Soạn Nv 11 Bài Tự Tình / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Bài Lớp 11: Tự Tình

Soạn Văn Lớp 11 Bài Tự Tình 2 Ngắn Gọn Hay Nhất

Soạn Bài Tự Tình Ngắn Nhất

Soạn Bài Tự Tình Siêu Ngắn

Soạn Bài: Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)

Soạn Bài: Tự Tình (Bài Ii)

Soạn bài lớp 11: Tự tình

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 11 học kì I

Soạn bài: Tự tình

TỰ TÌNH

Hồ Xuân Hương I. KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Hồ Xuân Hương là nữ sĩ tài năng, là hiện tượng văn học trung đại Việt Nam, song cũng là nhà thơ mà cuộc đời còn rất nhiều bí ẩn. Hiện nay phần đông các nhà nghiên cứu thống nhất ý kiến: Bà là con ông Hồ Phi Diễn, một nhà Nho nghèo quê ở Nghệ An. Ông Hồ Phi Diễn ra Bắc dạy học và lấy vợ lẽ, rồi sinh ra Hồ Xuân Hương. Gia đình bà từng sống ở Thăng Long. Bà giao du rộng rãi, đường tình duyên của bà gặp nhiều trắc trở.

2. Bài thơ thuộc chùm ba bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương. Chùm thơ bộc lộ tâm sự của một người phụ nữ đa đoan luôn khát khao hạnh phúc nhưng luôn gặp những điều bất hạnh. Hiện lên trong chùm thơ là người phụ nữ đằm thắm, cá tính mãnh liệt nhưng không thiếu sự dịu dàng yếu đuối của nữ tính. Bài thơ đã thể hiện một số đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật Hồ Xuân Hương, đó là cảm xúc táo bạo, cái Tôi cá nhân đầy tâm trạng và những hình thơ đầy cá tính với một niềm khát khao hạnh phúc, khát khao sống mãnh liệt. Bài thơ Tự tình tiêu biểu cho phong cách thơ Hồ Xuân Hương ở nỗi cô đơn, ở niềm khát khao hạnh phúc, ở tâm trạng uất ức luôn muốn phá vỡ những khuôn khổ chật hẹp của cuộc sống. Trong bài thơ có sự xuất hiện rất rõ ràng và cụ thể hình tượng nhân vật trữ tình. Cái Tôi cá nhân xuất hiện rất rõ với tâm trạng buồn và cô đơn trĩu nặng.

II. RÈN KĨ NĂNG

1. Hai câu đầu khái quát không gian, thời gian làm nền cho tâm trạng. Thời gian: đêm khuya. Không gian: trống trải, mênh mông, văng vẳng tiếng trống cầm canh. Đêm khuya buồn và vắng. “Trống canh dồn” gợi vẻ tĩnh lặng của không gian và sự trôi chảy gấp gáp của thời gian. Trên cái nền không gian trống trải ấy xuất hiện hình ảnh nhỏ nhoi đến cô độc “trơ cái hồng nhan”. Cái đối với nước non đã nhỏ nhoi lắm rồi lại thêm “cái” như một sự xác đinh, như sự đóng đinh cái lẻ loi vào nền không gian trải rộng. Hai câu thơ làm nổi bật lên sự cố đơn, lẻ loi của nhân vật trữ tình.

2. Hai câu 3 – 4 trực tiếp thể hiện tâm trạng. Đó là tâm trạng buồn không lối thoát. Nhân vật trữ tình tìm đến rượu để giải thoát mình khỏi nỗi cô đơn. Nhưng hương rượu lại càng làm cho người tỉnh táo hơn. Tỉnh và nhận ra sự thật phũ phàng: hạnh phúc không vẹn tròn. Hình ảnh “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” thể hiện nỗi cay đắng. Nó khiến người ta liên tưởng đến cảnh ngộ của người phụ nữ bị rơi vào cảnh ngộ duyên phận lỡ làng. Người phụ nữ ấy không chấp nhận thực tại và vẫn khát khao hạnh phúc.

3. Hai câu 5 – 6 mang đậm cá tính của Hồ Xuân Hương. Hai hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội thể hiện sự bức bối trong tâm trạng và khát khao phá vỡ những lối mòn quen thuộc của cuộc sống để được tự do. Lối đảo ngữ cùng với những động từ mạnh và gợi cảm thể hiện rõ hơn nỗi khát khao hạnh phúc, giải thoát khỏi cô đơn của nhân vật trữ tình.

