào buổi tối. Lúc này Trương Sinh nghi ngờ vợ bèn mắng nhiết đánh đuổi nàng, Vũ Nương hết lời giải thích minh oan nhưng chành đều không tin, rồi nàng gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Ít lâu sau bé Đản chỉ bóng Trương Sinh trên tường và bảo đó là cha Đản thì Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ. Cùng làng Trương Sinh có Phan Lang vì đã cứu thần rùa Linh Phi nên được trả ơn. Trong một bữa tiệc dưới thủy cung, Phan Lang nhận ra Vũ Nương. Nghe Phan Lang kể chuyện nhà, Vũ Nương nhớ chồng con da diết và xin nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng, nàng sẽ trở về. Khi Trương Sinh lập đàn giải oan thì Vũ Nương có hiện lên nhưng chỉ nói vài câu rồi biến mất.

3. Giá trị nội dung

– Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam

– Niềm cảm thương cho số phận bi kịch của họ đòng thời lên án tố cáo các lễ giáo phong kiến vô nhân đạo, các hủ tục hà khắc trong chế độ phong kiến đương thời.

4. Giá trị nghệ thuật

– Truyện viết bằng chữ Hán

– Kết hợp những yếu tố hiện thực và yếu tố kì ảo, hoang đường với cách kể chuyện , xây dựng nhân vật thành công

III. Dàn ý phân tích Chuyện người con gái Nam Xương

I. Mở bài

– Giới thiệu một vài nét chủ yếu nhất về tác giả Nguyễn Dữ: Một tác giả học rộng tài cao nhưng bất đắc chí

– Giới thiệu về tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương: Là một trong hai mươi truyện ngắn của Truyền kì mạn lục

II. Thân bài

1. Nhân vật Vũ Nương

a. Vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương

– Vẻ đẹp trước khi lấy chồng: là một người con gái “tính đã thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp” ⇒ một vẻ đẹp chuẩn mực

– Trong cuộc sống vợ chồng:

+ Giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng thất hòa ⇒ Tạo dựng và giữ gìn hạnh phúc gia đình

– Khi tiển chồng đi lính:

+ Dặn dò cẩn thận, đầy tình nghĩa, thủy chung

+ Nàng không mong chồng khi trở về mang “ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ” mà chỉ mong chồng bình yên → ko màng danh lợi

– Khi xa chồng:

+ Đảm đang: Là người mẹ hiền, dâu thảo.

+ Là người vợ thuỷ chung yêu chồng tha thiết: hằng đêm vẫn chỉ vào bóng mình và bảo với con đó là cha nó để vơi đi nỗi nhớ chồng

+ Tận tình, chu đáo rất mực yêu thương con

+ Khi mẹ chồng mất, nàng lo ma chay chu tất

⇒ Là người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp tiêu biểu người phụ nữ

– Khi bị chồng vu oan:

+ Phân trần để chồng hiểu tấm lòng thủy chung của mình.

+ Nói lên nỗi đau đớn, thất vọng vì không hiểu.

+ Thất vọng tột cùng, nàng chọn cái chết để bày tỏ tấm lòng mình.

⇒ Vũ Nương là người phụ nữ xinh đẹp, nết na, hiếu thảo, chung thủy, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình

b. Số phận bi kịch của Vũ Nương

– Nguyên nhân của nỗi oan khuất và cái chết bi thảm của Vũ Nương

+ Cuộc hôn nhân không bình đẳng, chiến tranh phi nghĩa

+ Tính Đa nghi của Trương Sinh

+ Lời nói ngây ngô của đứa trẻ con

– Ý nghĩa:

+ Tố cáo chiến tranh, xã hội phong kiến trọng quyền uy người đàn ông và kẻ giàu

+ Bày tỏ niềm cảm thương của tác giả với người phụ nữ

2. Nhân vật Trương Sinh

– Là người không có học thức

– Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng

– Có tính đa nghi, trở về rất buồn vì mẹ mất.

– Cách xử sự của Trương Sinh khi nghe lời bé Đản nói thể hiện sự hồ đồ, độc đoán ⇒ chính sự ghen tuông mù quáng của Trương Sinh là một nguyên nhân dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương.

⇒ Tác giả phê phán sự ghen tuông mù quáng, bày tỏ sự cảm thông và ngợi ca người phụ nữ đức hạnh mà phải chịu nhiều đau khổ, bất hạnh.

