Soạn Văn 8: Viết Bài Tập Làm Văn Số 1

Soạn Văn 8: Viết bài tập làm văn số 1 – Văn tự sự

Soạn Văn lớp 8 Viết bài tập làm văn số 1

Soạn Văn Viết bài tập làm văn số 1 – Văn tự sự

gồm các bài văn mẫu tham khảo hay về đề tài: Kể về một việc em đã làm cho bố mẹ phiền lòng. Qua tài liệu này, các bạn sẽ biết cách miêu tả một người từ ngoại hình đến tính cách, hi vọng sẽ giúp các bạn có thêm nhiều ý tưởng và cách hành văn sáng tạo nhằm học tốt môn Văn lớp 8, đạt điểm cao trong bài viết văn số 1 lớp 8.

Soạn Văn: Viết bài tập làm văn số 1 – Văn tự sự Đề 1: Kể lại những kỉ niệm ngày đầu tiên đi học

Mở bài: Ngày đầu tiên đi học là một trong những kỉ niệm quý giá của cuộc đời mỗi người. Kỉ niệm đó trong em có sâu đậm như thế nào?

Thân bài:

– Tâm trạng em trước ngày đi học đầu tiên: Vui mừng xen lẫn lo lắng, hồi hộp.

– Cảm nhận về cảnh vật xung quanh: Bầu trời, cây cối, không khí khai trường (bố mẹ chuẩn bị sách vở, đường phố đông đúc…).

– Hình ảnh ngôi trường hiện ra dưới con mắt trẻ thơ hồn nhiên như thế nào? Cảm xúc của em khi lần đầu đứng trước ngôi trường với vị trí là một học sinh mới.

– Ngày đi học đầu tiên với bạn mới, thầy cô xa lạ mà thân thiện.

– Những hoạt động mà em thấy vô cùng thú vị: Đứng xếp hàng chào cờ, nghe thầy cô phát biểu, lòng rạo rực bồi hồi theo những tiếng trống, …

– Khi ngồi trong lớp học, môn đầu tiên em học là môn gì, kiến thức mới lạ,…

Kết bài: Tâm trạng em khi nhớ về ngày đầu tiên đi học. Điều ấn tượng nhất với em về ngày đó như thế nào?

Đề 2: Người ấy (bạn, thầy, người thân,…) sống mãi trong lòng tôi.

Mở bài: Dẫn dắt kể về người muốn kể.

Thân bài:

– Miêu tả:

+ Ngoại hình: Đường nét khuôn mặt, nụ cười, mái tóc, vóc dáng, trang phục,…

+ Tính cách: Đối xử với mọi người xung quanh, với gia đình, với bạn bè,…

– Một kỉ niệm ấn tượng nhất khiến người đó “sống mãi trong lòng tôi”.

– Cảm nhận về người ấy.

Kết bài: Cảm ơn người đã xuất hiện trong cuộc sống của tôi. Người ấy giữ một vị trí quan trọng nhường nào trong trái tim tôi.

Đề 3: Tôi thấy mình đã khôn lớn.

Mở bài: Một ngày tôi nhận ra sự trưởng thành của mình.

Thân bài:

– Bản thân khi đã lớn:

+ Vóc dáng, ngoại hình: Chiều cao, cân nặng, giọng nói, mụn ở mặt, tâm sinh lí,…

+ Tính cách, trí tuệ: Thay đổi, suy nghĩ, hành động bớt trẻ con, trưởng thành hơn.

– Những việc làm bất chợt nhận ra sự khác biệt khi còn trẻ con và khi đã lớn.

– Cảm nhận về việc đó có đáng vui không? Suy nghĩ của em như thế nào?

Kết bài: Nhận thức được hành động, việc làm khi khôn lớn với bản thân, gia đình, xã hội.

Soạn Bài: Lão Hạc – Ngữ Văn 8 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nam Cao trong SGK Ngữ văn 8 tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Lão Hạc là một trong những truyện ngắn xuất sắc viết về người nông dân của Nam Cao, được đăng báo lần đầu tiên vào năm 1943.