4. Hai câu kết bỗng nhiên chùng xuống. Dường như mọi cố gắng đều vô ích. Sự thật vẫn là sự thật. Tâm trạng được trực tiếp bộc lộ. Thời gian vô tình cứ trôi chảy, xuân của tự nhiên qua đi rồi trở lại nhưng xuân của người thì không. Câu thơ cuối phản phất sự cay đắng chua xót của người phụ nữ bất hạnh, có những cuộc tình duyên không trọn vẹn đủ đầy.

5. Trong Tự tình, nhà thơ đã dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh, đó là các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc với sắc thái đặc tả mạnh, như các động từ dồn, trơ, xế, đâm toạc, xiên ngang, đi, lại lại, san sẻ…, các tính từ say, tỉnh, khuyết, tròn… Các từ ngữ này có khả năng biểu lộ chính xác và tinh tế trạng thái tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là sự cô đơn, là khát khao được sống, được hạnh phúc. Tâm trạng uất ức bị dồn nén dường như được thoát ra, trải ra cùng những hình ảnh, những từ ngữ táo bạo ấy.

III. TƯ LIỆU THAM KHẢO 1. Về tác giả “… Đường chồng con chắc nhiều long đong. Đến nay mới rõ tên một người chồng là Trần Phúc Hiển, vào những năm 1810, thế kỷ XIX làm tri phủ Tam Đài tức về sau là Vĩnh Tường, rồi tiếp theo giữ chức tham hiệp An Quảng và mất năm 1819. Còn ông phủ Vĩnh Tường có phải Trần Phúc Hiển hay một người khác, Tổng Cóc là ai? Có phải là Nguyễn Bình Kính ở phủ Lâm Thao hay là người nào? Cứ lẽ thường ngày xưa, khó lòng một ông quan tỉnh lại đi lấy vợ góa của kẻ thấp hơn mình dù lấy làm thiếp và vì nể tài. Mấy mươi bài thơ xướng họa giữa Tốn Phong Thị được sáng tác vào quãng 1807-1814, mà giọng chân thực không có gì đáng nghi ngờ, lại cho thấy một Hồ Xuân Hương không còn mười tám đôi mươi nhưng “quả mai ba bảy đương vừa” mà trong tâm tư đã cho mình thuộc số má đào phận bạc và lấy làm xấu hổ khi nghĩ đến chuyện chồng con. Chỗ này chưa thấy ánh sáng. Điều chắc chắn là phận chồng con không ra gì. Một điều thường được ghi nhận là Xuân Hương đi đây đi đó nhiều nơi, lên tận Tuyên Quang, vào tới Thanh Hóa, qua đến An Quảng, sang cả Ninh Bình, còn Vĩnh Yên, Sơn Tây, Hà Đông đều có vết chân của nữ sĩ. Thời xưa, với phụ nữ, chu du như vậy rất khó. Có người không dám tin, nhưng thơ Hồ Xuân Hương lại là bằng chứng. Xuân Hương lãng du như thế vào thời gian nào? Khó mà xác định nhưng bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình là chỗ từng trải của Xuân Hương. Xuân Hương mất năm nào? Chưa đâu đáng tin bằng lời thơ của Miên Thẩm: trước 1842. Như vậy Xuân Hương thuộc vào thế hệ các nhà thơ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX và nhỏ tuổi hơn Nguyễn Du. Nói thêm một chút về ngôn ngữ: Sở dĩ ngôn ngữ Xuân Hương lột được mọi ý đồ của nữ sĩ chính vì cái tài vô song của người vận dụng. Cái tài ấy chẳng khác cái tài của người làm xiếc. Vượt xa trên mức tưởng tượng. Tài tình như thần thông biến hóa. Dân gian mà cổ điển. Điêu luyện mà cứ hồn nhiên. Thực hư, hư thực, nó đấy mà không phải nó, bóng mà hình, hình mà bóng, đùa mà thật, thật mà đùa. Có vẻ như Tôn Ngộ Không. Với Tam Tạng thì chỉ một thân, trung thực, chân chất đến xúc động, nhưng với yêu quái, ma vương thì có đến trăm Tôn Ngộ Không, chẳng biết đâu là thật là giả… Chính xác đến ghê người. Nói đến con dê chưa thật đã lớn, nhưng cũng chẳng còn là dê con, loại dê choai choai, hăng máu một cách liều lĩnh, Xuân Hương dùng “dê cỏn” chứ không dùng “dê con”. ấy là Xuân Hương muốn chỉ bọn thầy khóa hãy trẻ tơ, chưa đủ lông đủ cánh gì, non nớt tuổi đời, non cả tài thơ mà dám chơi trèo, định ghẹo tới bà chị và làm thơ để ghẹo…Đồn rằng Nguyễn Khuyến nói về Hồ Xuân Hương có câu: Thơ thánh, thơ tiên đời vẫn có,Tản Đà cũng cho “trong thơ Xuân Hương có quỷ”. Xuân Diệu gọi nữ sĩ là “Bà chúa thơ Nôm”. Hẳn đó là những lời khen đáng tin. Tuy có vẻ mỗi người như muốn nhìn một mặt của thơ Xuân Hương, nhưng ngẫm kỹ thì đều dụng ý nói toàn diện cái tài tình của nữ sĩ, nội dung cũng như hình thức.”

