Soạn Bài Vợ Nhặt Từ Thiên Bảo / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Soạn Bài Lớp 12 Vợ Nhặt

Soạn bài lớp 12 Vợ nhặt

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12 học kì II

Soạn văn 12 bài Vợ nhặt

Soạn bài lớp 12: Vợ nhặt do Kim Lân sáng tác thuộc môn Ngữ Văn lớp 12 được VnDoc sưu tầm và giới thiệu với các bạn để tham khảo giúp học tập tốt môn Ngữ Văn lớp 12 chuẩn bị cho bài giảng của học kỳ 2 sắp tới đây của mình. Mời các bạn tham khảo bài soạn bài mẫu bài Vợ Nhặt của Kim Lân.

Soạn bài lớp 12: Bắt sấu rừng U Minh Hạ

Giáo án Vợ nhặt

Bài giảng Vợ nhặt Ngữ văn 12

Mời làm: Đề kiểm tra môn Ngữ Văn lớp 12 – “Vợ nhặt” (Kim Lân)

Soạn văn bài: Vợ nhặt

VỢ NHẶT KIM LÂN

I. Tiểu dẫn

1. Kim Lân (1920 – 2007)

Tên khai sinh: Nguyễn Văn Tài.

Quê: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2001.

Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962).

Kim Lân là cây bút truyên ngắn Thế giới nghệ thuật của ông thường là khung cảnh nông thônhình tượng người nông dân. Đặc biệt ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống thôn quê Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với “đất” với “người” với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn.

2. Xuất xứ truyện

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc in trong tập truyện Con chó xấu xí (1962).

3. Bối cảnh xã hội của truyện

Phát xít Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay nên tháng 3 năm 1945 nạn đói khủng khiếp đã xảy ra. Chỉ trong vòng vài tháng, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói.

II. Đọc hiểu văn bản tác phẩm.

1. Đọc – tóm tắt: SGK. 2. Tìm hiểu văn bản: SGK. a. Ý nghĩa nhan đề

Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm “Nhặt” đi với những thứ không ra gì. Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.

b. Tình huống truyện

Tràng là một nhân vật có ngoại hình xấu. Đã thế còn dở người. Lời ăn tiếng nói của Tràng cũng cộc cằn, thô kệch như chính ngoại hình của anh ta. Gia đình của Tràng cũng rất ái ngại, Nguy cơ “ế vợ” đã rõ. Đã vậy lại gặp nạn đói khủng khiếp, cái chết luôn luôn đeo bám. Trong lúc không một ai (kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện vợ con của anh ta thì đột nhiên Tràng có vợ. Trong hoàn cảnh đó, Tràng “nhặt” được vợ là nhặt thêm một miệng ăn cũng đồng thời là nhặt thêm tai hoạ cho mình, đẩy mình đến gần hơn với cái chết. Vì vậyviệc tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫ lộn, cười ra nước mắt.

c. Tìm hiểu diễn biến tâm trạng của các nhân vật

* Nhân vật Tràng

Tràng là nhân vật có bề ngoài thôxấu, thân phận lại nghèo hèn, mắc tật hay vừa đi vừa nói một mình,…

Tràng “nhặt” được vợ trong hoàn cảnh đói khát “Chậc, kệ” cái tặc lưỡi của Tràng không phải là sự liều lĩnh mà là một sự cưu mang, một tấm lòng nhân hậu không thể chối từ. Quyết định có vẻ giản đơn nhưng chứa đựng nhiều tình thương của con người trong cảnh khốn cùng.

Tất cả biến đổi từ giấy phút ấy. Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới.

Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn: “Hắn thấy bây giời hắn mới nên người”. Tràng thấy trách nhiệm và biết gắn bó với tổ ấm của mình.

* Người vợ nhặt

Thị theo Tràng trước hết là vì miếng ăn (chạy trốn cái đói).

Nhưng trên đường theo Tràng về, cái vẻ “cong cớn” biến mất, chỉ còn người phụ nữ xấu hổ, ngượng ngùng và cũng đầy nữ tính (đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, ngồi mớm ở mép giường,…). Tâm trạng lo âu, băn khoăn, hồi hộp khi bước chân về “làm dâu nhà người”.

Buổi sớm mai, chi ta dậy sớm, quét tước, dọn dẹp. Đó là hình ảnh của một người vợ biết lo toan, chu vén cho cuộc sống gia đình, hình ảnh của một người “vợ hiền dâu thảo”.

Chính chị cũng làm cho niềm hy vọng của mọi người trỗi dậy khi kể chuyện ở Bắc Giang, Thái Nguyên người ta đi phá kho thóc Nhật.

* Bà cụ Tứ:

Tâm trạng: mừng, vui, xót, tủi “vừa ai oán vừa xót thương cho số phận đứa con mình”. Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương” nén vào lòng tất cảbà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “Ừ, thôi thì các con cũng phải duyên phải số với nhau, u cũng mừng lòng”.

Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụTứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hy vọng: “Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem”.

d. Vài nét nghệ thuật.

Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn.

Nghệ thuật tạo tình huống đầy tính sáng tạo.

Dựng cảnh chân thật, gây ấn tượng: cảnh chết đói, cảnh bữa cơm ngày đói,…

Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế nhưng bộc lộ tự nhiên, chân thật.

Ngôn ngữ nhuần nhị, tự nhiên.

III. Tổng kết.

Vợ nhặt tạo được một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, đối thoại sinh động.

Truyện thể hiện được thảm cảnh của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945. Đặc biệt thể hiện được tấm lòng nhân ái, sức sống kì diệu của con người ngay trên bờ vực của cái chết vẫn hướng về sự sống và khát khao tổ ấm gia đình.

Soạn Bài Vợ Nhặt Đầy Đủ

TÁC PHẨM “VỢ NHẶT”

Kim Lân

Giới thiệu chung

Tác giả: Kim Lân là nhà văn gắn bó với con người và cảnh sắc làng quê Việt Nam. Ông có tài khắc họa tâm lý nhân vật và xây dựng cốt truyện độc đáo, bất ngờ.

Tác phẩm

Trích trong tập truyện “Con chó xấu xí” năm 1962

Truyện dựa theo tiểu thuyết “Xóm Ngụ Cư” của Kim Lân đã bị thất lạc sau CMT8.

Truyện phản ánh nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đây còn là bài ca ca ngợi:

+ Vẻ đẹp của tình người.

+ Khát vọng sống của con người, khát vọng hạnh phúc.

+ Niềm tin vào tương lai của những người dân nghèo.

Tìm hiểu văn bản

Bức tranh nạn đói năm 1945.

Thời điểm: Câu chuyện xảy ra lúc “cái đói tràn đến xóm này từ lúc nào”- xóm Ngụ Cư. Nạn đói như một cơn lũ không báo trước, bất ngờ đổ ập xuống, đe dọa từng xóm làng, uy hiếp từng con người  Cách diễn đạt của Kim Lân đã khắc họa được nỗi kinh hoàng của người dân Việt Nam trước nạn đói khủng khiếm đã cướp đi gần một phần 10 dân số lúc bấy giờ. Thiệt hại ấy còn lớn hơn bất kì một cuộc chiến tranh nào trong lịch sử dân tộc.