* Tóm tắt

Truyện kể về nhân vật Lão Hạc – một nông dân nghèo, vợ mất sớm, con trai lão vì không có tiền lấy vợ nên quẫn trí bỏ đi làm đồn điền cao su. Lão sống cô độc, nghèo khổ với một chú chó tên là cậu Vàng. Sau một trận ốm, lão không đủ sức làm thuê như trước, quá cùng đường, lão ra quyết định đau đớn là bán cậu Vàng. Sau khi bán chó xong, lão đem tiền và mảnh vườn gửi ông giáo – một người trí thức nghèo hay sang nhà lão chơi để lo trước tiền ma chay khi lão mất. Lão nói dối Binh Tư làm nghề trộm chó rằng xin bả chó bắt con chó hay vào vườn nhưng thực ra là tự kết liễu đời mình. Và lão Hạc đã chết trong dữ dội, trong quằn quại, không ai hiểu nguyên nhân ngoại trừ Binh Tư và ông giáo.

* Bố cục:

Văn bản Lão Hạc có thể được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại : Cái chết đau đớn của lão Hạc.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1: Diễn biến tâm lí của lão Hạc xung quanh chuyện bán chó:

Mối quan hệ: cậu Vàng vừa là kỉ vật của con trai lão để lại, vừa là người bạn trung thành trong cuộc sống cô độc, quạnh hiu của lão.

Lão đau khổ khi cùng đường phải bán cậu Vàng : “Lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậc nước… Lão hu hu khóc”, lão đau đớn cùng cực, nghẹn ngào, giày xéo vì “đã trót đánh lừa một con chó”

Câu 2:

* Nguyên nhân cái chết của lão Hạc: túng quẫn, tuyệt vọng sau trận ốm, bán cậu Vàng cũng là mất đi người bạn thân thiết, cảm giác tội lỗi vì trót lừa một con chó, không đợi được con trai về. Có thể nói, lão Hạc chết vì lòng tự trọng, vì tình thương và vì lão quá đỗi lương thiện.

* Qua những điều lão Hạc thu xếp nhờ cậy ông giáo rồi sau đó tìm đến cái chết, em thấy tình cảnh của lão thật éo le, đáng thương, nhưng lão vẫn không muốn nhờ vả, liên lụy đến mọi người xung quanh. Đây là một con người có lòng tự trọng rất cao, hiền hậu, khiêm cung trong cử chỉ, tinh tế, hiểu đời, hiểu người nhưng lại bất lực. Là người cha yêu thương con vô bờ, là một ông lão giàu tình cảm và lương thiện.

Câu 3:

Thái độ, tình cảm của nhân vật “tôi” đối với nhân vật lão Hạc có sự thay đổi. Ban đầu, nhân vật “tôi” vẫn còn thờ ơ, dửng dưng nghe lão kể chuyện bán chó. Sau đó thấu hiểu và an ủi lão. Khi chứng kiến cái chết của lão Hạc, nhân vật “tôi” đã rất thương cảm và kính trọng nhân cách, tấm lòng nhân hậu của lão.

Câu 4:

Khi nghe Binh Tư cho biết lão Hạc xin bả chó đế định bắt một con chó hàng xóm thì “ông giáo” cảm thấy “cuộc đời quả thật… đáng buồn”. Nhưng khi chứng kiến cái chết đau đớn của lão Hạc, “tôi” lại nghĩ: “Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác”.

Ban đầu, khi nghe Binh Tư nói, ông giáo cảm thấy buồn vì sự tha hóa nhân cách con người, thất vọng vì ông cảm thấy lão Hạc đã thực sự đánh mất sự lương thiện bấy lâu nay.

Nhưng khi chứng kiến cảnh lão Hạc chết, ông giáo thấy “cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn” vì niềm tin, niềm hi vọng vào xã hội vẫn còn bởi vẫn còn những con người dù nghèo khổ nhưng vẫn giữ được bản chất lương thiện. “Đáng buồn theo một nghĩa khác”, đây là một dấu chấm lặng, cuộc đời vẫn đáng buồn vì số phận hẩm hiu, bất hạnh của những con người lương thiện, buồn vì cái chết đau đớn, dữ dội mà một con người như lão Hạc đang phải chịu.