2. Thơ Hồ Xuân Hương “Nhìn chung trong thơ cổ điển của nước ta, bao gồm từ Chu Mạnh Trinh trở lên, nếu xét về khía cạnh có tính cách dân tộc hơn cả có lẽ thơ Hồ Xuân Hương “thì treo giải nhất chỉ nhường cho ai”. Thơ Hồ Xuân Hương Việt Nam hơn cả vì đã thống nhất được đến cao độ hai tính cách dân tộc và đại chúng… … Nội dung thơ Hồ Xuân Hương toát ra từ đời sống “bình dân, hằng ngày và trên đất nước nhà. Xuân Hương nói ngay những cảnh có thực của núi sông ta, vứt hết cả sách vở, khuôn sáo, lấy hai con mắt của mình mà nhìn, cái đèo Ba Dội của Xuân Hương rõ là ba dội, ba đèo, tùm hum nóc, lún phún rêu, gió lắt lẻo, sương đầm đìa, phong cảnh sống như cựa quậy lên… … Hồ Xuân Hương tưởng như đã lìa cái gốc nho sĩ của mình mà “lăn lóc” giữa bình dân. Xuân Hương là con ốc, quả mít, cái bánh trôi. Xuân Hương làm thơ với cỏ gà, cá giếc, quả cam, lá trầu, con ong, cái giếng, khung cửi, cây đa, cái diều… Mà những thứ ấy vẫn giữ nguyên chất bình dân, chứ không bị mang hia, đội mũ như trong lối thơ khẩu khí… … Hồ Xuân Hương là nhà thơ dòng Việt, bà chúa thơ Nôm… Xuân Hương đã làm cho chữ “nôm na” không đồng nghĩa với “mánh qué” nữa, mà nôm na là đồng nghĩa với thuần túy, trong trẻo, tuyệt vời. Bà chúa thơ Nôm là chúa cả nội dung và hình thức. Xuân Hương đã sáng tạo được một chất thơ rất man mác, nên thơ… Tung hoành thơ quỷ hiếm hoi thay!

Chỗ tài tình nhất có lẽ là sự lấp lửng nghĩa nọ nghĩa kia, ở một hình tượng, ở một từ, một cách nói…

Lê Trí Viễn (Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương, Sở giáo dục Nghĩa Bình xuất bản năm 1987)

(Xuân Diệu, Hồ Xuân Hương, Bà chúa thơ Nôm, Nxb Văn học, 1987)

Soạn Bài Cảnh Ngày Xuân ( Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du)

Soạn Văn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Bài: Cảnh Ngày Xuân (Trích Truyện Kiều)

Soạn Văn 9 Vnen Bài 6: Truyện Kiều

Soạn Văn 9 Bài Truyện Kiều

Hướng Dẫn Soạn Bài Tự Tình Lớp 11

Soạn Bài Tự Tình Sgk Ngữ Văn 11 Tập 1

Soạn Bài Tự Tình Ii Của Hồ Xuân Hương

Soạn Bài Tự Tình Của Tác Giả Hồ Xuân Hương

Tự Tình Của Hồ Xuân Hương

Soạn Bài Tự Tình (Ii) Trang 18 Văn 11

Hồ Xuân Hương được mệnh danh là bà chúa thơ Nôm của nền văn học Việt Nam. Tự tình là một tác phẩm nổi tiếng nói về nỗi lòng của người phụ nữ khi suy nghĩ về con đường tình duyên của mình. để hiểu rõ về tác phẩm hơn mời các bạn cùng tham khảo bài soạn văn tự tình lớp 11!