Không gian ngày đói: Bao trùm cả xóm ngụ cư là không khí chết chóc:

Nó hiện lên thành màu sắc:

+ Đó là “màu xanh xám như những bóng ma” của những người sắp chết, đó là làn da xanh xao do thiếu ăn, đói khát, không có sức sống.

+ Đó còn là màu đen của lũ quạ bay “đầy trời như những đám mây đen”  Báo hiệu điềm gỡ.

Nó còn vẫy lên thành mùi:

+ Không khí đầy mùi tử khí: “Không khí vẫn lên mùi ẩm thối của rác rưỡi và mùi gây của xác người”

+ “Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt”

Nó bật lên thành những âm thanh:

+ Đó là tiếng kêu thê lương của lũ quạ: “tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”

+ Đêm tân hôn của Tràng diễn ra trong “tiếng hờ khóc vẳng đến từ phía những nhà có những người chết đói”.

+ Tiếng trống thúc thuế “dội lên mồi hồi trống, dồn dập, vội vã”.

 Cuộc sống của xóm ngụ cư đang bị bao vây trong những gam màu, mùi và những âm thanh ghê rợn, ám ảnh ấy. Cái chết lan tràn khắp nơi, sự sống chỉ còn là thoi thóp, yếu ớt

Hình ảnh con người: Chủ yếu được xây dựng bằng nghệ thuật so sánh:

Người chết nhiều vô kể: “chết như ngả rạ”. Sáng nào cũng có “ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”.

Người sống thì lẫn vào thế giới của người chết: “xanh xám như những bóng ma”, “dật dờ lặng lẽ như nhữn bóng ma”.

 Chân dung người đói hiện lên ưu tối, hốc hác, rất gần với những người chết. Hai lần so sánh người sống như những bóng ma để Kim Lân khẳng định ranh giới giữa người và ma, sự sống và cái chết, cõi âm và cõi dương, nó thật mong manh. Con người đang ở mép bờ vực, bóng ma tử thần đó đang bao trùm cả xóm ngụ cư.

Chuyển ý: Bất chấp những điều đó, con người ở đây vẫn có khát vọng sống, khát vọng được ấm no, hạnh phúc. Nạn đói chỉ giết chết được thể xác chứ không giết được tinh thần của họ

Hình tượng nhân vật anh Tràng (nhân vật trung tâm)

Ngoại hình của anh Tràng

“Hai con mắt nhỏ tí”

“Hai bên quai hàm bạnh ra”

“Thân hình to lớn, vập vạp”

“Cái đầu trọc lóc, to rộng như lưng gấu”

 Tràng có vẻ ngoài xấu xí, thô kệch như một sự đẽo gọt sơ sài của tạo hóa.

Hoàn cảnh nhân vật Tràng:

Anh là người dân xóm ngụ cư: Đây là một cái nhìn đầy khinh miệt, xem thường của xã hội dành cho những người khắp nơi trôi dạt đến đây, không gốc gác, quên quán.

Tràng là một người nông dân nghèo, làm nghề “kéo xe bò thuê cho liên đoàn tỉnh”, sống với mẹ già trong một căn nhà “vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại” ở xóm ngụ cư. Đây thực chất là một cái chòi, một cái lều xiêu vẹo, thảm hại.

 Anh Tràng đại diện cho những người nông dân lao động nghèo khổ đến tận cùng trong xã hội cũ, xấu xí, nghèo khổ, quê mùa, ít học, nói chuyện cọc lốc… Chính vì vậy, việc Tràng lấy được vợ là một sự kiện hết sức bất ngờ, gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người, thậm chí là người trong cuộc.

Diễn biến tâm trạng Tràng, sự thay đổi trong của Tràng từ khi nhặt được vợ:

Khi nhặt được vợ:

Lúc đầu, khi có anh có ý định đưa người đàn bà xa lạ này về nhà. Tràng phân vân, do dự “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chẳng biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bồng”.

Nhưng sau Tràng lại tắc lưỡi “Chậc, kệ!”, rồi đưa người vợ nhặt về nhà.

 Trong cảnh bần cùng của đói khổ, cái chết đang rình rập quyết định và hành động của anh Tràng không chỉ thể hiện khao khát hạnh phúc gia đình mà còn thể lòng thường người cao cả

Trên đường về nhà: Nhà văn dùng ngoại hình để diễn tả tâm trạng Tràng:

Khác với lúc trước, thường “mỏi mệt, vẻ mặt đăm chiêu, lo lắng”. Hôm nay Tràng hết sức vui vẻ, hào hứng, phấn khởi vì đã có vợ. “Mặt hắn có một vẻ gì phớn phở khác thường. Hắn tủm tỉm cười một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh”  Niềm vui mỗi lúc một dâng cao, không kiềm chế được.

Không chỉ vui sướng, anh còn tỏ ra “thích lắm, cái mặt vênh lên tự đắc với mình” bởi anh lấy được vợ quá dễ dàng và nhanh chóng, chỉ bằng “bốn bát bánh đúc”, vài câu nói bông đùa và qua hai lần gặp mặt với thị.  Hạnh phúc đã làm anh Tràng thay đổi.

Khi về đến nhà:

Lúc đầu anh cảm thấy ngượng nghịu, ngại ngùng vì:

+ Vì nhà cửa tuềnh toàng, bừa bộn, siêu vẹo.

+ Đây là lần đầu tiên Tràng tiếp xúc với phụ nữ, “Tràng đứng tây ngay ra giữa nhà một lúc”, “đến bây giờ hắn vẫn còn ngợ ngợ như không phải thế. Ra là hắn đã có vợ rồi đấy ư?”. Chính vì đây là lần đầu tiên hắn tiếp xúc với phụ nữ, nên chính bản thân hắn không biết phải nói gì hay làm gì.

Tràng là một người chất phát, đơn thuần, hiền lành, anh không có kinh nghiệm trong tình yêu. Chính vì vậy, có lúc anh còn ngạc nhiên, không tin vào sự thật.

Niềm hạnh phúc của Tràng khi có vợ được Kim Lân diễn tả rất thực và sinh động qua nỗi chờ đợi mẹ về:

+ Anh lo lắng, sốt ruột “Sao hôm nay bà lão về muộn thế không biết”  Bởi có lẽ anh đang sung sướng và muốn giải bày niềm vui với mẹ, anh đang hạnh phúc và muốn mẹ cùng hạnh phúc với anh

+ Và khi mẹ về, Tràng reo lên như một đứa trẻ, lật đật chạy ra đón: “Hôm nay sao u về muộn thế!, làm tôi đợi nóng cả ruột”.