Câu 5:

* Theo em, cái hay của truyện được thể hiện rõ nhất ở việc miêu tả tâm lí nhân vật và cách kể chuyện của nhà văn.

* Việc tạo dựng tình huống truyện bất ngờ có tác dụng làm sáng tỏ nhân cách của lão Hạc trong người đọc và trong những nhân vật khác trong truyện.

* Cách xây dựng nhân vật rất chân thực và sinh động từ ngoại hình cho đến nội tâm sâu sắc.

* Việc truyện được kể bằng lời của nhân vật “tôi” có tác dụng tạo sự gần gũi, thân thuộc. Nhân vật “tôi” kể mà như nhập vào lão Hạc, mọi thứ cảm xúc bộc lộ rất chân thật và sâu sắc.

Câu 6:

Đoạn văn: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bí ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn ; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương ; không bao giờ ta thương… Cái bản tính tốt của người ta bị những nỗi lo lắng, buồn đau, ích kỉ che lấp mất”.

Qua đoạn văn trên, ta thấy ý nghĩ của nhân vật “tôi” thật triết lí, nó nêu lên bài học về cách nhìn người, nhìn đời và cách ứng xử trong cuộc sống. Hơn thế nữa, ý nghĩ này còn thể hiện nhân vật “tôi” (tác giả) có lòng thương người, biết đồng cảm, thấu hiểu với hoàn cảnh, với số phận của người khác.

Câu 7:

Qua đoạn trích Tức nước vỡ bờ và Lão Hạc, em thấy cuộc sống của người nông dân trong xã hội cũ thật khổ cực, bất hạnh, bị xã hội chèn ép, áp bức, bất công. Mặc dù vậy, phẩm chất của người nông dân vẫn rất cao đẹp, giàu tình thương, không bị hòa hòa trộn trong dòng nước vẩn đục của xã hội phong kiến.

4.4

/

5

(

7

bình chọn

)

Soạn Văn 8 Vnen Bài 1: Tôi Đi Học

Soạn văn 8 VNEN Bài 1: Tôi đi học A. Hoạt động khởi động

(trang 3, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc câu văn sau (trong văn bản Tôi đi học) và trả lời câu hỏi:

Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài vườn rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man buổi tựu trường.

Trả lời:

– Câu văn trên gợi cho em những cảm xúc mơn man, náo nức, xao xuyến và đáng nhớ của buổi tựu trường đầu tiên.

– Chia sẻ những ấn tượng, kỉ niệm về một ngày tựu trường của mình:

Trong cuộc đời mỗi người, chắc sẽ chẳng ai quên kỉ niệm ngày đầu tiên đi học. Tôi vẫn nhớ như in, đó là một ngày thu tháng Chín, tôi dậy rất sớm chuẩn bị mọi thứ, rồi bẽn lẽn ngồi nép sau lưng mẹ, đi tới trường mà lòng đầy háo hức. Điều đầu tiên khiến tôi ấn tượng là cánh cổng trường sừng sững, mở rộng đón chào học sinh chúng tôi. Giữa sân trường, trong bộ đồng phục mới còn thẳng nếp là và chiếc khăn quàng đỏ thắm, các anh chị khóa trên tươi cười, vui vẻ. Lúc ấy, tôi ước mình tự tin như thế, vui tươi như thế trong buổi khai trường đầu tiền này, nhưng thực sự tôi không làm được. Mẹ phải dắt tay tôi đi lên dãy lớp Một. Cô Minh chủ nhiệm bước tới, nở nụ cười hiền dịu đón tôi vào lớp cùng các bạn. Lúc ấy tôi mới biết, trong lớp, bạn nhỏ nào cũng hồi hộp, lo lắng giống như tôi vậy. Cả sân trường bỗng trở nên im ắng như để lắng nghe cô giáo giảng bài, nghe chúng tôi đọc bài. Cái lo sợ và hồi hộp trong tôi chẳng hiểu đã biến mất từ khi nào. Cho tới bây giờ, những thanh âm đều đặn, trong trẻo đó vẫn còn vang vọng trong trái tim tôi, khó có thể phai mờ.