Hồ Xuân Hương (?-?) quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Có tài liệu ghi bà là con Hồ Phi Diễn (1704 -?), song cũng có tài liệu nói bà là con Hồ Sĩ Danh (1706 – 1783). Thân sinh Hồ Xuân Hương lấy vợ lẽ người Bắc Ninh, sinh ra bà. Gia đình bà có thời sống ở Thăng Long. Khi trưởng thành, nữ sĩ có một ngôi nhà riêng ở gần Hồ Tây – Hà Nội lấy tên là cổ Nguyệt đường. Bà đi nhiều nơi và thân thiết với nhiều danh sĩ, có người nổi tiếng như Nguyễn Du nhưng cuộc đời, tình duyên của bà có nhiều éo le, ngang trái.

Sáng tác của Hồ Xuân Hương gồm cả thơ chữ Nôm và chữ Hán nhưng được biết đến nhiều hơn là thơ chữ Nôm. Phần tiếp theo chúng tôi sẽ giới thiệu với các bạn cách soạn bài Tự tình Ngữ văn lớp 11.

II. Bài soạn Tự tình – Hồ Xuân Hương

Tự tình (bài II) nằm trong chùm thơ Tự tình gồm ba bài của Hồ Xuân Hương. Đây là những xúc cảm chân thực mang nét rất riêng của một nữ sĩ tài năng mà tình duyên lại có nhiều éo le, ngang trái. Chẳng thế mà bà đã làm đến ba bài thơ Tự tình cho riêng mình. SGK chọn bài Tự tình II là bài thơ có nhiều nét tiêu biểu cho chùm thơ Tự tình cua bà.

Chúng ta sẽ phân tích tác phẩm theo trình tự kết cấu một bài thơ Đường luật gồm 4 phần: Đề, thực, luận, kết.

Trơ cái hồng nhan với nước non

Thông thường, giữa không gian rợn ngợp con người cảm thấy mình nhỏ bé, cô đơn. Ở đây, Xuân Hương lại cảm nhận sự cô đơn trước thời gian, bởi trong bước đi của thời gian còn chứa đựng sự phá hủy. So với câu thơ đầu bài Tự tình II: “Tiếng gà văng vắng gáy trên bom” thì câu đầu bài Tự tình II buồn hơn: “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”. Tiếng trống canh dồn văng vẳng trong đêm khuya vừa thể

hiện bước đi dồn dập của thời gian vừa bộc lộ sự rối bời của tâm trạng người phụ nữ trong nỗi cô đơn trống vắng một mình. Nữ sĩ cảm thấy xót xa, bẽ bàng cho duyên phận éo le, ngang trái:

Trơ cái hồng nhan với nước non

Có thế xem đây là một câu thơ rất Hồ Xuân Hương. Trong câu thơ có cả nỗi đau và bản lĩnh của người nữ sĩ. Trơ cái hồng nhan là nỗi đau Xuân Hương, nhưng Trơ cái hồng nhan / với nước non thì lại là bản lĩnh Xuân Hương. Một nỗi đau bẽ bàng, tủi hổ của người con gái khi duyên tình không đến, duyên phận không thành được bộc lộ trong một chữ “trơ” đầy ấn tượng với nghệ thuật đảo ngữ nhằm nhấn mạnh ý, và cả từ “cái” khiến cho hồng nhan thêm rẻ rúng mỉa mai. Trong Truyện Kiều cũng có một chữ “trơ” như thế: Đuốc hoa để đó, mặc nàng nằm trơ. Nhưng “Trơ cái hồng nhan” không phải với gia đình, bạn bò, làng xóm mà Trơ cái hồng nhan / với nước non thì đó là cả một sự thách thức, thách đố của người con gái. Nó giống chữ “trơ” trong câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt đều nói lên bản lĩnh của người phụ nữ trước cuộc đời. Và Hồ Xuân Hương chính là một con người như vậy.

2. Hai câu thực

Hai câu thực nói rõ hơn thực cảnh và thực tình Hồ Xuân Hương. Thi nhân ngồi một mình trong cô đơn đối diện với đêm khuya, với vầng trăng lạnh, càng thấm thía duyên phận của mình, ở đây, ngoại cảnh cũng là tâm cảnh, trăng với người đồng nhất với nhau, dùng hình ảnh trăng để nói lên nỗi lòng người. Trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn “khuyết chưa tròn” chính là tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không trọn vẹn. Còn hương rượu chính là hương tình đề lại vị đắng chát khiến cho con người “say lại tỉnh” trong phận hẩm duyên ôi. Cụm từ “say lại tỉnh” gợi lên cái vòng luẩn quẩn, tình duyên đã trở thành trò đùa của con tạo, càng thấm thìa nỗi đau.