 Thực chất Tràng không phải là vô tư, nông cạn, thiếu hiểu biết. Anh ý thức rất rõ lấy vợ là chuyện hệ trọng trong cả một đời người. Không chỉ vậy, anh còn tỏ ra hiếu thảo, lễ phép qua cánh anh thưa chuyện với bà Cụ Tứ.

Sáng hôm sau: Tâm trạng anh càng thay đổi rõ rệt

Lúc mới trở dậy: Tràng có cảm giác mới mẻ, kì diệu thấy “trong người êm ái lửng lơ như người vừa trong giấc mơ đi ra. Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫ còn ngỡ ngàng như không phải” Có lẽ Tràng bất ngờ trước hạnh phúc quá lớn lao. Tác giả như hóa thân vào nhân vật để diễn tả cái mới mẻ, lạ lẫm trong Tràng – một niềm vui cảm động lẫn lộn giữa hiện thực và ước mơ.

Tràng chợt nhận ra xung quanh đã có sự thay đổi, mới mẻ khác lạ: “Nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quét tước thu dọn sách sẽ, gọn gàng…người mẹ lúi húi giẫy cỏ dại, người vợ lại quét cái sân… Cảnh tượng ấy thật đơn giản bình thường nhưng “hắn lại thấm thía cảm động”. Điều đó có nghĩa là Tràng đã ý thức được giá trị của cuộc sống gia đình.

Anh thấy mình phải có trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận với gia đình. Điều đó thể biện qua hành động “xăm xăm chạy ra giữa sân để phụ giúp mẹ, giúp vợ”. Lần đầu tiên Tràng nghĩ về tương lai “hắn sẽ cùng vợ con sinh con đẻ cái”  Lạc quan, hi vọng vào tương lai. Qua đây ta thấy rằng: Khi con người được yêu thương thì sẽ sống tốt hơn.

Trong óc Tràng hiện lên “hình ảnh đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Điều này hứa hẹn: một ngày không xa, anh sẽ giác ngộ, sẽ gia nhập Việt Minh để tự cứu người, cứu mình.

 Sự kiện nhặt được vợ đã làm thay đổi cuộc đời và số phận của Tràng: Tràng cảm thấy mình nên người và có ý thức trách nhiệm với gia đình, chứ không phải chỉ tận hưởng niềm vui riêng của cá nhân.

Từ một anh Tràng cục mịch, chỉ biết những việc trước mắt, Tràng đã biết quan tâm đến gia đình, sống có trách nhiệm, biết suy nghĩ chính chắn. Truyện mở ra trong một buổi chiều chạng vạng và kết thúc trong ánh nắng mùa hè cho thấy niềm tin của con người và cuộc đời của những người dân ngụ cư nghèo khổ nhưng hiền lành tốt đẹp. Kim Lân tin rằng trong hoàn cảnh khốn cùng, ở họ vẫn có khát vọng sống mãnh liệt, họ vẫn khao khát hạnh phúc, không tuyệt vọng. Qua đó, nhà văn mở ra con đường sống cho họ. Chỉ có đi theo CM thì con người mới giải phóng và thay đổi số phận của mình  Đây là giá trị nhân đạo sâu sắc.

Hình tượng nhân vật người vợ nhặt.

Hoàn cảnh, xuất thân: Cuộc đời bất hạnh của nhân vật này gói gọn trong con số 0 tròn trĩnh: không quê hương, không xuất thân, không gia đình, không nhà cửa, không nghề nghiệp, không tuổi, thậm chí là khổng có cả một cái tên (xuyên suốt tác phẩm, nhân vật được tác giả gọi là “cô ả”, “thị”, “người vợ mới”…một cách chung chung.)

 Ý nghĩa:

+ Tác giả nhấn mạnh, hoàn cảnh bất hạnh, số phận rẻ mạc của con người trong xã hội bấy giờ. Họ nghèo khổ, họ mất cả giá trị, sống nay chết mai nên không cần có một cái tên.

+ Đây không phải là hoàn cảnh cụ thể mà là số phận chung của những người dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp ấy.

Ngoại hình: Thể hiện qua 2 lần gặp Tràng:

Lần 1: Thị ngồi với những cô gái không có việc làm để chờ có người đến thuê. Thị vẫn còn lanh lợi, nhanh nhẹn, xông xáo chọc ghẹo anh Tràng và đẩy xe bò phụ anh.

Lần 2: Cái đói đã làm cho thị hiện lên như một con ma đói: “áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”

 Cái đói đã khiến vẻ ngoài của thị trở nên nhếch nhác, xấu xí, gầy gò đến thảm hại. Nhưng tính cách của thị còn thay đổi hơn.

 Số phận, mảnh đời của thị không hiếm hoi trong bối cảnh nạn đói năm 1945

Tính cách

Trước khi theo anh tràng:

Lần đầu gặp anh Tràng:

Hành động:

+ “Cợt đùa, đáp trả lại câu hò của anh Tràng”

+ “Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng”

 Bạo dạn, dạn dĩ.

Lời nói: Gọi Tràng là “nhà tôi ơi”

 Đây là cách nói của vợ nói với chồng.  Sổ sàng, lẳng lơ, dễ dãi.

Vẻ mặt: “Cong cớn, liếc mắt, cười tít”.  Thiếu ý thức, vô duyên

Lần hai khi gặp anh Tràng:

Lời nói: “Thị ở đâu sầm sập chạy đến”, “sưng sỉa nói”,trách móc Tràng là “điêu”

 Thị bám vào câu nói đùa của Tràng chỉ để được ăn.

Vẻ mặt: “sưng sĩa”, “chao chát, chỏng lỏn”  Thèm ăn, đói khát.

Hành động:

+ Thị gợi ý để được ăn “Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu”

+ Khi nghe anh Tràng mời ăn: “Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên” rồi”thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc chẳng chuyện trò gì”

+ Khi ăn xong, “thị cầm dọc đôi đũa quệt, ngang miệng, thở”

 Thiếu ý thức, thậm chí thiếu giáo dục, không có lòng tự trọng, không nữ tính.

 Cái đói không chỉ tàn phá dung nhan mà còn làm thay đổi tính cách, nhân phẩm của con người. Người phụ nữ này đã đặt sự tồn tại của mình, miếng ăn lên lòng tự trọng của bản thân. Sự trơ trẽn của cô được sinh ra từ cái đói, cái nghèo chứ không phải là bản chất thật sự của thị. Vì đói, người phụ nữ này đã bám víu vào những lời nói đùa vu vơ, hi vọng mong manh. Vì đói cô đã chấp nhận theo không một người đàn ông xa lạ, trở thành vợ nhặt chỉ để trốn chạy cái đói. Đây là giá trị hiện thực sâu sắc.

Sau khi theo anh Tràng

Trên đường về nhà:

Đằng sau sự lẳng lơ, trơ trẻn, là lòng ham sống mãnh liệt. Chính vì vậy, chị đã đồng ý và chấp nhận theo Tràng không do dự.  Khát vọng sống ấy thật đáng quý, hợp lẽ tự nhiên.