B. Hoạt động hình thành kiến thức

1.(trang 3,4, 5, 6 Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản sau: Tôi đi học

2. (trang 6, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Tìm hiểu văn bản:

a. Điều gì đã gợi nhắc nhân vật tôi nhớ về kỉ niệm của buổi tựu trường đầu tiên? Những kỉ niệm này của nhân vật ” tôi” được diễn tả theo trình tự như thế nào?

b. Tìm những chi tiết hình ảnh thể hiện sự thay đổi tâm trạng của nhân vật:” tôi” theo diễn biến của ngày đầu tiên đi học đó.

c. Nhận xét về thái độ, cử chỉ của những người lớn( ông đốc, thầy giáo đón học trò mới, các phụ huynh) đối với các em bé lần đầu tiên đi học. Từ tâm trạng và thái độ, cử chỉ của các nhân vật trong truyện, nêu cảm nhận về ý nghĩa của ngày đầu tiên đi học trong cuộc đời mỗi người.

d. Chỉ ra và nêu ý nghĩa của một sô hình ảnh so sánh trong tác phẩm.

e. Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn này ( nghệ thuật tự sự, miêu tả, biểu cảm)

Trả lời:

a. – Điều đã gợi nhắc nhân vật tôi nhớ về kỉ niệm của buổi tựu trường đầu tiên là: thời tiết cuối thu, lá rụng ngoài đường nhiều, trên không có những đám mây bàng bạc

– Kỉ niệm được diễn tả theo trình tự thời gian:

+ Từ hiện tại hồi tưởng về quá khứ: tiết trời cuối thu, hình ảnh em nhỏ tới trường

+ Dòng hồi tưởng của nhân vật “tôi” về con đường cùng mẹ tới trường

+ Cảm giác nhân vật “tôi” khi nhìn thấy ngôi trường trong ngày khai giảng

+ Tâm trạng hồi hộp của nhân vật “tôi” khi vào ngồi vào chỗ của mình trong giờ học đầu tiên.

b. Những chi tiết hình ảnh thể hiện sự thay đổi tâm trạng của nhân vật:” tôi” theo diễn biến của ngày đầu tiên đi học:

* Khi trên con đường làng:

+ “Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”.

+ “Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”.

+ “Trong chiếc áo vải … và đứng đắn”.

→ Cảnh vật, con đường quen thuộc bỗng nhiên trở nên lạ, nhân vật “tôi” cảm thấy có sự thay đổi trong lòng mình. Tâm hồn của một cậu bé cảm nhận được những điều mới mẻ, lạ lẫm và cũng rất đỗi thiêng liêng trong ngày đầu tiên đi học.

* Khi cùng mẹ đi trên đường tới trường :

+ “Trước mắt tôi trường Mĩ Lí… làng Hòa Ấn”. ”Sân nó rộng … vẩn vơ”.

→ Tác giả đã diễn tả rất tinh tế tâm trạng ngỡ ngàng cùng cảm giác rụt rè, nhút nhát của nhân vật trước những mới lạ về ngôi trường.

* Khi nghe gọi tên mình và phải rời tay mẹ vào lớp:

+ “Trong lúc ông đọc…lúng túng”.

+ “Tôi cảm thấy … đẩy tôi tới trước”. “Nhưng người tôi … một cách lạ”. “Quay lưng…nức nở khóc”. “Trong thời thơ ấu … như lần này”.

→ Tác giả đã diễn tả đúng tâm trạng lo sợ, sự lúng túng, hồi hộp rất tự nhiên, trong sáng của “tôi” trong buổi tựu trường đầu tiên.

* Khi ngồi trong lớp đón giờ học đầu tiên:

+ “Một mùi hương lạ xông lên, …là lạ và hay hay”.

+ “Nhìn bàn ghế … vật của riêng mình”.

+ “Người bạn tôi chưa hề quen … xa lạ chút nào”.

