Soạn Bài Trả Bài Tập Làm Văn Số 2 Sbt Ngữ Văn 9 Tập 1

Đọc văn bản sau và làm các bài tập nêu ở dưới.

BẠN ƠI ĐỪNG NGHỈ HỌC Ngày đầu tiên đến lớp vỡ lòng, tôi đã có cảm tình đặc biệt với Mai Hương. Hôm đó, tôi đánh rơi mất viên phấn trên đường đến lớp. Nếu không có nửa viên phấn của Mai Hương, chắc tôi không bao giờ viết nổi chữ a lên mảnh bảng đen. Dĩ nhiên đây chỉ là một ý nghĩ tôi nói với Mai Hương khi hai đứa đã lớn. Đường đến lớp vỡ lòng, chúng tôi gặp nhau ở ngã ba cây si, cùng đi qua cánh đồng. Khi về, đến ngã ba cây si, lại chia tay. Đi được một quãng, tôi quay lại nhìn xem Mai Hương đi tới đâu rồi. Có lần, chúng tôi bắt gặp cái nhìn của nhau. Hai đứa cùng cười tươi và vẫy tay với nhau. Một hôm, đến ngã ba cây si, tôi không thấy Mai Hương trong lũ bạn xóm dưới. Tôi đứng chờ. Chờ lâu quá, tôi chạy một mạch qua cánh đồng. Mai Hương không có ở lớp. Tôi ngồi không yên. Rốt cuộc là tôi đã bỏ dở buổi học, chạy về làng. Tôi chạy thẳng tới nhà Mai Hương. Bố mẹ đi làm cả. Mai Hương nằm đắp kín chăn trên giường : – Bạn làm sao thế ? – Tôi hỏi. – Tớ bị cảm từ đêm qua – Mai Hương đáp – Bạn không đến lớp à ? – Không thấy Mai Hương ở lớp, tớ bỏ học chạy về. Mai Hương nghe tôi nói thế, cảm động nói: – Thế thì từ nay, nếu bị ốm tớ cũng sẽ đi học, để bạn khỏi bỏ học giữa buổi. Được không ? Sau lần ấy, Mai Hương không nghỉ học buổi nào. Tôi cũng vậy. Chúng tôi đi học đều đặn, và hầu như hôm nào hai đứa cũng đi tới ngã ba cây si là vừa gặp nhau. Có những hôm bị cảm, trời rét, suýt nữa tôi đã gửi giấy xin phép nghỉ học. Nhưng tôi đã cố gắng dậy, cắp sách tới trường. Tôi không muốn Mai Hương phải bỏ học về tìm tôi. Chúng tôi học cùng lớp cho đến cấp ba. Điều ấy ngoài sự tưởng tượng của Mai Hương. Mai Hương càng lớn càng xinh và ngoan nữa. Không đứa bạn nào trách cứ Mai Hương được điểm gì. Thật là một người bạn “lí tưởng”. Càng ngày, chúng tôi càng thân thiết nhau hơn. Tôi đã biết đóng một quyển sổ bằng giấy trắng loại tốt, bọc bìa cứng, thật đẹp, tặng Mai Hương để chép những bài hát chúng tôi ưa thích. Trang đầu cuốn sổ, tôi ghi nắn nót những dòng chữ : “Đời không có tiếng hát, khác nào cuộc sống không ánh sáng mặt trời. Mong tình bạn đẹp mãi như tiếng hát không ngừng.”. Mai Hương tặng tôi một chiếc khăn trắng muốt, thêu một bông hoa trắng cùng với dòng chữ trắng : “Đẹp mãi tuổi thơ”. Có những buổi sáng, chúng tôi đi qua cánh đồng sương giăng trắng như sữa, nghe đồng lúa vang lên âm thanh rạo rực : Bạn ơi, đừng nghỉ học, bạn ơi… Rồi một hôm, Mai Hương không đến lớp. Tôi ngóng bạn nao lòng. Giá hôm qua tôi cùng đạp xe rời nhà trọ về làng cùng với Mai Hương. Tôi tự trách mình và lo lắng cho Mai Hương. Mai Hương về làng chắc có gì trắc trở, sáng nay không đạp xe tới trường được. Tan học, tôi đạp xe về làng. Nửa làng tôi xác xơ, cây cối cháy rực lên. Máy bay Mỹ đã ném bom vào trạm sơ tán tàu hàng, những toa xăng đã cháy đêm qua. Nhiều ngôi nhà xóm Mai Hương trúng bom bốc cháy. Ngôi nhà của Mai Hương chỉ còn lại những hố bom sâu. Cả gia đình không còn ai. Tôi muốn nhìn thấy người bạn gái thân thương một lần cuối. Nhưng điều ấy không bao giờ có được nữa. Tôi trở lại mái trường, như tin rằng Mai Hương đang chờ mình. Cuộc sống như thế đấy, chúng ta say sưa sống tốt mãi lên vì tin rằng có ai đó đang chờ đợi chúng ta, ở phía trước. Và trong đầu tôi cứ vang mãi âm thanh trong trẻo và rạo rực của tuổi học trò: – Bạn ơi, đừng nghỉ học !…