Phía sau sự trơ trẻn, thiếu ý tứ, không nữ tính là sự ngượng nghịu, e thẹn rất dễ thương của người vợ nhặt: “Thị cắp con thúng con, đầu hơi cúi xuống. cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất nửa mặt. Thị có vẻ rón rén, e thẹn”, “chân nọ bước dúi vào chân kia”. Đặc biệt, chị rất ý tứ khi đi theo sau anh tràng ba bốn bước.

Khi về đến nhà: Không còn là người phụ nữ “chao chát”, “chỏng rỏn” vô ý vô tứ, thiếu giáo dục mà trái lại, người vợ nhặt tỏ ra rất hiểu chuyện, biết cách ứng xử, rất tinh tế trong giao tiếp, được giáo dục một cách kĩ càng:

Khi vừa về đến nhà Tràng, thấy “cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”, “thị nén một tiếng thở dài”

 Thị chấp nhận hoàn cảnh sống, không đòi hỏi

 Thị muốn giữ thể diện cho anh Tràng.

Bước vào nhà Tràng, thị “ngồi móm ở mép giường”  Vì thị hiểu rõ: không được tùy tiện ngồi ngả ngớn trên giường của người đàn ông xa lạ khi mình chưa chính thức là vợ của anh Tràng.

Trước mặt bà cụ Tứ: “Thị cúi mặt” xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt”, thị “khép nép”

 Đây là thái độ đúng mực, dịu dàng của một người con dâu mới.

Sáng hôm sau: Sự thay đổi của Thị càng rõ rệt:

Thị dậy sớm, dọn dẹp nhà cửa, quét sân “rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn” như trước  Sự đảm đang tháo vác.

Khi đón bát “chè khoán” từ tay bà cụ Tứ “hai con mắt thị tối lại” chứng tỏ thị nhận ra đây không phải là chè mà chỉ là “cháo cám” nhưng thị vẫn “điềm nhiên và vào miệng”

 Rất ý tứ, tế nhị. Thị chấp nhận hoàn cảnh. Đây là một người phụ nữ tinh tế, sâu sắc.

Người vợ nhặt còn tỏ ra hết sức hiểu biết, nhạy cảm với thời thế, xã hội. Chị đã thổi luồng sinh khí mới, chị nhen nhóm niềm hi vọng, niềm tin cho gia đình Tràng qua việc cung cấp thông tin: “Việt Minh phá kho thóc của Nhật, chia cho người đói” và “trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế nữa”

Tuy thị chỉ là nhân vật phụ nhưng không thể thiếu trong tác phẩm, thiếu thị Tràng chỉ là một anh chàng vô tư, bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trong đau khổ cùng cực, chính Thị đã làm thay đổi tất cả. Tình người, sự yêu thương, nhân hậu của gia đình anh Tràng đã giúp cho chị được sống, được lại bản chất tốt đẹp của mình, thì ngược lại thị đem đến cho anh Tràng niềm hi vọng, tương lai đầy ánh sáng, lạc quan. Đây là giá trị nhân đạo sâu sắc, giá trị của tình người.

Hình tượng nhân vật bà cụ Tứ:

Hoàn cảnh nhân vật:

Bà cụ Tứ là một bà mẹ nghèo khổ, từng trải, có cuộc đời đầy gian truân và bất hạnh: chồng chết, con gái lấy chồng xa, bà sống với người con trai xấu xí, ế vợ, trong một cái nhà rách nát, xiêu vẹo.

Bà già rồi, dáng người “lọng khọng”, “húng hắn ho”, gần đất xa trời.

 Nhân vật bà cụ Tứ xuất hiện trong bóng chiều chạng vạng, tê tái. Đôi mặt người mẹ này lúc nào cũng rỉ ra những dòng nước mắt. Bà là hiện thân của tất cả những bà mẹ Việt Nam nghèo khổ lúc bấy giờ hết mực thương con.

Diễn biến tâm trạng nhân vật bà cụ Tứ:

Khi bà về đến nhà

Bà ngạc nhiên, trong tâm trạng “phấp phỏm”, “đứng sững lại”, “hấp háy con mắt cho đỡ nhoèn”. Bà ngạc nhiên vì:

+ Vì cách anh Tràng đón bà một cách đon đả, mừng rỡ.

+ Vì có người đàn bà xa lạ ở trong nhà của mình.

 Cái đói, cái nghèo đã khiến cho một bà mẹ từng trải hiểu đời mất đi sự nhảy cảm vốn có của người phụ nữ.

Khi hiểu ra, hàng loạt những tâm trạng, cảm xúc chuyển biến trong lòng bà cụ Tứ:

+ “Bà lão cúi đầu nín lặng”. Bà tủi hổ cho bản thân mình vì mình chưa làm tròn trách nhiệm của người mẹ, bà lo nỗi hạnh phúc cho con.  Bà tự trách mình và mặc cảm vì thân phận của mình cho thấy bà rất thương anh Tràng.

+ Bà “xót thương cho số kiếp của con mình” vì đến hoàn cảnh này thì anh Tràng mới lấy được vợ.

+ Bà thấu hiểu, thương cảm cho con dâu, “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy con mình”.

Bà lo lắng cho tương lai của các con: “Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khác này không”.

 Bà cụ Tứ là người rất hiểu chuyện, có nhiều kinh nghiệm sống. Bà hiểu tình cảnh khốn khó của người vợ nhặt và bà không hề có ý xem thường người đàn bà ấy mà ở bà chỉ có sự đồng cảm, sự bao dung.

Từ tâm trạng buồn tủi, thương xót, bà cụ Tứ cảm thấy mừng cho con: “Ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, ú cũng mừng lòng”:

+ Điều này thể hiện sự chấp nhận, đồng ý, chúc phúc của người mẹ trước cuộc hôn nhân của con trai mình.

+ Khiến cho anh Tràng cảm thấy nhẹ nhõm, yên lòng, xua đi sự lo âu, phấp phỏm trong anh.

+ Khiến cho người phụ nữ xóa đi sự bẽ bàng tủi hổ vì danh phận vợ nhặt, trả lại cho người phụ nữ ấy lòng tự trọng, danh dự và nhân phẩm.

 Bà là người tâm lý. Ở bà không chỉ có sự thương người mà là người có lòng nhân hậu với tất cả mọi người.

Bà luôn băn khoăn, dậy dứt, khổ tâm vì không thể “làm dăm ba mâm” đãi mọi người.

Bà ra sức khuyên các con những điều đôn hậu, chí tình để động viên các con:

+ Bà căn dặn, bảo ban con phải sống sao cho “hòa thuận”

+ Bà đem đến niềm hi vọng, sự lạc quan cho con bằng triết lý: “Ai giàu ba họ”, “ai khó ba đời”.