3. Hai câu luận

Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.

Từ nỗi đau trong hai câu thực mà phát triển một cách tự nhiên thành nỗi phẫn uất trong hai câu luận. Con người nói chung là thế, Hồ Xuân Hương lại càng như thế. Ở trên, nhà thơ đã gửi nỗi đau duyên phận vào vầng trăng và chén rượu, thì ở đây, nữ sĩ cũng nhờ thiên nhiên nói lên niềm phẫn uất của mình, và thiên nhiên như cũng đồng cảm với con người, cần chú ý nghệ thuật đảo ngữ (xiên ngang và đâm toạc được đặt lên đầu câu để nhấn mạnh ý) và nghệ thuật đối lập trong câu thơ:

Rêu mềm yếu là thế mà vẫn xiên ngang mặt đất, đá có nhọn gì đâu, lại ở dưới mặt đất, làm sao có thể đâm toạc chân mây được? Mới biết nỗi phẫn uất ở đây là mạnh mẽ, to lớn: rêu, đá như vạch đất, vạch trời mà hờn oán, không chỉ ]à phẫn uất mà còn là phản kháng. Bởi đây là nỗi phẫn uất của số phận, khát vọng của con người – mà lại là một con người đầy bản lĩnh như Xuân Hương.

4. Hai câu kết

Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con!

Nhưng rồi chính con người ấy lại vẫn rơi vào bi kịch của duyên phận, và hai câu kết đã bộc lộ rõ tâm trạng chán chường, buồn tủi của nhà thơ. Hồ Xuân Hương “ngán” lắm rồi cái nỗi đời éo le, bạc bẽo, cái vòng quay luẩn quấn “xuân đi xuân lại lại” của tạo hóa. Từ “xuân” mang hai nghĩa (mùa xuân và tuổi xuân), từ “lại” cũng mang hai nghĩa (thèm lần nữa và trở lại) khiến cho câu thơ đa nghĩa, thâm thía, tâm trạng chán chường càng lộ rõ, bởi sự trở lại của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Chính vì thế mà càng xót xa, tội nghiệp khi:

Mảnh tình – san sẻ – tí – con con!

Nghệ thuật tăng tiến làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn. Mảnh tình đã bé lại còn san sẻ, chỉ còn một tí, mà là một tí – con con thì thật đau xót. Ớ đây, mảnh tình càng bé lại thì nỗi đau càng tăng thêm, đọng lại một dư vị và dư vang sâu lắng, xót xa về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa với duyên tình hẩm hiu, cay đắng của mình.

Và có phải, vừa đau xót vừa thách thức duyên phận, gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào bi kịch, cả hai điều ấy đã làm cho ý nghĩa nhân văn của bài thơ Tự tình II sâu sắc hơn, thấm thìa hơn? Đó là tiếng lòng chân thực, cũng là nét riêng độc đáo trong thơ trữ tình của Bà chúa thơ Nôm.

III. Luyện tập soạn bài Tự tình Ngữ văn 11

– Sự giống nhau của hai bài thơ: tác giả tự nói lên nỗi lòng mình với hai tâm trạng: buồn tủi, xót xa và phẫn uất trước duyên phận.

Cả hai bài thơ đều cho thấy tài năng sử dụng tiếng Việt của Hồ Xuân Hương: nữ sĩ có tài năng đặc biệt khi sử dụng các từ làm định ngữ hoặc bổ ngữ: xiên ngang, đâm toạc (bài Tự tình II); mõ thảm, chuông sầu, tiếng rền rĩ, duyên mõm mòm, già tom (bài Tự tình I). Hồ Xuân Hương cũng rất thành công khi sử dụng các biện pháp nghệ thuật tu từ như đảo ngữ, tăng tiến, đối (dẫn chứng qua từng bài thơ).

– Sự khác nhau của hai bài thơ: Ở Tự tình I yếu tố phản kháng, thách đố duyên phận mạnh mẽ hơn. Điều này cho phép giả định Tự tình I được viết trước và được viết khi tác giả còn trẻ hơn lúc viết Tự tình II.

Soạn Văn Lớp 11 Sách Giáo Khoa Tập 1: Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)

Dàn Ý Phân Tích Hai Câu Luận Và Hai Câu Kết Bài Thơ Tự Tình 2 (Ngắn Gọn, Hay Nhất)

Giáo Án Ngữ Văn 11

Giáo Án Bài Tự Tình (Hồ Xuân Hương)

Giáo Án Bài Tự Tình Ngữ Văn 11

Soạn Bài Tự Tình 2 Ngữ Văn 11 Tóm Tắt

Soạn Bài Thầy Bói Xem Voi Lớp 6 Hay Nhất Đầy Đủ

Soạn Bài Thầy Bói Xem Voi Lớp 6.