(Nguyễn Trọng Tạo, Mảnh hồn làng,

NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1997)

1. Nếu viết bài văn theo đề bài: Hãy kể về một kỉ niệm với người bạn tuổi thơ khiến em xúc động và nhớ mãi thì bài văn trên có đáp ứng được yêu cầu không ? Vì sao ?

Trả lời:

Muốn xem bài văn Bạn ơi đừng nghỉ học có đáp ứng được yêu cầu của đề hay không, cần phân tích và chỉ ra các yêu cầu cụ thể của đề bài này. Có thể nêu lên các yêu cầu chính sau đây :

Đó phải là một câu chuyện đã xảy ra lâu rồi, từ hồi tuổi thơ.

– Kỉ niệm ấy phải gắn với người bạn thân thiết của người viết.

– Kỉ niệm ấy phải có ý nghĩa, phải xúc động và đáng nhớ.

– Người kể lại phải là người trong cuộc, người chứng kiến câu chuyện,…

Với các yêu cầu đó, em tự đối chiếu với văn bản để trả lời câu hỏi.

2. Hãy rút ra dàn ý của bài văn Bạn ơi đừng nghỉ học.

Trả lời:

Dàn ý của bài văn bao gồm các phần và các ý lớn. Cần phải xác định được ba phần của bài văn : Mở bài, Thân bài và Kết bài. Sau đó chỉ ra nội dung khái quát của từng phần.

3. Bài văn kể về chuyện gì ? Hãy chỉ ra các yếu tố miêu tả được sử dụng trong bài văn đó.

chúng tôi

Soạn Bài Trả Bài Tập Làm Văn Số 2 Sách Bài Tập Ngữ Văn 9 Tập 1

Đọc văn bản sau và làm các bài tập nêu ở dưới.