Sáng hôm sau:

Tâm trạng của bà cụ Tứ thay đổi rõ rệt:

+ Bà dậy thật sớm cùng con dâu thu dọn nhà cửa như đón chào một cuộc sống mới, một khởi đầu mới, “hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”.

+ Dáng vẻ, nét mặt, tâm trạng của bà cũng tươi tỉnh “nhẹ nhõm”, “khác ngày thường”.

 Tâm trạng vui, hạnh phúc với niềm vui của con mình.

Trong bữa ăn ngày đói: Tuy bữa ăn thật thảm hại nhưng tương phản với điều ấy là niềm vui của bà cụ Tứ. “Bà cụ vừa ăn, vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng sau này”.  Bà muốn gieo cho con niềm tin, hi vọng, sự lạc quan vào tương lai. Chính điều đó, khiến cho mọi thành viên trong gia đình gắn bó, hòa thuận, êm ắng.

Trong chi tiết “nồi chè khoán”, bà cụ Tứ cho ta thấy được:

+ Sự lo toan, tìm mọi cách để các con có được bữa ăn trong ngày đói.

+ Tình thương của người mẹ khi cố tình gọi “cháo cám” bằng cái tên mĩ miều: “chè khoán”.

+ Bà đang xua đi hiện thực khắc nghiệt, hải hục. Thắp lên ngọn lửa của niềm tin, niềm hi vọng bằng câu nói: “Khối người không có cháo cám để mà ăn”.

Bà cụ Tứ chỉ cho các con thấy toàn niềm vui, nụ cười, còn những giọt nước mắt bà giữ cho riêng mình (ba lần bà cụ Tứ khóc đều quay mặt đi). Bà cụ Tứ tiêu biểu cho hình tượng cho những người mẹ nghèo khổ nhưng có tấm lòng thương con vô bờ bến, luôn vun vén hạnh phúc cho con, trở thành chỗ dựa tinh thần cho các con vượt qua nạn đói. Bà là một minh chứng cho nhận xét của Kim Lân: “Khi đói, người ta không nghĩ đến con đường chết, mà chỉ nghĩ đến con đường sống”.

Nghệ thuật xây dựng truyện:

Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, éo le.

Miêu tả diễn biến tâm trạng nhân vật tinh tế, sâu sắc

Ngôn ngữ sinh động, giàu sức gợi.

Tổng kết: Ghi nhớ SGK

Soạn Bài Vợ Nhặt Ngắn Nhất

Tài liệu hướng dẫn soạn bài Vợ nhặt (Kim Lân) được biên soạn chi tiết với nội dung tóm tắt kiến thức về tác giả, tác phẩm và gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2.

Cùng tham khảo…

Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

– Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

– Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông chỉ được học hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong vừa viết văn.

– Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hoá cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóng phim).

– Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).

– Năm 2001, Kim Lân được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

– Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn. Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê – những thú chơi và sinh hoạt văn hoá cổ truyền của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, được gọi là những “thú đồng quê”, “phong lưu đồng ruộng” như: chơi núi non bộ, thả chim, đánh vật, chọi gà,… Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ – những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng.

– Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời; thật thà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa.

2. Tác phẩm

– Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí (1962). Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hoà bình lập lại (1954), ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

– Ý nghĩa nhan đề: Nhan đề đã thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm. Từ nhan đề ta thấy thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.

– Bố cục 4 phần:

+ Phần 1 (từ đầu … ” tự đắc với mình“): Tràng đưa được người vợ nhặt về nhà

+ Phần 2 (tiếp … ” đẩy xe bò“): chuyện hai vợ chồng gặp nhau, thành vợ thành chồng

+ Phần 3 (tiếp … ” nước mắt chảy ròng ròng“): tình thương của người mẹ nghèo khó

+ Phần 4 (còn lại): niềm tin vào tương lai.

Tham khảo bài văn mẫu: Kể lại tóm tắt truyện ngắn Vợ nhặt – Kim Lân

Hướng dẫn soạn bài Vợ nhặt chi tiết

Gợi ý trả lời câu hỏi đọc hiểu soạn bài Vợ nhặt trang 33 SGK Ngữ văn 12 tập 2.

Đọc – hiểu văn bản

1 – Trang 33 SGK

Dựa vào mạch truyện, có thể chia tác phẩm thành mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn? Mạch truyện đã được dẫn dắt như thế nào?

Trả lời:

* Dựa vào mạch truyện, t ác phẩm có thể chia thành bốn đoạn:

– Phần 1 (từ đầu đến… tự đắc với mình): Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

– Phần 2 (tiếp đến… đẩy xe bò về): kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.

– Phần 3 (tiếp đến… nước mắt chảy ròng ròng): Tình thương của người mẹ nghèo khó.

– Phần 4 (phần còn lại): niềm tin vào tương lai tươi sáng.

* Mạch truyện

Mạch truyện đã được dẫn dắt một cách tự nhiên, hợp logic, chủ yếu theo thời gian tuyến tính và gắn với truyện truyền thống. Tuy nhiên, sự hấp dẫn lại nằm trong nghịch lí mang tính hài hước của truyện kể: giữa ngày đói kém, một anh cu Tràng “quá lứa”, “dở hơi” đưa một người đàn bà “rẻ rúng” về làm vợ.

Mạch truyện bắt đầu từ đó: sự kiện khôi hài này tất yếu gây ra những lời bàn tán hài hước và xót xa; rồi màn bi – hài kịch diễn ra trong nhà cụ Tứ. Cuối cùng, tác giả đã tìm được lối thoát cho truyện: giữa những âm thanh của tiếng trống thúc thuế, dồn người ta đến bước đường cùng, hình ảnh lá cờ Việt Minh và đoàn người phá kho thóc của Nhật trong câu chuyện mơ hồ và xa xôi (Nghe đâu tận Thái Nguyên, Bắc Giang) xuất hiện và ám ảnh trong đầu óc của Tràng.

2 – Trang 33 SGK

Vì sao người dân xóm ngụ cư lại ngạc nhiên khi thấy Tràng đi cùng một người đàn bà lạ về nhà? Sự ngạc nhiên của các nhân vật trong truyện cho thấy nhà văn đã sáng tạo được tình huống truyện như thế nào? Tình huống đó có những tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của thiên truyện?

Trả lời:

* Người dân xóm ngụ cư và các nhân vật khác trong truyện như bà cụ Tứ, và cả bản thân Tràng đều đã ngạc nhiên vì Tràng có vợ giữa cảnh nạn đói đang đe dọa.

– Tràng là một người có ngoại hình xấu, lời ăn tiếng nói cũng cộc cằn, thô kệch. Gia cảnh của Tràng nghèo khổ, lại là dân xóm ngụ cư (không có ruộng đất). Nguy cơ ế vợ đã rõ, lại gặp nạn đói khủng khiếp, cái chết đang đeo bám, mọi người đều nghĩ đến lấy gì mà ăn để sống qua ngày, vậy mà đột nhiên Tràng lại lấy vợ. Trong cảnh đói, Tràng “nhặt” được vợ là “nhặt” thêm một miệng ăn, cũng đồng thời là nhặt thêm tai họa cho mình. Vì vậy, việc Tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫn lộn, cười ra nước mắt.