+ ” Tôi đưa mắt …cánh chim…”.

c. Thái độ, cử chỉ của những người lớn(ông đốc, thầy giáo đón học trò mới, các phụ huynh) đối với các em bé lần đầu tiên đi học:

– Thái độ, cử chỉ của ông đốc:

+ Nhìn học trò hiền từ, căn dặn nhẹ nhàng

+ Nhẫn nại chờ đợi, giàu lòng yêu trẻ

– Thầy giáo trẻ tươi cười, niềm nở, đón học sinh vào lớp

– Các bậc phụ huynh chuẩn bị kỹ lưỡng cho con, đưa con tới trường, lưu luyến khi con vào lớp học.

* Ý nghĩa của ngày đầu tiên đi học trong cuộc đời mỗi người:

Ngày đầu tiên đi học là một ngày vô cùng quan trọng và ý nghĩa trong cuộc đời mỗi người. Đó là lúc những đứa trẻ rời xa vòng tay che chở của cha mẹ để đến trường, tiếp thu những tri thức mới cho cuộc sống. Đồng thời, trường học còn là nơi giúp các con gặp gỡ thầy cô, bè bạn, được rèn luyện toàn diện để khôn lớn bước vào đời. Ngày đầu đi học sẽ giống như một bước ngoặt lớn trong cuộc đời mỗi con người, đánh dấu sự trưởng thành, tự lập và bước đến một chân trời tri thức mới đối với mỗi người.

d. Một số hình ảnh so sánh trong tác phẩm:

– “Tôi quên thế nào được cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi … giữa bầu trời quang đãng”

– “Ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí óc tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang”

– “Trước mắt tôi sân trường làng Mĩ Lí trông vừa xinh xắn, oai nghiêm… đình làng Hòa Ấp”

– ” Họ như những con chim con đứng bên bờ tổ…còn ngập ngừng e sợ”

– “Họ thèm vụng và ước ao thầm… phải rụt rè trong cảnh lạ”

– “Nói các cậu…quả banh tưởng tượng”

e. Nhận xét về đặc sắc nghệ thuật của truyện ngắn này (nghệ thuật tự sự, miêu tả, biểu cảm)

Truyện ngắn mang những đặc sắc về nghệ thuật, đặc biệt là có sự kết hợp của yếu tố tự sự, miêu tả với biểu cảm:

– Yếu tố tự sự:

+ Bố cục của truyện được viết theo dòng hồi tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình theo dòng thời gian của buổi tựu trường đầu tiên trong cuộc đời.

+ Tác phẩm có được sức hút nhờ tình huống truyện tự nhiên, mượt mà và hợp lí.

+ Bố cục của truyện được viết theo dòng hồi tưởng, cảm xúc của nhân vật trữ tình theo dòng thời gian của buổi tựu trường đầu tiên trong cuộc đời.

– Yếu tố miêu tả

+ Hình ảnh thiên nhiên, khung cảnh ngôi trường và cách so sánh gợi hình, gợi cảm

+ Miêu tả tâm trạng nhân vật tinh tế sâu sắc

– Yếu tố biểu cảm:

+ Tác giả thể hiện được những tình cảm ấm áp, trìu mến của người lớn đối với các em nhỏ trong ngày khai trường đầu tiên

+ Những cảm xúc của nhân vật “tôi” vừa trong sáng, tự nhiên, lại rất sâu sắc, mang dư âm.

Đọc lại văn bản Tôi đi học và thực hiện các yêu cầu sau:

a. Nhân vật tôi nhớ lại những kỉ niệm sâu sắc nào trong thời thơ ấu của mình? Sự hồi tưởng ấy gợi lên những ấn tượng gì?

* Nhan đề của văn bản

* Quan hệ giữa các phần của văn bản

* Các từ ngữ các câu thể hiện tâm trạng của nhân vật” tôi” trong buổi tựu trường đầu tiên

Trả lời:

a. Tác giả nhớ lại những kỉ niệm háo hức, trong sáng và cũng rất sâu sắc về buổi tựu trường đầu tiên trong đời. Dòng hồi tưởng được sắp xép theo trình tự: Cảm nhận, tâm trạng của nhân vật “tôi” khi ở trên đường theo mẹ đến trường, khi ở trường, xếp hàng, được gọi tên vào lớp và khi ngồi trong lớp học bài học đầu tiên cùng những người bạn mới.