BẠN ƠI ĐỪNG NGHỈ HỌC Ngày đầu tiên đến lớp vỡ lòng, tôi đã có cảm tình đặc biệt với Mai Hương. Hôm đó, tôi đánh rơi mất viên phấn trên đường đến lớp. Nếu không có nửa viên phấn của Mai Hương, chắc tôi không bao giờ viết nổi chữ a lên mảnh bảng đen. Dĩ nhiên đây chỉ là một ý nghĩ tôi nói với Mai Hương khi hai đứa đã lớn. Đường đến lớp vỡ lòng, chúng tôi gặp nhau ở ngã ba cây si, cùng đi qua cánh đồng. Khi về, đến ngã ba cây si, lại chia tay. Đi được một quãng, tôi quay lại nhìn xem Mai Hương đi tới đâu rồi. Có lần, chúng tôi bắt gặp cái nhìn của nhau. Hai đứa cùng cười tươi và vẫy tay với nhau. Một hôm, đến ngã ba cây si, tôi không thấy Mai Hương trong lũ bạn xóm dưới. Tôi đứng chờ. Chờ lâu quá, tôi chạy một mạch qua cánh đồng. Mai Hương không có ở lớp. Tôi ngồi không yên. Rốt cuộc là tôi đã bỏ dở buổi học, chạy về làng. Tôi chạy thẳng tới nhà Mai Hương. Bố mẹ đi làm cả. Mai Hương nằm đắp kín chăn trên giường : – Bạn làm sao thế ? – Tôi hỏi. – Tớ bị cảm từ đêm qua – Mai Hương đáp – Bạn không đến lớp à ? – Không thấy Mai Hương ở lớp, tớ bỏ học chạy về. Mai Hương nghe tôi nói thế, cảm động nói: – Thế thì từ nay, nếu bị ốm tớ cũng sẽ đi học, để bạn khỏi bỏ học giữa buổi. Được không ? Sau lần ấy, Mai Hương không nghỉ học buổi nào. Tôi cũng vậy. Chúng tôi đi học đều đặn, và hầu như hôm nào hai đứa cũng đi tới ngã ba cây si là vừa gặp nhau. Có những hôm bị cảm, trời rét, suýt nữa tôi đã gửi giấy xin phép nghỉ học. Nhưng tôi đã cố gắng dậy, cắp sách tới trường. Tôi không muốn Mai Hương phải bỏ học về tìm tôi. Chúng tôi học cùng lớp cho đến cấp ba. Điều ấy ngoài sự tưởng tượng của Mai Hương. Mai Hương càng lớn càng xinh và ngoan nữa. Không đứa bạn nào trách cứ Mai Hương được điểm gì. Thật là một người bạn “lí tưởng”. Càng ngày, chúng tôi càng thân thiết nhau hơn. Tôi đã biết đóng một quyển sổ bằng giấy trắng loại tốt, bọc bìa cứng, thật đẹp, tặng Mai Hương để chép những bài hát chúng tôi ưa thích. Trang đầu cuốn sổ, tôi ghi nắn nót những dòng chữ : “Đời không có tiếng hát, khác nào cuộc sống không ánh sáng mặt trời. Mong tình bạn đẹp mãi như tiếng hát không ngừng.”. Mai Hương tặng tôi một chiếc khăn trắng muốt, thêu một bông hoa trắng cùng với dòng chữ trắng : “Đẹp mãi tuổi thơ”. Có những buổi sáng, chúng tôi đi qua cánh đồng sương giăng trắng như sữa, nghe đồng lúa vang lên âm thanh rạo rực : Bạn ơi, đừng nghỉ học, bạn ơi… Rồi một hôm, Mai Hương không đến lớp. Tôi ngóng bạn nao lòng. Giá hôm qua tôi cùng đạp xe rời nhà trọ về làng cùng với Mai Hương. Tôi tự trách mình và lo lắng cho Mai Hương. Mai Hương về làng chắc có gì trắc trở, sáng nay không đạp xe tới trường được. Tan học, tôi đạp xe về làng. Nửa làng tôi xác xơ, cây cối cháy rực lên. Máy bay Mỹ đã ném bom vào trạm sơ tán tàu hàng, những toa xăng đã cháy đêm qua. Nhiều ngôi nhà xóm Mai Hương trúng bom bốc cháy. Ngôi nhà của Mai Hương chỉ còn lại những hố bom sâu. Cả gia đình không còn ai. Tôi muốn nhìn thấy người bạn gái thân thương một lần cuối. Nhưng điều ấy không bao giờ có được nữa. Tôi trở lại mái trường, như tin rằng Mai Hương đang chờ mình. Cuộc sống như thế đấy, chúng ta say sưa sống tốt mãi lên vì tin rằng có ai đó đang chờ đợi chúng ta, ở phía trước. Và trong đầu tôi cứ vang mãi âm thanh trong trẻo và rạo rực của tuổi học trò: – Bạn ơi, đừng nghỉ học !…

(Nguyễn Trọng Tạo, Mảnh hồn làng,

NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1997)

1. Nếu viết bài văn theo đề bài: Hãy kể về một kỉ niệm với người bạn tuổi thơ khiến em xúc động và nhớ mãi thì bài văn trên có đáp ứng được yêu cầu không ? Vì sao ?

Trả lời:

Muốn xem bài văn Bạn ơi đừng nghỉ học có đáp ứng được yêu cầu của đề hay không, cần phân tích và chỉ ra các yêu cầu cụ thể của đề bài này. Có thể nêu lên các yêu cầu chính sau đây :

Đó phải là một câu chuyện đã xảy ra lâu rồi, từ hồi tuổi thơ.

– Kỉ niệm ấy phải gắn với người bạn thân thiết của người viết.

– Kỉ niệm ấy phải có ý nghĩa, phải xúc động và đáng nhớ.

– Người kể lại phải là người trong cuộc, người chứng kiến câu chuyện,…

Với các yêu cầu đó, em tự đối chiếu với văn bản để trả lời câu hỏi.

2. Hãy rút ra dàn ý của bài văn Bạn ơi đừng nghỉ học.

Trả lời:

Dàn ý của bài văn bao gồm các phần và các ý lớn. Cần phải xác định được ba phần của bài văn : Mở bài, Thân bài và Kết bài. Sau đó chỉ ra nội dung khái quát của từng phần.