3. Những yếu tố kì ảo

– Những yếu tố kì ảo trong tác phẩm:

+ Chuyện Phan Lang nằm mộng thả rùa

+ Cuộc gặp gỡ giữa Phan Lang và Vũ Nương dưới thủy cung

+ Vũ Nương hiện về giữa uy nghi

⇒ Là những yếu tố hoang đường nhưng vẫn rất thực và gần gũi

– Ý nghĩa:

+ Hoàn chỉnh nét đẹp của Vũ Nương

+ Kết thúc có hậu

+ Không giảm tính bi kịch của tác phẩm, mà tăng giá trị tố cáo và niềm thương cảm của tác giả đối với số phận bi thảm của người phụ nữ

III. Kết bài

– Khái quát những nét nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm: Cách dẫn dắt: khéo léo, tăng tính bi kịch, lời thoại và lời tự bạch khắc họa sâu thêm tính cách nhân vật, các yếu tố kì ảo, kết hợp tự sự với trữ tình…

– Đây là một tác phẩm mang giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc

Bài giảng: Chuyện người con gái Nam Xương – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

tac-gia-tac-pham-lop-9.jsp

Soạn Văn 9 Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Vnen

Bài Chuyện người con gái Nam Xương VNEN A. Hoạt động khởi động 1. Nêu những nhận xét của em về Vũ Nương qua lời thoại sau của nhân vật

Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.

B. Hoạt động hình thành kiến thức 1. Đọc văn bản 2. Tìm hiểu văn bản

a) Tìm bố cục của truyện bằng cách hoàn thành sơ đồ sau (ghi vào vở)

Nghĩa tình son sắt của Vũ Nương dành cho gia đình nhà chồng

Phần 1

(từ đầu đến “lo liệu như đối với cha mẹ đẻ mình.”)

Nỗi oan khuất và cái chết của Vũ Nương

Phần 2

(từ “Qua năm sau, giặc ngoan cố” đến “nhưng việc trót đã qua rồi!”)

b) Nhận xét về những phẩm chất của Vũ Nương được thể hiện ở từng phần của câu chuyện .

c) Nguyên nhân dẫn đến nỗi oan khuất của Vũ Nương là gì? Theo em, nguyên nhân nào là quan trọng nhất? Vì sao?

Bài làm:

– Nguyên nhân trực tiếp:

+ Lời nói ngây thơ của bé Đản đã vô tình gây nên mối hiểu lầm của Trương Sinh.

+ Nguyên nhân đáng trách nhất để dẫn đến cái chết oan khuất của Vũ Nương đó là tính cách đa nghi, ít học của Trương Sinh. Khi nghe lời nói ngây thơ của con trẻ, chàng chẳng thèm suy xét đúng sai hay lắng nghe những lời phân trần mà vội vàng kết tội vợ mình. Chính sự hồ đồ, độc đoán, tệ bạc này của Trương Sinh là nguyên nhân quan trọng nhất đẩy Vũ Nương đến đường cùng không lối thoát. Nếu Trương Sinh là một người tỉnh táo và biết lắng nghe, suy xét, có lẽ bi kịch này sẽ không xảy ra.

– Nguyên nhân gián tiếp:

+ Do chế độ nam quyền độc đoán, một xã hội mà nam nữ không bình đẳng, hôn nhân không có tình yêu và tự do.

+ Do chiến tranh phong kiến phi nghĩa.

d) Từ bi kịch của Vũ Nương, hãy nêu lên những cảm nhận của em về thân phận của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.

Bài làm:

Bi kịch số phận của Vũ Nương bắt nguồn từ một cái bóng, và thân phận của nàng cũng giống như chính cái bóng trên tường: nhỏ nhoi, mong manh, leo lét. Cũng như Vũ Nương, người phụ nữ nói chung sống dưới chế độ phong kiến hoàn toàn không được làm chủ cuộc đời của mình. Họ luôn phải phụ thuộc vào những người đàn ông, bị coi rẻ danh dự và nhân phẩm. Bi kịch của Vũ Nương là tiếng nói thương cảm cho số phận bất hạnh của người phụ nữ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người.

e) Nhận xét về cách dẫn dắt câu chuyện, tác dụng của những lời đối thoại và tự bạch của nhân vật, những yếu tố kì ảo hoang đường trong truyện.

Bài làm:

– Cách dẫn dắt câu chuyện: Tác giả dẫn dắt câu chuyện có diễn biến, cao trào, thắt nút, mở nút, kết thúc rất khéo léo, kịch tính.

– Những lời đối thoại, tự bạch sinh động và có tác dụng thể hiện tính cách, diễn biến tâm lí của nhân vật và tạo kịch tính cho truyện.

– Những chi tiết kì ảo, hoang đường trong truyện:

+ Tăng sức hấp dẫn, cuốn hút cho chuyện.

+ Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh dự.

+ Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng: người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh oan.

3. Tìm hiểu về sự phát triển của từ vựng

Đọc các ví dụ và trả lời câu hỏi.

(1) Mùa xuân đã đến trên quê hương tôi.

(2) Tuổi xuân của cô tôi đã trôi qua.

(3) Bạn ấy ngã xe nên bị đau tay.

(4) Anh ấy là tay văn nghệ có tiếng trong trường.

(5) Mấy ngày nay, nước nóng lên tới 40 độ C.

(6) Cả hội trường nóng lên khi người ca sĩ cất tiếng hát.

(7) Chúng tôi lau bàn ghế khi trực nhật.

(8) Cuộc bầu cử nhằm chọn ra 30 ghế trong Hạ viện.

1. Hãy nêu nghĩa của các từ được in đậm trong những ví dụ trên.

Bài làm:

(1) Xuân: chỉ mùa xuân, mùa khởi đầu trong một năm.

(2) Xuân: chỉ tuổi trẻ

(3) Tay: bộ phận phía trên của cơ thể, từ vai đến ngón, dùng để cầm, nắm

(4) Tay: người chuyên hoạt động hay giỏi về một môn, một nghề nào đó

(5) Nóng: Chỉ nhiệt độ cao

(6) Nóng: không khí sôi động

(7) Ghế: một đồ vật dùng để ngồi

(8) Ghế: một vị trí trong một cơ quan, tổ chức

1. Theo em, từ nào được dùng theo nghĩa gốc, từ nào được dùng theo nghĩa chuyển?

Bài làm:

Những từ (1), (3), (5), (7) được dùng theo nghĩa gốc

Những từ (2), (4), (6), (8) được dùng theo nghĩa chuyển

1. Nghĩa chuyển của những từ nào được hình thành theo phương thức ẩn dụ, từ nào theo phương thức hoán dụ?

Bài làm:

Nghĩa chuyển của từ (2), (6) được hình thành theo phương thức ẩn dụ.

Nghĩa chuyển của từ (6), (8) được hình thành theo phương thức hoán dụ.

d. Những nội dung sau nói về sự phát triển của từ vựng. Chọn các phương án đúng (ghi vào vở).

4. Tìm hiểu về cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp

Đọc đoạn trích và trả lời câu hỏi

Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao viết Lão Hạc sau Chí Phèo, Trẻ con không được ăn thịt chó, Tư cách mõ, Một bữa no. Nhân vật trong các truyện đó từng ngã quỵ trước bản năng, miếng ăn, cái đói .Đói khiếp thật! Miếng ăn quý thật nhưng vì nó mà đánh đổi tất cả thì quả đáng buồn. Suốt cuộc đời ngắn ngủi của Nam Cao, cái đói luôn ám ảnh. Ông từng chua chát nói: “Trọn đời tôi, tôi chỉ lo chết đói. Như thế bảo còn nghĩ đến cái to tát sao được”. Thế mà ông nghĩ đấy, ông nghĩ đói khổ là nguy cơ hủy diệt nhân cách và tinh thần con người. Miếng ăn thành thử thách, Nam Cao đã trộn lẫn hai cuộc đời thực từ làng Đại Hoàng quê ông để sáng tạo nên Lão Hạc, trao cho lão vũ khí tinh thần và không muốn lãng thua cuộc. Lão đã lớn từ trang sách cách, trở thành biểu tượng của nhân cách.

(Theo Hoàng Thị Thương, Tiếng nói tri âm)

a) Những phần được in đậm là trích dẫn lời nói hay ý nghĩ? Nó được ngăn cách với bộ phận đứng trước bởi dấu gì?

Bài làm:

Phần in đậm đầu tiên là trích dẫn lời nói, được ngăn các với bộ phận đứng trước bằng dấu hai chấm và dấu ngoặc kép.

Phần in đậm thứ hai là trích dẫn ý nghĩ, không được ngăn cách với bộ phận đứng trước.

b) Chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về nội dung và hình thức của hai cách dẫn trên.

Bài làm:

Giống: đều là thuật lại lời nói, ý nghĩ của một người.

Khác:

– Về nội dung:

Cách thứ nhất: lời nói được nhắc lại nguyên văn

Cách thứ 2: ý nghĩ được thuật lại

– Về hình thức:

Cách dẫn thứ nhất: Nằm trong dấu ngoặc kép và nằm sau dấu 2 chấm.

Cách dẫn thứ 2: Không đặt trong dấu ngoặc kép.

c) Cách dẫn thứ nhất được gọi là dẫn trực tiếp. Cách dẫn thứ 2 được gọi là dẫn gián tiếp. Hãy hoàn thiện (vào vở) những thông tin còn thiếu để có được những khái niệm đúng.