Soạn Bài Thầy Bói Xem Voi Lớp 6 Hay Nhất

Soạn Văn Lớp 7 Bài Từ Đồng Nghĩa Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1

Soạn Bài Ôn Tập Phần Tiếng Việt (Tiếp) Ngắn Gọn

Tâm trạng: buồn tủi, xót xa, ngao ngán trước thực tại, trước duyên phận hẩm hiu.

Thời gian: đêm khuya ⇒ gợi cảm giác tâm trạng buồn thêm buồn

“Trơ”: trơ trọi, tủi hổ, bẽ bàng ⇒ nỗi đau và sự thách thức

“Cái hồng nhan”: gợi sự rẻ rúng, mỉa mai.

“Say lại tỉnh” ⇒ cái vòng luẩn quẩn của duyên số, nỗi xót xa, thương cảm cho chính bản thân mình.

Hình tượng “Bóng xế”: tuổi xuân đã trôi qua mà đường tình duyên còn dang dở.

Hình tượng thiên nhiên trong hai câu 5 và 6 diễn tả nỗi niềm phẫn uất của con người:

Biện pháp đảo ngữ kết hợp với các động từ mạnh (xiên, đâm) thể hiện sự bướng bỉnh, ngang ngạnh của Hồ Xuân Hương.

Hai câu kết là tâm trạng chán chường, buồn tủi của nhân vật trữ tình:

Cụm từ “xuân đi xuân lại lại”: Xuân của tự nhiên qua đi rồi sẽ trở lại nhưng tuổi xuân của người thì không. Từ “lại” thứ nhất là thêm một lần nữa, còn từ “lại” thứ hai mang nghĩa trở lại. Mùa xuân trở lại nhưng tuổi xuân lại qua đi.

Nghệ thuật tăng tiến “mảnh tình – san sê- tí – con con” nhấn mạnh sự nhỏ bé dần, sự ít ỏi, sự sẻ chia trong hạnh phúc cuộc đời của Hồ Xuân Hương làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: mảnh tình vốn đã ít, đã bé, đã không trọn vẹn lại còn phải “san sẻ” thành ra chẳng còn gì (tí con con) nên càng xót xa, tội nghiệp.

Bài thơ vừa nói lên bi kịch, vừa cho thấy khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương. Bi kịch trong bài thơ là bi kịch của tuổi xuân, của duyên phận. Xuân đi rồi xuân lại đến, thời gian của thiên nhiên, của trời đất cứ tuần hoàn mà tuổi xuân của con người cứ mãi qua đi không trở lại. Trong hoàn cảnh ấy, sự nhỡ nhàng, sự dở dang của duyên tình càng tăng thêm sự xót xa. Rơi vào hoàn cảnh ấy, trước sự trớ trêu của số phận nhưng Hồ Xuân Hương vẫn luôn khát khao hạnh phúc, gồng mình lên để chống lại sự nghiệt ngã của số phận.

– Giống nhau:

Sử dụng thơ Nôm đường luật, thể hiện tài năng của tác giả trong việc sử dụng ngôn ngữ sắc sảo, tài hoa nhất là khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật: đảo ngữ, phép đối, tăng tiến…

Bộc lộ tâm trạng: nỗi buồn tủi, xót xa, phẫn uất trước cảnh duyên phận hẩm hiu.

– Khác nhau:

Cảm xúc trong Tự tình I là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu, nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, đồng thời là sự vươn lên của chính bản thân, thách đố lại duyên phận.

Còn ở Tự tình II, cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng, cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch. Chính vì thế bi kịch như được nhân lên, phẫn uất hơn.

Soạn Tự Tình (Bài 1) Siêu Ngắn

Soạn Bài Lớp 11: Tự Tình Soạn Bài Môn Ngữ Văn

Hình Ảnh Người Phụ Nữ Việt Nam Qua Tự Tình Ii Của Hồ Xuân Hương

Phân Tích Bài Thơ Tự Tình Ii Của Tác Giả Hồ Xuân Hương

So Sánh Hình Tượng Người Phụ Nữ Qua Hai Bài Thơ Tự Tình Ii Của Hồ Xuân Hương Và Bài Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Soạn Bài Tự Tình Của Hồ Xuân Hương Lớp 11