3. Bài văn kể về chuyện gì ? Hãy chỉ ra các yếu tố miêu tả được sử dụng trong bài văn đó.

Soạn Văn Lớp 9 Bài Thuật Ngữ, Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

So sánh hai cách giải thích từ nước và từ muối

I. Thuật ngữ là gì?

Câu 1: So sánh hai cách giải thích từ nước và từ muố i :

– Cách 1 : nêu những dấu hiệu bên ngoài, có thể quan sát được trực tiếp bằng giác quan. Các từ muối, nước ở cách 1 là từ thông thường.

– Cách 2 : nêu những tính chất đặc trưng bên trong. Những tính chất này là kết quả nghiên cứu khoa học. Người nghe cũng phải có những kiến thức khoa học nhất định thì mới hiểu được. Các từ muối, nước ở đây là thuật ngữ.

Câu 2 :

– Thạch nhũ : thuật ngữ môn Địa lí.

– Bơ-dơ : thuật ngữ môn Hóa học.

– Ẩn dụ : thuật ngữ môn Ngữ văn.

– Phân số thập phân : thuật ngữ môn Toán

Những thuật ngữ trên chủ yếu dùng trong văn bản khoa học và công nghệ.

II. Đặc điểm của thuật ngữ :

Câu 1 : Các thuật ngữ ở mục 2 nói trên chỉ có một nghĩa.

Câu 2 :

– Từ muối trong câu (a) – Muối là một tập hợp chất có thể hòa tan trong nước – là nghĩa thuật ngữ, chỉ có một nghĩa.

– Từ muối thứ hai trong câu (b) ( Tay nâng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau) là từ thông thường ở đây được dùng theo sắc thái biểu cảm (gợi lên nỗi vất vả đã nếm trải).

Luyện tập

Câu 1 : Vận dụng kiến thức đã học ở các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Toán học, Vật lí, Hóa học, Sinh học để điền thuật ngữ thích hợp vào chỗ trống và xác định mỗi thuật ngữ được điền vào thuộc lĩnh vực khoa học nào.

– Lực là tác dụng đẩy, kéo của vật này lên vật khác. (Vật lí)

– Xâm thực là hiện tượng làm hủy hoại dần dần lớp đất đá phủ trên mặt đất do các tác nhân : gió, băng hà, nước chảy,… (Địa lí)

– Hiện tượng hóa học là hiện tượng trong đó có sinh ra chất mới. (Hóa học)

– Trường từ vựng là tập hợp của những từ có ít nhất một nét chung về nghĩa. (Ngữ văn)

– Di chỉ là nơi có dấu vết cư trú và sinh sống của người xưa. (Lịch sử)

– Thụ phấn là hiện tượng hạt phấn tiếp cúc với đầu nhụy. (Sinh học)

– Lưu lượng là lượng nước chảy qua mặt cắt ngang lòng sông ở một điểm nào đó, trong một giây đồng hồ. (Địa lí)

– Trọng lực là lực hút của Trái Đất. (Vật lí)

– Khí áp là sức ép của khí quyển lên bề mặt Trái Đất. (Địa lí)

– Đơn chất là những chất do một nguyên tố hóa học cấu tạo nên. (Hóa học)

– Thị tộc phụ hệ là thị tộc theo dòng họ người cha, trong đó nam có quyền hơn nữ. (Lịch sử)

– Đường trung trực là đường thẳng vuông góc với một đoạn thẳng tại điểm giữa của đoạn ấy. (Toán học)

Câu 2 : Điểm tựa là một thuật ngữ vật lí, có nghĩa là điểm cố định của một đòn bẩy, thông qua đó lực tác động được truyền tới lực cản. Nhưng trong đoạn trích này nó không được dùng như một thuật ngữ. Ở đây, điểm tựa chỉ nơi làm chỗ dựa chính (ví như điểm tựa của đòn bẩy).

Câu 3 :

– Trong trường hợp (a) (Nước tự nhiên ở sông, hồ, ao, biển,… là một hỗn hợp), từ hỗn hợp được dùng như một thuật ngữ.

– Trong trường hợp (b) (Đó là một chương trình biểu diễn hỗn hợp nhiều tiết mục), từ hỗn hợp được dùng như một từ thông thường.

– Đặt câu với từ hỗn hợp dùng theo nghĩa thông thường :

Dùng hỗn hợp phân chuồng và phân hóa học thì tốt hơn dùng riêng rẽ.