Sự hồi tưởng ấy có tác dụng gợi lên những ấn tượng, kỉ niệm sâu sắc về ngày đầu tiên đi học cho mỗi người. Những cảm xúc đó bắt đầu từ cảm xúc náo nức của chính tác giả khi nhớ lại buổi đầu tiên đi học của mình. Khi hồi tưởng, dường như trong lòng tác giả đang thực sự sống lại những tâm trạng khi thơ ấu: Hồi hộp, đôi lúc thấy sợ sệt, rụt rè, cảm giác bỡ ngỡ vừa quen vừa lạ và sau đó cảm thấy mình như lớn hẳn lên.

Quan hệ giữa các phần của văn bản: theo trình tự của thời gian và cảm xúc, chặt chẽ và liên kết với nhau.

Các từ ngữ, câu văn: Tập trung thể hiện tâm trạng, cảm giác của nhân vật “tôi” trong buổi tựu trường đầu tiên

d. Từ đó rút ra một số kết luận:

– Chủ đề là đối tượng và vấn đề chính mà văn bản biểu đạt.

C. Hoạt động luyện tập

1. (trang 7, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Viết đoạn văn hoặc trình bày trước lớp cảm nhận của em về dòng cảm xúc của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Tôi đi học.

Trả lời:

Truyện ngắn Tôi đi học của nhà văn Thanh Tịnh in trong tập Quê mẹ, xuất bản năm 1941. Bằng cách kể chuyện kết với yếu tố miêu tả và biểu cảm đặc sắc, tác giả đã mang đến cho bạn đọc những dòng cảm xúc chân thật và tự nhiên của nhân vật “tôi”, về những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường ba mươi năm về trước. Tác nhân gợi nhớ đến ngày tựu trường đầu tiên ấy chính là khung cảnh thiên nhiên mùa thu: “Hằng năm, cứ vào cuối thư, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường” . Cảnh vật đẹp và thơ mộng ấy đã khơi gợi dòng hồi tưởng; và những chuyển biến của đất trời làm cho tác giả nhớ về dĩ vãng xa xôi. Sau mấy chục năm, tác giả – là cậu bé ngày xưa vẫn nhớ như in: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp” . Dòng hồi tưởng của tác giả được thể hiện theo trình tự thời gian. Sự phát triển của tâm trạng nhân vật song song với các sự kiện đáng nhớ của ngày đầu tiên đi học. Từ cảnh cậu bé được mẹ âu yếm dắt tay dẫn đi trên con đường tới trường, đến cảnh cậu say mê nhìn ngắm ngôi trường; cảnh hồi hộp nghe thầy gọi tên, lo lắng khi phải rời tay mẹ để cùng các bạn vào lớp nhận chỗ của mình và học giờ học đầu tiên; rồi lại thấy vừa lạ vừa quen với khung cảnh lớp học và những người bạn mới quen. Sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp tự sự, miêu tả và những cảm xúc chân thành, tự nhiên đã tạo nên tính trữ tình đậm đà của thiên tự truyện. Dù cảm xúc rất nhẹ nhàng, cách thể hiện tự nhiên nhưng chính những rung động tinh tế ấy của tác giả đã khiến người đọc không khỏi bồi hồi. Ta như sống lại những rung động, bâng khuâng của buổi tựu trường đầu đời, và Thanh Tịnh như đang nói hộ nỗi lòng của mỗi chúng ta. Buổi tựu trường đầu tiên – đó sẽ mãi là những kỉ niệm mà cả cuộc đời khó có thể phai mờ.

2. (trang 7, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Đọc văn bản sau và thực hiện yêu cầu: Rừng cọ quê tôi

a. Văn bản trên về đối tượng nào? Đối tượng này được trình bày theo trình tự nào trong các đoạn văn trên? Theo em có thể thay đổi được trình tự trong đoạn văn này không, vì sao?

c. Chủ đề của văn bản được thể hiện ở việc miêu tả rừng cọ đến cuộc sống của người dân. Hãy chứng minh điều đó.

Trả lời:

a.Vấn đề: Sự gắn bó giữa cuộc sống người dân sông Thao với rừng cọ.