– Dân xóm ngụ cư ngạc nhiên, cùng bàn tán, phán đoán rồi cũng nghĩ: ” biết có nuôi nổi nhau sống qua cái thì này không?” và họ cũng im lặng.

– Bà cụ Tứ, mẹ Tràng lại càng ngạc nhiên hơn. Bà lão chẳng hiểu gì, rồi ” cúi đầu im lặng” với nỗi lo riêng mà rất chung: ” Biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”.

– Bản thân Tràng cũng bất ngờ với chính hạnh phúc của mình. ” Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà đến bây giờ hắn vẫn còn đang ngờ ngợ“. Thậm chí, sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng.

* Sự ngạc nhiên cho thấy tác giả đã xây dựng được một tình huống truyện độc đáo. Tình huống truyện mà Kim Lân xây dựng vừa bất ngờ, vừa nghịch lí nhưng cũng vừa có lí.

– Người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945, hơn hai triệu người chết đói, cái giá của con người thật rẻ rúng, người ta có thể “nhặt” được vợ một cách dễ dàng.

– Thế nhưng họ vẫn khát khao có được tổ ấm gia đình, vẫn hi vọng vào tương lai, ngay cả lúc đói khát, cận kề cái chết.

* Qua tình huống đó, tác phẩm thể hiện rõ giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật.

– Giá trị hiện thực: tố cáo tội ác thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh chết đói.

– “Nhặt vợ” là “nhặt” được hạnh phúc, nhưng khi nó không còn là hạnh phúc nữa mà trở thành cái khốn cùng của cuộc sống.

Cái đói quay quắt dồn đuổi đến mức người đàn bà chủ động gợi ý đòi ăn. Chỉ vì đói quá mà người đàn bà tội nghiệp này ăn luôn và “ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc”. Chỉ cần vài lời nửa đùa nửa thật chị đã chấp nhận theo không Tràng. Giá trị con người bị phủ nhận khi chỉ vì cùng đường, đói khát mà phải trở nên trơ trẽn, liều lĩnh, bất chấp cả thẹn. Cái đói đã bóp méo cả nhân cách con người.

– Giá trị nhân đạo: Tình nhân ái, cưu mang đùm bọc nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc…

Điều mà Kim Lân muốn nói là trong bối cảnh bi thảm, giá trị nhân bản không mất đi, con người vẫn cứ vươn lên để tiếp tục sống, để sinh con đẻ cái, để hướng tới tương lai. Người đàn bà đi theo Tràng đã chạy trốn cái đói, cái chết để hướng đến sự sống. Bà cụ Tứ, một bà lão luôn nói đến chuyện tương lai, chuyện sung sướng về sau, nhen lên niềm hi vọng cho con. Đặc biệt là nhân vật Tràng, giữa cảnh chết đói, anh ta vẫn lấy vợ, vẫn nghĩ đến tương lai và hạnh phúc. Đúng như tác giả đã nói, đại ý: những người nghèo khổ, ngay bên cạnh cái chết, họ vẫn không ngừng tìm đến hạnh phúc.

3 – Trang 33 SGK

Dựa vào nội dung truyện, hãy giải thích nhan đề Vợ nhặt. Qua tình huống trong truyện, anh/chị hiểu gì về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói 1945?

Trả lời:

– Nhan đề Vợ nhặ t có nghĩa là “nhặt được vợ” (không phải cưới hỏi theo phong tục).

+ Vợ gợi lên thiên chức cao cả của người phụ nữ

Nhan đề vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn đói 1945, vừa bộc lộ sự cưu mang, đùm bọc và khát vọng hướng tới cuộc sống tốt hơn và niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng.

4 – Trang 33 SGK

Cảm nhận về niềm khát khao tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng, Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc như thế nào khi thể hiện niềm khát khao đó của nhân vật (lúc quyết định để người đàn bà theo về, trên đường về xóm ngụ cư, buổi sáng đầu tiên có vợ,…).

Trả lời:

Niềm khát khao tổ ấm gia đình, cũng là khát khao hạnh phúc của nhân vật Tràng là khát khao mãnh liệt dẫu rất thô sơ, chất phác, hồn nhiên. Khát vọng đó đã vượt qua cả những nỗi lo âu, sợ hãi và toan tính trước nạn đói và trước cái chết.

– Khi quyết định cho người đàn bà theo về, Tràng cũng liều lĩnh tặc lưỡi: “Chậc, kệ”, cái tặc lưỡi của Tràng vừa là sự ngộ nghĩnh đơn sơ vừa mang được một nội dung tư tưởng: đó là thái độ mạnh mẽ và dứt khoát, dẫu rất bản năng và hài hước của một người lao động khốn khổ trước hai sự lựa chọn: hạnh phúc và nạn đói.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối, “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và cảm giác êm dịu của một anh Tràng lần đầu tiên đi cạnh cô vợ mới.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn ” Hắn thấy bây giờ hắn mới nên người“. Tràng thấy trách nhiệm và biết gắn bó với tổ ấm gia đình.

5 – Trang 33 SGK

Phân tích tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ, qua đó anh chị hiểu gì về tấm lòng của bà mẹ nông dân này?

Trả lời: Tâm trạng buồn vui lẫn lộn của bà cụ Tứ:

– Khi thấy người đàn bà lạ ngồi ở đầu giường con trai hai lần chào mình bằng u bà thấy mắt nhoèn đi, bà im lặng vì quá ngạc nhiên, hoàn toàn không hiểu đầu đuôi câu chuyện.

– Khi đã hiểu chuyện, tâm trạng bà cụ vừa: mừng, vui, xót, tủi.

+ “Vừa ai oán, xừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”, thương con phải lấy vợ nhặt, nhờ cơn đói khát mới lấy được vợ.

+ Thấy tủi vì bản thân chưa làm tròn bổn phận của người mẹ lấy vợ cho con.

+ Thương và tủi cho vong linh chồng không biết mặt con dâu, không được chứng kiến ngày con trai lấy vợ

+ Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương”. Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: ” ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số với nhau, u cũng mừng lòn g”.

– Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng: ” Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem“.

6 – Trang 33 SGK

Anh chị hãy nhận xét về nghệ thuật viết truyện của Kim Lân (cách kể chuyện, cách dựng cảnh, đối thoại, nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữ…).

Trả lời:

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo

– Cách kể chuyện tự nhiên, lôi cuốn, hấp dẫn.

– Dựng cảnh chân thật, gây ấn tượng: cảnh chết đói, cảnh bữa cơm ngày đói…

– Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, tự nhiên, chân thật.