Câu 4 : Thuật ngữ cá của sinh học : động vật có xương sống, sống ở dưới nước, bơi bằng vây, thở bằng mang. Theo cách hiểu thông thường của người Việt (thể hiện qua cách gọi cá voi, cá heo và có thể kể thêm cá sấu), cá không nhất thiết phải thở bằng mang.

Câu 5 : Hiện tượng đồng âm giữa thuật ngữ thị trường của kinh tế học và thuật ngữ thị trường của quang học không vi phạm nguyên tắc một thuật ngữ – một khái niệm, vì hai thuật ngữ này được dùng trong hai lĩnh vực khoa học riêng biệt, chứ không phải trong cùng một lĩnh vực.

Soạn Bài: Làng – Ngữ Văn 9 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Kim Lân trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Truyện ngắn Làng được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ năm 1948.

* Tóm tắt:

Ông Hai là một người làng chợ Dầu, nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh chống Pháp nên ông phải đưa gia đình đi tản cư. Sống ở ngôi làng mới, lúc nào ông cũng nhớ về làng cũ và luôn theo dõi tin tức của cách mạng. Nhưng một hôm, bất ngờ ông nghe tin đồn làng chợ Dầu của ông theo giặc, ông thấy vô cùng đau khổ. Suốt nhiều ngày liền, ông không dám đi ra ngoài vì sợ nghe thấy mọi người bàn tán về làng mình. Nỗi đau khổ ông không biết giãi bày với ai, đành tâm sự với cậu con út để vơi bớt nỗi buồn. Cho đến khi chủ tịch xã lên cải chính làng chợ Dầu không theo Tây, ông vui mừng khoe với mọi người, mua quà bánh chia cho các con, ông càng thêm yêu và tự hào về làng mình.

* Bố cục:

Văn bản có thể được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại: Tâm trạng của ông Hai khi nghe tin cải chính về việc làng chợ Dầu theo giặc.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Truyện ngắn Làng đã xây dựng được một tình huống truyện làm bộc lộ sâu sắc tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở nhân vật ông Hai. Tình huống truyện đó là: Ông Hai là một người dân làng chợ Dầu rất yêu và tự hào về làng mình, vì chiến tranh mà ông và gia đình phải đi tản cư, ông nghe được tin đồn làng chợ Dầu theo giặc từ những người tản cư đi qua.

Câu 2:

* Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến kết thúc truyện:

Khi nghe được tin xấu “cổ họng ông lão nghẹn ắng lại, da tê rân rân,… ông không thể không tin”.

Ông đi về nhà, mặt cúi gằm xuống đất, về đến nhà ông nằm vật ra giường, nhìn lũ con mà cảm thấy tủi thân, nước mắt trào ra, ông đau đớn rít lên và nguyền rủa bọn phản quốc.

Những ngày sau đó, ông chỉ ở nhà, không dám đi đâu, luôn cảm thấy chột dạ khi có tiếng xì xầm ngoài đường.

Ông quyết định đoạn tuyệt vời làng để đi theo kháng chiến, theo cách mạng bởi “Làng thì yêu thật nhưng làng làm Việt Gian thì phải thù”.

Khi nghe tin cải chính làng chợ Dầu không theo giặc, ông Hai như được hồi sinh, mặt mày rạng rỡ hẳn lên, mua quà bánh chia cho các con, đi khoe với mọi người.

* Ông Hai cảm thấy đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc cũng bởi vì ông yêu làng của ông như đứa con yêu mẹ của mình, tự hào và tôn thờ mẹ. Chính vì thế, ông càng yêu, càng tin tưởng, càng hãng diện bao nhiêu thì lại càng đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu.

* Tâm trạng của ông Hai được biểu hiện: ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng bất ổn trong nỗi tủi nhục ê chề, thậm chí ông còn tuyệt giao với tất cả mọi người, không dám bước chân ra ngoài vì xấu hổ.

Câu 3:

* Đoạn văn ông Hai trò chuyện với đứa con út thực chất là đoạn ông đang giãi bày nỗi lòng mình.

* Qua những lời trò chuyện ấy, em thấy:

Tình yêu làng, yêu quê hương của ông Hai rất sâu nặng, ông như muốn khắc ghi vào trong tâm trí của đứa con út rằng “Nhà ta ở chợ Dầu”.