* Trình tự trình bày đối tượng và vấn đề: Từ khái quát đến tả hình dáng chi tiết, rồi sau đó là kỉ niệm gắn bó, cuộc sống quê gắn với cây cọ, nỗi nhớ. Cụ thể như sau:

– Nêu khái quát về vẻ đẹp của rừng cọ

+ Rừng cọ trập trùng

– Miêu tả hình dáng cây cọ (thân, lá)

+ Thân cọ, búp cọ, cây non, lá cọ.

– Kỉ niệm gắn bó với cây cọ

+ Căn nhà núp dưới lá cọ

+ Trường học khuất trong rừng cọ

+ Đi trong rừng cọ

– Cuộc sống ở quê gắn bó với cây cọ

– Khẳng định nỗi nhớ về cây cọ

* Trình tự sắp xếp đã rất chặt chẽ và thống nhất, rất khó thay đổi được nó.

b, Chủ đề văn bản Rừng cọ quê tôi là: Sự gắn bó của rừng cọ với cuộc sống của người dân sông Thao.

c, Chủ đề ấy được thể hiện trong toàn bộ văn bản, từ việc miêu tả rừng cọ đến cuộc sống của người dân.

Chứng minh: Điều này thể hiện rõ nét trong cấu trúc 3 phần của văn bản:

Đoạn 1 : Miêu tả bộ phận của cây cọ

Đoạn 2 : Sự gắn bó cây cọ vs người dân

Đoạn 3 : Lợi ích cây cọ

“Chẳng có nơi nào đẹp như sông Thao quê tôi, rừng cọ trập trùng”

“Cuộc sống quê tôi gắn bó với cây cọ”

“Người sông Thao đi đâu rồi cũng nhớ về rừng cọ quê mình”.

3. (trang 8, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Để phân tích dòng cảm xúc thiết tha, trong trẻo của nhân vật “tôi” trong văn bản Tôi đi học, có bạn dự định triển khai những ý sau:

a) Cứ mùa thu về, mỗi lần thấy các em nhỏ núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại náo nức, rộn rã, xốn xang

b) Con đường đến trường trở nên lạ

c) Mẹ nắm tay dẫn đến trường

d) Muốn thử cố gắng tự mang sách vở như một cậu học trò thật sự

e) Sân trường rộng, ngôi trường cao hơn

g) Sợ hãi, lúng túng trong hàng người bước vào lớp

h) Ông đốc và thầy giáo trẻ trìu mến đón tiếp học trò

Trả lời:

(b) Con đường đến trường vốn quen thuộc hàng ngày “đi lại lắm lần” nhưng “tôi” bỗng cảm thấy lạ, cảnh vật hình như cũng có nhiều đổi thay.

(e) “Tôi” cảm thấy sân trường như rộng hơn, ngôi trường như cao hơn.

Hoặc: “Tôi” cảm thấy gần gũi, thân thương đối với lớp học, với những người bạn mới.

(h) “Tôi” thấy gần gũi, mến yêu lớp học, thầy giáo và các bạn.

D. Hoạt động vận dụng

1. (trang 8, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Viết bài văn ngắn (khoảng 300 chữ) ghi lại ấn tượng của em trong ngày tựu trường mà em nhớ nhất.

Trả lời:

“Cứ mỗi độ thu sang

Hoa cúc lại nở vàng

Ngoài vườn hương thơm ngát

Ong bướm bay rộn ràng

Em cắp sách đến trường…”.