Dẫn gián tiếp: là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, có sự điều chỉnh nhất định, phần dẫn (…) Dẫn trực tiếp: là nhắc lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, (…) phần dẫn được đặt trong dấu ngoặc kép.

Bài làm:

Dẫn gián tiếp: là thuật lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật, có sự điều chỉnh nhất định, phần dẫn không đặt trong dấu ngoặc kép.

Dẫn trực tiếp: là nhắc lại lời nói hay ý nghĩ của người hoặc nhân vật một cách nguyên văn, phần dẫn được đặt trong dấu ngoặc kép.

C. Hoạt động luyện tập 1. Luyện tập đọc hiểu văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

a) Kể tóm tắt văn bản Chuyện người con gái Nam Xương

Bài làm:

Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương là người con gái thùy mị nết na tư dung tốt đẹp nên Trương Sinh đem lòng yêu mến bảo mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép ăn ở đúng mực. Gả cho Trương Sinh chưa được bao lâu thì phải tiễn chồng đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan Trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Trương Sinh tình cờ biết con còn có một người khác mà đêm đêm vẫn đến, nghi ngờ vợ mình thất tiết, về đến nhà chàng mắng chửi thậm tệ và ruồng bỏ đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho hàng xóm và nàng đã hết sức thanh minh. Vũ Nương uất ức tự tử ở bến Hoàng Giang được Linh Phi – vợ vua Nam Hải cứu sống và đưa về ở trong động rùa. Ở nhà, đêm tối bóng Trương Sinh in trên vách thấy con gọi cha Trương Sinh mới vỡ lẽ ra nỗi oan của vợ thì quá muộn. Ở dưới thủy cung, Vũ Nương luôn hướng về gia đinh nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi và Phan Lang (người cùng làng) Vũ Nương được Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang. Sự trở về của nàng vô cùng lộng lẫy lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất.

b) Viết đoạn văn trình bày cảm nhận của em về một trong hai nhân vật: mẹ Trương Sinh, Trương Sinh.

Bài làm:

Qua truyện ngắn Người con gái Nam Xương, chân dung tính cách Trương Sinh hiện lên với thói gia trưởng, độc đoán, đa nghi và hay ghen tuông vô cớ. Trong thiên truyện, Trương Sinh đóng vai trò là người tạo dựng nên thảm kịch đối với người vợ Vũ Nương. Từ lời nói hồn nhiên của con trai, Trương Sinh đã thiếu suy nghĩ nên tự mình hình dung Vũ Nương đã không giữ gìn khí tiết, gian díu với người ngoài trong thời gian anh đi lính. Anh ta đinh ninh là vợ hư: “mối nghi ngờ ngày càng sâu, không có gì gỡ ra được”. Trương Sinh đã xử sự hồ đồ, độc đoán, la mắng, đánh đuổi vợ, không bình tĩnh phán đoán, phân tích sự việc, cũng không tin hàng xóm bênh vực Vũ Nương và những lời phân trần của nàng. Chính sự ích kỉ, tàn nhẫn, mù quáng của Trương Sinh đã đẩy Vũ Nương đến chỗ nàng phải tự vẫn để chứng tỏ tấm lòng trong sạch của mình. Sự vô lí, mê muội của Trương Sinh phản ánh bộ mặt xã hội phong kiến nam giới chuyên quyền, trọng nam khinh nữ, người phụ nữ hoàn toàn không có tiếng nói trong gia đình. Trong câu chuyện, dù nhân vật Trương Sinh không được tác giả chú trọng xây dựng nhưng lại có sức biểu đạt sâu sắc. Đó cũng là dụng ý của ông, nhằm muốn nói xã hội phong kiến mục ruỗng cùng với những quy định khắc khe của nó ấy dù không nổi bật nhưng lại có sức ảnh hưởng âm thầm ghê gớm. Nó giống như một sợi dây vô hình siết chặt và quyết định vận mệnh con người.

2. Luyện tập về sự phát triển của từ vựng

a) Nghĩa gốc của từ mũi là: bộ phận nhô lên ở giữa mặt người và động vật có xương sống dùng để thở, ngửi.

Trong những câu sau, từ mũi được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển:

(1) Chúng tôi vừa đi thăm mũi đất Cà Mau.

(2) Du lịch đã trở thành ngành mũi nhọn của địa phương.

(3) Họ thích đứng ở mũi tàu ngắm nhìn sông nước,

(4) Viêm mũi dị ứng là bệnh khá phổ biến ở trẻ nhỏ.