Soạn Bài Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương Ngữ Văn Lớp 11

Soạn Bài Tự Tình 2 Của Hồ Xuân Hương

Hướng Dẫn Soạn Bài Tự Tình (Bài Ii)

Hướng Dẫn Soạn Bài : Tự Tình ( Hồ Xuân Hương )

Giáo Án Ngữ Văn 11: Văn Bản Tự Tình (Bài Ii) Hồ Xuân Hương

Soạn bài Tự tình của Hồ Xuân Hương ngữ văn lớp 11 I. Tìm hiểu tác giả – tác phẩm 1. Tác giả – Hồ Xuân Hương là người thông minh, tài hoa và có cá tính mạnh mẽ, là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh ta thấy được qua các tác phẩm của bà. Nhưng về đường tình duyên của Hồ Xuân Hương nhiều éo le, ngang trái (hai đời chồng nhưng chỉ với danh phận là vợ lẽ) sống không mấy hạnh phúc. – Những sang tác của Hồ Xuân Hương bao gồm chữ Hán và chữ Nôm. …

Soạn bài Tự tình của Hồ Xuân Hương ngữ văn lớp 11

I. Tìm hiểu tác giả – tác phẩm

1. Tác giả

– Hồ Xuân Hương là người thông minh, tài hoa và có cá tính mạnh mẽ, là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh ta thấy được qua các tác phẩm của bà. Nhưng về đường tình duyên của Hồ Xuân Hương nhiều éo le, ngang trái (hai đời chồng nhưng chỉ với danh phận là vợ lẽ) sống không mấy hạnh phúc.

– Những sang tác của Hồ Xuân Hương bao gồm chữ Hán và chữ Nôm. Được mênh danh là “Bà chúa thơ Nôm”, là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam. Bà là người phụ nữ duy nhất trong xã hội Nho giáo có các tác phẩm “đối đầu” với các chuẩn mực xã hội lúc bấy giờ. Bằng cách sử dụng những vần thơ hài hước để bày tỏ thái độ của mình trước những bất công, tư tưởng lạc hậu và phân biệt đối xử nam nữ trong xã hội xưa.

2. Tác phẩm

– Tự tình là dãi bày lòng mình gồm có 3 bài tự tình. Tác phẩm ở đây đó là bài tự tình II của Hồ Xuân Hương.

– Thể thơ: đường luật thất ngôn bát cú.

– Chủ đề: “Tự tình” nói lên tiếng lòng của tác giả, tâm trạng buồn và tủi cực cho hoàn cảnh duyên phận muộn màng, lỡ dở nhưng tác giả cứ lạnh lùng trôi qua.

II. Tìm hiểu văn bản

Câu 1: Tâm trạng và hoàn cảnh của tác giả trong bốn câu thơ đầu.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,

Trơ cái hồng nhan với nước non

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,

Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.”

– Tâm hồn những thi sĩ luôn nhạy cảm với những giao động xung quanh họ dù là nhỏ nhất. Hồ Xuân Hương một nhà thơ đầy nữ tính, rất tinh tế khi đặt mình trong không gian và thời gian đặc biệt để thể hiện được sâu sắc tâm trạng của mình. Câu thơ được mở đầu bằng thời gian ” đêm khuya” – thời gian khoảnh khắc mà tâm hồn nhạy cảm hay có những suy tư, thời gian mà khiến tâm trạng buồn càng thêm buồn. Nhà thơ không chỉ đặt mình vào khoảng thời gian đó mà còn sử dụng thành công nghệ thuật lấy động tả tĩnh, lấy âm thanh tiếng “văng vẳng” của trống canh dồn dập để tả về không gian tĩnh lặng xung quanh. Trong không gian ấy tâm hồn thi sĩ càng trở nên cô đơn hơn, mượn cảnh để nói lên liếng lòng của chính mình. Âm thanh “văng vẳng” không chỉ tcas giả cảm nhận bằng thính giác mà còn cảm nhận bằng trái tim, sự trôi đi quá nhanh của thời gian, thời gian trôi đi mang theo bao nỗi niềm, thiếu hụt, mất đi. Chủ thể trữ tình cô đơn, lẻ loi trước không gian rộng lớn “nước non” khi nghe thấy tiếng trống canh vang lên thì nỗi buồn càng dâng đầy. Hình ảnh “hồng nhan” lại càng nhấn mạnh thêm nỗi buồn và nỗi tủi cực cô đơn đó.