Tình yêu đất nước, tấm lòng thủy chung với kháng chiến, với cách mạng, với Bác Hồ. Đây là tình cảm sâu nặng, bền vững, tuyệt đối không bao giờ thay đổi.

* Tình yêu làng quê và lòng yêu nước ở ông Hai đã gắn bó làm một và hòa quyện trong con người ông Hai, trở thành một thứ tình cảm thiêng liêng, bền vững. Những tình cảm đó không chỉ có ở nhân vật ông Hai mà ở trong tất cả những người con của dân tộc Việt Nam.

Câu 4:

* Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật rất chân thực, sâu sắc và sinh động

* Ngôn ngữ nhân vật chủ yếu là khẩu ngữ, tự nhiên, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của người nông dân.

4.2

/

5

(

6

bình chọn

)

Soạn Bài Khởi Ngữ Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2

Hướng dẫn Soạn Bài 18 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập hai. Nội dung bài Soạn bài Khởi ngữ sgk Ngữ văn 9 tập 2 bao gồm đầy đủ bài soạn, tóm tắt, cảm thụ, phân tích, thuyết minh, nghị luận,… đầy đủ các bài văn mẫu lớp 9 hay nhất, giúp các em học tốt môn Ngữ văn 9, ôn thi vào lớp 10.

I – ĐẶC ĐIỂM VÀ CÔNG DỤNG CỦA KHỞI NGỮ TRONG CÂU 1. Câu 1 trang 7 sgk Ngữ văn 9 tập 2

Phân biệt các từ ngữ in đậm với chủ ngữ trong những câu sau về vị trí trong câu và quan hệ với vị ngữ.

a) Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn. Nó ngơ ngác, lạ lùng. Còn anh, anh không ghìm nổi xúc động.

(Nguyễn Quang Sáng, Chiếc lược ngà)

b) Giàu, tôi cũng giàu rồi.

(Nguyễn Công Hoan, Bước đường cùng)

c) Về các thể văn trong lĩnh vực văn nghệ, chúng ta có thể tin ở tiếng ta, không sợ nó thiếu giàu và đẹp […].

(Phạm Văn Đồng, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt).

Trả lời:

– Vị trí: các từ ngữ in đậm đứng trước chủ ngữ.

– Về quan hệ với vị ngữ: từ ngữ in đậm không phải chủ ngữ trong câu, không có quan hệ với thành phần vị ngữ như chủ ngữ.

2. Câu 2 trang 8 sgk Ngữ văn 9 tập 2

Trước các từ ngữ in đậm nói trên, có (hoặc có thể thêm) những quan hệ từ nào?

Trả lời:

Trước các từ in đậm này có thể thêm các quan hệ từ “về’, “đối với”.

II – LUYỆN TẬP 1. Câu 1 trang 8 sgk Ngữ văn 9 tập 2

Tìm khởi ngữ trong các đoạn trích sau đây:

a) Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác đọc rồi nghe lỏm. Điều này ông khổ tâm hết sức.

(Kim Lân, Làng)

b) – Vâng! Ông giáo dạy phải! Đối với chúng mình thì thế là sung sướng.

(Nam Cao, Lão Hạc)

c) Một mình thì anh bạn trên trạm đỉnh Phan-xi-păng ba nghìn một trăm bốn mươi hai mét kia mới một mình hơn cháu.

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

d) Làm khí tượng ở được cao như thế mới là lý tưởng chứ.

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

e) Đối với cháu, thật là đột ngột […].

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)

Trả lời:

Các khởi ngữ (im đậm):

2. Câu 2 trang 8 sgk Ngữ văn 9 tập 2

Hãy viết lại các câu sau đây bằng cách chuyển phần được in đậm thành khởi ngữ (có thêm trợ từ thì):

a) Anh ấy làm bài cẩn thận lắm.

b) Tôi hiểu rồi nhưng tôi chưa giải được.

Trả lời:

Cụm từ làm bài trong câu (a), từ hiểu, giải trong câu (b) đóng vai trò trung tâm vị ngữ của câu.

Viết lại hai câu trong bài tập trên bằng cách chuyển phần in đậm thành khởi ngữ (có thể thêm trợ từ thì).

a) – Làm bài (thì) anh ấy (làm bài) cẩn thận lắm.

– Làm bài, anh ấy cẩn thận lắm.

b) Hiểu (thì) tôi hiểu rồi nhưng giải (thì) tôi chưa giải được.

“Bài tập nào khó đã có giaibaisgk.com”