Bài làm:

Câu (1), (2), (3) từ “mũi” được dùng theo nghĩa chuyển

Câu (4), từ “mũi” dùng theo nghĩa gốc.

b) Từ chân trong các câu sau là từ nhiều nghĩa. Hãy xác định:

– Ở câu nào, từ chân dùng với nghĩa gốc?

– Ở câu nào từ chân dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ?

– Ở câu nào từ chân dùng với nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ?

(1) Đề huề từng túi gió trăng

Sau chân, theo một vài thằng con con.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

(2) Năm em học sinh lớp 9A có chân trong đội tuyển của trường đi dự “Hội khỏe Phù Đổng”.

(3) Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.

(Ca dao)

(4) Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Bài làm:

– Câu (1), từ “chân” được dùng với nghĩa gốc

– Câu (3), (4), từ “chân” được dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ.

– Câu (2), từ chân dùng với nghĩa chuyển theo phương thức hoán dụ.

c) Vì sao nói các từ: ngân hàng, sốt, vua là những từ có nghĩa chuyển. Cho ví dụ để chứng minh điều đó.

Bài làm:

Ngân hàng:

– Nghĩa gốc là “tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý các nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng”.

Ví dụ: “Tôi làm thẻ ATM ở ngân hàng BIDV”.

– Nghĩa chuyển là:

Nơi lưu trữ, bảo quản những thành phần, bộ phận cơ thế (ngân hàng máu, ngân hàng gen,…) hoặc dữ liệu

Ví dụ: Ngân hàng đề thi lên tới hàng trăm nghìn câu hỏi để phục vụ kì thi năm nay.

Sốt:

– Nghĩa gốc là “tăng nhiệt độ cơ thể lên quá mức bình thường do bị bệnh”.

Ví dụ: Anh ấy bị sốt đến 40 độ C

– Nghĩa chuyển: Tình trạng tăng nhu cầu đột ngột làm cho hàng hoá trở nên khan hiếm: cơn sốt đất, cơn sốt vàng, cơn sốt hàng hóa,…

Ví dụ: Cơn sốt vàng năm nay đã đẩy giá vàng lên rất cao.

Vua:

– Nghĩa gốc là “người đứng đầu của nhà nước quân chủ”.

Ví dụ: “Lê Chiêu Thống là một ông vua cõng rắn cắn gà nhà”.

– Nghĩa chuyển là “người đàn ông được coi là nhất trong một lĩnh vực nhất định, thường là sản xuất, kinh doanh, thể thao, nghệ thuật”.

Ví dụ: Pele được mệnh danh là ông vua bóng đá.

d) Trong hai câu thơ:

Ngày ngày mặt tời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

(Viễn Phương, Viếng lăng Bác)

Từ mặt trời ở câu thứ hai được dùng theo phép tu từ nào? Mang ý nghĩa gì? Có thể coi đây là hiện tượng phát triển nghĩa từ nghĩa gốc của từ mặt trời được hay không? Vì sao?

Bài làm:

– Từ mặt trời trong câu thơ thứ hai được sử dụng theo phép tu từ ẩn dụ. Mang ý nghĩa ngợi ca sự vĩ đại, lớn lao của Bác Hồ.

– Đây không phải là hiện tượng phát triển nghĩa của từ, bởi vì sự chuyển nghĩa của từ mặt trời trong câu thơ có tính chất lâm thời, nó không làm cho từ có thêm nghĩa mới.

3. Luyện tập về cách dẫn trưc tiếp và cách dẫn gián tiếp

a) Tìm lời dẫn trong những đoạn trích sau (trích từ truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao). Em hãy cho biết đó là lời nói hay ý nghĩ và được dẫn theo cách nào?

(1) Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu. Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để dùi giẳng lại ít lâu, xem có đám nào khá mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết con gái đâu mà sợ.

(2) Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử; nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng; “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”

(3) Sau khi thằng con đi, lão tự bảo rằng: “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được 50 đồng bạc tâu. Hồi ấy, mọi thứ còn rẻ cả…”

Bài làm:

(1) Lời dẫn hãy dằn lòng bỏ đám này, để dùi giẳng lại ít lâu, xem có đám nào khá mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết con gái đâu mà sợ.

Dẫn lời nói – cách dẫn gián tiếp

(2) Lời dẫn “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này à?”

Dẫn ý nghĩa – cách dẫn trực tiếp

(3) “Cái vườn là của con ta. Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được 50 đồng bạc tâu. Hồi ấy, mọi thứ còn rẻ cả…”

Dẫn ý nghĩ – cách dẫn trực tiếp

……………………………………………………………..