– Hai câu thơ tiếp là hai câu tả thực thể hiện được rõ hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật trữ tình hơn nữa. Nỗi buồn u uất đó nhân vật trữ tình tìm đến rượu để giải quên nhưng nỗi buồn không thể nguôi ngoai hơn được mà cứ say rồi lại tỉnh. Ngắm vầng trăng thì trăng xế bóng, khuyết chưa tròn. Câu thơ tả ngoại cảnh nhưng cũng là tâm cảnh tạo nên sự đồng nhất giữa trăng và người. Trăng sắp tàn mà vẫn chưa tròn – tuổi xuân trôi qua mà hạnh phúc không trọn vẹn.

Câu 2: Tâm trạng và thái độ của nhà thơ qua hình tượng thiên nhiên trong câu 5 và 6.

“Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.

Đâm tọac chân mây, đá mấy hòn.”

– Hồ Xuân Hương tiếp tục hướng về ngoại cảnh để mượn cảnh nói lên tâm trạng và thái độ với số phận của chính mình. Mượn những hình ảnh “rêu” và “đá” những vật nhỏ bé, mềm yếu nhưng không cam chịu, không chấp nhận thấp yếu bằng mọi cách cố vươn lên, vượt lên những khó khăn, cản trở “mặt đất”, “chân mây” để chứng tỏ mình.

– Nhưng hình ảnh đó cũng tượng trưng cho niềm phẫn uất và sự phản kháng quyết liệt của Hồ Xuân Hương quyết liệt, mạnh mẽ tìm mọi cách để vượt lên trên số phận. Đó cũng là sức sống mãnh liệt không phải buồn đau mà phó mặc số phận đau thương như vậy.

Câu 3. Tâm sự của tác giả qua hai câu kết.

“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

Mảnh tình san sẻ tí con con !”

Ở hai câu kết Hồ Xuân Hương đã trực tiếp bộc lộ tâm trạng của mình. Tâm trạng vẫn là nỗi buồn và ngán ngẩm khi thấy mùa xuân đi rồi nhưng lại trở lại đó là quy luật của tạo hóa. Nhưng mỗi mùa xuân đi qua lại mang theo một tuổi xuân mà tuổi xuân đó không thể quay lại được nữa.

– Câu cuối cùng của bài là sự bộc bạch nỗi buồn của Hồ Xuân Hương. Bằng nghệ thuật dùng từ thuần Việt theo cấp độ, tăng tiến của tác giả cho thấy nghịch cảnh éo le. Một người đa tình, đa tài như Hồ Xuân Hương nhưng lại chỉ nhận được mảnh tình “tí con con”. Thật xót xa biết mấy.

Câu 4: Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc của Hồ Xuân Hương.

– Do hoàn cảnh, bi kịch về duyên phận lỡ làng, muộn màng khi thời gian cứ trôi cứ trôi qua đi mà không đợi chờ ai. Tuổi xuân của nhà thơ cũng vậy cũng trôi đi mà không luyến tiếc. Đó dẫn đến tâm trạng buồn tủi, phẫn uất nhưng vẫn tiềm ẩn khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc đến vô thường. Khát vọng thể hiện rõ nét nhất đã được nhắc tới ở câu 5 và 6.

Câu 5: Giá trị của bài thơ cấu tạo của thơ Nôm đường luật với sự sáng tạo cao.

– Vẻ đẹp của nhà thơ, cũng chính là con người của nhà thơ đó là vượt lên số phận hoàn cảnh để khát khao đến một chân lí tốt đẹp.

a. Sự giống nhau và khác nhau giữa hai bài thơ Tự tình I và II của Hồ Xuân Hương.

– Giống nhau:

+ Cùng sử dụng thơ Nôm đường luật thể hiện cảm xúc của tác giả.

+ Đều thể hiện cảm xúc tình cảm, và phẫn uất về số phận. Giống về kết cấu mở và cuối đều về thời gian.

+ Đều sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm: văng vẳng, trở, cái hồng nhan, ngán, tí con con, oán hận, rền rĩ, mõm mòn, già tom…

Khác nhau:

+ Cảm xúc trong Tự tình I là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu, sự vươn lên của chính bản thân, thách đố lại duyên phận.

+ Còn ở Tự tình II, cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng, cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch. Sự khác nhau chính đó là cảm xúc chủ đạo trong bài thơ.

Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Tự Tình (Hồ Xuân Hương)

Soạn Bài: Tự Tình (Bài Ii)

Soạn Bài: Tự Tình 2 (Hồ Xuân Hương)

Soạn Bài Tự Tình Siêu Ngắn

Soạn Bài Tự Tình Ngắn Nhất

🌟 Home
🌟 Top