– Ngôn ngữ nhân vật phù hợp với tính cách và thực tế đời sống.

– Nghệ thuật trần thuật linh hoạt và sử dụng ngôn ngữ có tính tạo hình đặc sắc

Soạn bài Vợ nhặt phần Luyện tập

1 – Trang 33 SGK

Đoạn văn nào, chi tiết nào của tác phẩm gây xúc động và để lại ấn tượng sâu sắc nhất cho anh chị? Vì sao?

Gợi ý:

Học sinh suy nghĩ và tự trả lời câu hỏi này. Khi trả lời lí do yêu thích, cần bám sát và tôn trọng những cảm xúc của riêng mình; cũng có thể vận dụng những hiểu biết về giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.

Chi tiết gây xúc động với em là: Bà cụ Tứ đãi con dâu “chè khoán” nhưng thực chất là cám với sự xót xa “Xóm ta khối nhà còn chẳng có cám mà ăn đấy”.

– Điều này gợi lên cảnh khốn cùng, nghèo đói của giai đoạn đau thương của đất nước (nạn đói 1945)

– Ngày đón dâu đáng ra phải đủ đầy, nhưng cách đón dâu trong cảnh nghèo đói lại càng cho ta thêm thấm thía tình người đùm bọc lẫn nhau trong lúc khó khăn.

2 – Trang 33 SGK

Phân tích ý nghĩa của đoạn kết thiên truyện.

Trả lời:

Ý nghĩa của đoạn kết thiên truyện:

– Đoạn kết là diễn biến tất yếu của mâu thuẫn nội tại của câu chuyện: người dân đang bị lâm vào cảnh chết đói còn nghe tiếng trống thúc thu thuế của chính quyền. Vì vậy, nhân vật như Tràng đã nghĩ đến lá cờ Việt Minh.

+ Hình ảnh “đám người đói và lá cờ đỏ” hiện lên trong tâm trí Tràng đã gieo một hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng và gia đình anh, gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt rằng những con người khốn khổ sẽ có lá cờ đỏ kia dẫn đường.

+ Góp phần thể hiện tư tưởng nhân đạo của Kim Lân: trân trọng niềm khát vọng sống ngay bên bờ vực cái chết của người lao động nghèo; niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng.

– Đoạn kết còn thể hiện tư tưởng nhân đạo mới – nhân đạo cộng sản chủ nghĩa. Tư tưởng này không chỉ có thương xót, cảm thông với nạn nhân của chế độ xã hội, mà còn hướng tới việc để cho nạn nhân đấu tranh tự giải phóng mình. Đó cũng là quan điểm của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa (truyện được hoàn thành từ năm 1955, phân biệt với các tác phẩm hiện thực phê phán), theo đó các nhân vật, tính cách, hoàn cảnh… đều trong xu thế vận động đi lên, một sự vận động hướng tới tương lai tươi sáng hơn.

Soạn bài Vợ Nhặt tóm tắt ngắn gọn nhất

Có thể chia tác phẩm thành 4 đoạn:

– Đoạn 1: (từ đầu đến ” Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần “): cảnh Tràng dẫn vợ về nhà.

– Đoạn 2: (tiếp theo đến ” cùng đẩy xe bò về “): lí giải về việc Tràng nhặt được vợ.

– Đoạn 3: (tiếp theo đến ” nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng “): cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ và nàng dâu mới.

– Đoạn 4 (phần còn lại): buổi sáng hôm sau ở nhà Tràng.

Mạch truyện được dẫn dắt tự nhiên, khéo léo. Các cảnh được miêu tả trong truyện đều được xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ giữa những ngày đói kém khủng khiếp.

– Tình huống: gói gọn trong nhan đề tác phẩm Vợ nhặt. Tràng – thanh niên nông dân nghèo, xấu, ế vợ bỗng nhặt được vợ dễ dàng

+ Trong thời gian đói kém 1945, hơn hai triệu người chết đói, cái giá của con người rẻ rúng, người ta có thể nhặt được vợ dễ dàng

+ Khao khát hạnh phúc, tổ ấm, hi vọng vào ngày mai

– Bà cụ Tứ ngạc nhiên, lo lắng “biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói khát này không?”

+ Xóm ngụ cư ngạc nhiên, bàn tán

+ Tràng bất ngờ với hạnh phúc của mình, sáng hôm sau Tràng vẫn chưa hết bàng hoàng

– Nhan đề ” Vợ nhặt ” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm:

+ Nhặt: thường đi với những thứ thừa, không ra gì

+ Thân phận con người rẻ rúng như rơm, rác, có thể nhặt được ở bất cứ đâu

+ Người ta hỏi cưới vợ, còn Tràng thì “nhặt vợ”

Những phát hiện tinh tế và sâu sắc về niềm khát khao hạnh phúc gia đình của Tràng:

– Lúc quyết định lấy vợ: Thoạt đầu Tràng có chút phân vân, do dự. Nhưng rồi sau đó anh chàng đã tặc lưỡi “Chậc, kệ”.

– Khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư. Phút này, Tràng như đã thành một con người khác, phớn phở lạ thường, môi cười tủm tỉm, mắt sáng hẳn lên, mặt vênh vênh tự đắc, nhưng cũng có lúc cứ “lúng ta lúng túng” đi bên vợ. Nhưng chủ yếu vẫn là cảm giác mới mẻ khác lạ mơn man như một bàn tay vuốt nhẹ.

– Buổi sáng đầu tiên khi có vợ Tràng cảm thấy êm ả, lửng lơ, như người vừa trong giấc mơ đi ra, xung quanh mình có cái gì thay đổi mới mẻ khác lạ. Từ cảm giác sung sướng hạnh phúc Tràng ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình “bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với căn nhà của hắn lạ lùng”.

Tâm trạng bà cụ Tứ:

+ mừng, vui, xót, tủi, “ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”

+ Đối với con dâu: “lòng bà đầy xót thương” nén vào trong tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình

+ Mang hi vọng, lạc quan trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới “tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi”

→ Bà cụ Tứ hiện thân của con người nghèo khổ: bà nhìn thấu đau khổ của cuộc đời bà, bà lo cho thực tại bế tắc nhưng bà cũng vui trước hạnh phúc của con. Từ ngạc nhiên tới xót xa, trên hết là tình yêu thương. Cũng chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai, để các con có thêm động lực sống.

Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân:

– Cách tạo tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.

– Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện tự nhiên, gần gũi.

– Kết cấu truyện đặc sắc.

Truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân không chỉ miêu tả tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà còn thể hiện được bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của họ: ngay trên bờ vực của cái chết, họ vẫn hướng về sự sống, khát khao tổ ấm gia đình và thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Nội dung nhân đạo sâu sắc và cảm động đó được thể hiện qua một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí khá tinh tế, dựng đối thoại sinh động.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Vợ nhặt một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Soạn Bài: Vợ Nhặt (Kim Lân)

I. Tác giả & tác phẩm

1. Tác giả

Kim Lân (1920 – 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện TừSơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng.

Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962).

Kim Lân là cây bút chuyên viết về truyện ngắn.Ông thường viết về nông thôn và người nông dân. Ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ – những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng.

2. Tác phẩm

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu xí (1962).Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau Cách mạng tháng Tám, nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. Sau khi hòa bình lập lại (1954),ông dựa vào một phần cốt truyện cũ để viết truyện ngắn này.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Có thể chia tác phẩm thành bốn đoạn:

– Đoạn 1: (từ đầu đến “Thị vẫn ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần”): cảnh Tràng dẫn vợ về nhà.

– Đoạn 2: (tiếp theo đến “cùng đẩy xe bò về”): lí giải về việc Tràng nhặt được vợ.

– Đoạn 3: (tiếp theo đến “nước mắt cứ chảy xuống dòng dòng”): cuộc gặp gỡ giữa bà cụ Tứ và nàng dâu mới.

– Đoạn 4 (phần còn lại): buổi sáng hôm sau ở nhà Tràng.

Mạch truyện được dẫn dắt tự nhiên, khéo léo. Các cảnh được miêu tả trong truyện đều được xuất phát từ tình huống anh Tràng lấy được vợ giữa những ngày đói kém khủng khiếp.

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà, bởi:

– Một người nghèo túng, xấu xí, dân ngụ cư lại bỗng dưng lấy được vợ.

– Giữa lúc đói kém, người như Tràng đến thân mình còn không lo nổi lại đèo bòng vợ với con.

Sự ngạc nhiên của dân làng, của bà cụ Tứ, và của chính Tràng, tác giả đã sáng tạo được một tình huống truyện độc đáo: Đây là một tình huống oái oăm không biết nên vui hay nên buồn, không biết nên mừng hay nên lo. Mọi người đều có chung tâm trạng ấy, nhất là bà cụ Tứ: “Lòng ngưởi mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự. Bà mừng vì dù sao con mình cũng đã có vợ, một mặt lại tủi vì gặp phải đói khổ này người ta mới lấy đến con mình…”.

Tình huống éo le trên đã mở đầu cho sự phát triển của truyện và tác động đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật trong tác phẩm.

Câu 3 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm: “Nhặt” đi liền với những thứ không ra gì, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, hoàn cảnh nào. Nhưng “vợ” lại là sự trân trọng, người vợ có vị trí quan trọng trong gia đình. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn Tràng do nhặt nhạnh mà thành.

→ Qua hiện tượng “nhặt được vợ” của Tràng, tác giả làm nổi bật tình cảnh và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đồng thời qua đó, cũng bộc lộ sự yêu thương, đùm bọc, sức mạnh hướng tới cuộc sống, tổ ấm, niềm tin của con người trong hoàn cảnh khốn cùng.

Câu 4 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Niềm khát khao hạnh phúc gia đình được thể hiện hết sức chân thực và sâu sắc qua nhân vật Tràng.

– Lúc đầu khi có ý định đưa người đàn bà xa lạ về nhà, Tràng có chút phân vân, do dự: “Mới đầu chàng cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình còn chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”. Nhưng sau đó, chàng đã “tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!” rồi quyết định đưa người đàn bà về nhà.

→ Quyết định của Tràng thể hiện niềm khao khát hạnh phúc gia đình của người nông dân nghèo khổ đồng thời thể hiện giá trị nghệ thuật của tác phẩm: “Dù trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai”.

– Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”, “vênh vênh ra điều”. Trong phút chốc, Tràng quên đi tất cả tăm tối, “trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn và người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy”.

– Buổi sáng đầu tiên có vợ, Tràng biến đổi hẳn: “Hắn thấy bây giờ hắn nên người”. Tràng thấy có trách nhiệm và gắn bó với tổ ấm của mình: “Bỗng nhiên hắn cảm thấy yêu thương gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”.

→ Con người trở nên trưởng thành hơn với những yêu thương, ước mong gắn bó, xây đắp hạnh phúc gia đình.

Câu 5 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

– Tâm trạng tinh tế, phức tạp của bà cụ Tứ được sau khi Tràng có vợ được miêu tả hết sức sinh động, tinh tế. Từ chỗ ngạc nhiên đến lo lắng, day dứt, băn khoăn rồi xót thương và cuối cùng vui vẻ chấp nhận… tất cả thể hiện tấm lòng bao dung, nhân hậu của người mẹ nghèo.

– Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng: “tao tính khi nào có tiền thì mua lấy con gà về nuôi, chả mấy có đàn gà cho xem”. Bà là hiện thân của nỗi khổ con người. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của người con thông qua toàn bộ nỗi khổ của cuộc đời bà.

→ Hình ảnh, tâm trạng của bà cụ Tứ thể hiện chiều sâu tư tưởng của Kim Lân, là nhân vật điển hình của bà mẹ Việt Nam khốn khó, bất hạnh nhưng giàu tình yêu thương, nhân ái.

Câu 6 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Kim Lân:

– Cách tạo tình huống truyện độc đáo, tự nhiên, kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố hiện thực và nhân đạo.

– Bút pháp phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

– Nghệ thuật đối thoại, độc thoại nội tâm làm nổi rõ tâm lí của từng nhân vật.

– Ngôn ngữ kể chuyện phong phú, cách kể chuyện tự nhiên, gần gũi.

– Kết cấu truyện đặc sắc.

Luyện tập

Câu 1 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

Tác phẩm có nhiều chi tiết rất thật, hiện lên dưới nhiều góc độ phong phú, nhiều sắc độ tình cảm. Chọn chi tiết gây xúc động và để lại ấn tượng nhất để phân tích.

Câu 2 (trang 33 sgk Ngữ Văn 12 Tập 2):

– Hình ảnh đoàn người đi phá kho thóc của Nhật và hình ảnh lá cờ đỏ của Việt Minh phấp phới bay trong đầu óc của Tràng đã khép lại câu chuyện.

– Tác phẩm không chỉ gợi ra hình ảnh nạn đói năm 1945 mà còn mở ra hình ảnh của cách mạng Việt Nam trong năm ấy.

→ Đó là con đường tất yếu của người nông dân đi theo cách mạng. Hình ảnh lá cờ đỏ đã gây một ám ảnh lớn trong đầu Tràng, thôi thúc, giục giã, gieo niềm tin cho con người để sống, chiến đấu nỗi vất vả, khốn khó của mình.

→ Vợ nhặt không chỉ vẽ nên bức tranh cụ thể, sinh động về thảm cảnh của con người trong nạn đói năm 1945 mà còn là bài ca về niềm tin yêu vào cuộc sống. Tác phẩm không chỉ có giá trị tố cáo mạnh mẽ mà còn là tiếng lòng sẻ chia chân thành, cảm thông của nhà văn với số phận con người.

Comments