Mỗi lần đọc lại những vần thơ trong sáng ấy, lòng tôi lại xôn xao khó tả khi nhớ lại những kỉ niệm mơn man, náo nức của buổi tựu trường đầu tiên. Giống hệt như Thanh Tịnh từng viết: “Hằng năm, cứ vào cuối thư, khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường” . Tôi quên làm sao được cái buổi ban mai, tôi được mẹ nắm tay dắt đi trên con đường làng có hai hàng cây xanh thẳng tắp, dẫn đến ngôi trường với mái ngói đỏ tươi. Khung cảnh trường học hôm ấy, thực sự lạ lẫm đối với tôi. Những cây bàng và cây phượng đứng sừng sững trên cái sân rộng và sạch đẹp. Trên sân trường, những anh chị lớp lớn đang tung tăng chạy nhảy, vui tươi xúng xính trong những bộ đồng phục mới còn thẳng nếp là. Chao ôi! Vào thời khắc cô giáo đưa cánh tay vẫy nhẹ dịu dàng trước cửa lớp, tôi chỉ ước mình cũng vui cười như các anh chị, ước mình không muốn chảy nước mắt, lo lắng nhìn bạn bên cạnh đang khóc thút thít, và cũng không để mẹ phải gỡ bàn tay tôi đang ghì chặt vì lo sợ vẩn vơ. Thế nhưng, tất cả những lo lắng, hồi hộp trong tôi khi nhìn ra ngoài sân, mẹ và các phụ huynh đang chào nhau vui vẻ ra về, khi vào lớp với không gian rộng mở, nhận chỗ ngồi và sự bẽn lẽn khi cúi chào người bạn mới dường như tan biến hết khi giọng đọc vâng, ấm áp của cô giáo cất lên. Và buổi học đầu tiên đã bắt đầu ngọt nào như thế …

Trả lời:

+ Chủ đề: Kể về ngày đầu tiên đi học của mình.

+ Tính thống nhất thể hiện qua trình tự kể:

– Câu chuyện được kể theo trình tự thời gian: Khi được mẹ đưa đến trường, tâm trạng của bản thân và các bạn khi vào lớp, buổi học đầu tiên bắt đầu.

– Không gian có sự phù hợp với thời gian và các sự kiện được kể.

E. Hoạt động tìm tòi mở rộng

(trang 8, Ngữ Văn 8 VNEN, Tập 1) Sưu tầm những bài viết hay về ngày khai trường và tìm hiểu tính thống nhất về chủ để của bài viết.

Trả lời:

– Văn bản “Cổng trường mở ra” – tác giả Lí Lan, được trích dẫn trong chương trình Ngữ văn 7, tập I.

– Bài viết “Ngày khai trường” – tác giả Edmondo De Amicis, được trích dẫn trong cuốn Tâm Hồn Cao Thượng, Hà Mai Anh dịch

Ghi chú:

Học sinh tự đọc các bài viết và tìm hiểu tính thống nhất về chủ để của các bài viết đó.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Loạt bài Soạn văn 8 VNEN ngắn nhất của chúng tôi được biên soạn bám sát nội dung sách Hướng dẫn học Ngữ văn 8 Tập 1, Tập 2 chương trình mới.

Soạn Bài: Bài Toán Dân Số – Ngữ Văn 8 Tập 1

I. Tóm tắt

Bài toán dân số vốn là một vấn đề không mới. Tác giả đã nêu lên câu chuyện kén rể của nhà thông thái từ một bài toán cổ trên 1 bàn cờ tướng 64 ô. Theo đó thì từ khi khai thiên lập địa cho đến năm 1995, dân số thế giới đạt đến ô thứ 30 với điều kiện mỗi gia đình chỉ có 2 con. Trong thực tế 1 phụ nữ có thể sinh nhiều con. Nếu tính theo bài toán cổ thì số dân đã mon men sang ô thứ 34 của bàn cờ. Cuối cùng tác giả báo động về con đường “tồn tại hay không tồn tại” của loài người khi mà mỗi con người trên Trái Đất này chỉ còn diện tích là 1 hạt thóc.

II. Bố cục

Văn bản Bài toán dân số có thể được chia làm 3 đoạn:

Đoạn 3: còn lại : kêu gọi loài người hạn chế gia tăng dân số.

III. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Bố cục của văn bản như trên.

Câu 2:

* Vấn đề chính mà tác giả muốn đặt ra trong văn bản là: sự gia tăng dân số với tốc độ chóng mặt, con người cần hạn chế gia tăng dân số để có thể tồn tại.

* Điều đã làm tác giả “sáng mắt ra” là sự gia tăng dân số trong thời buổi nay đã được đặt trong một bài toán cổ đại.

Câu 3:

* Câu chuyện kén rể của nhà thông thái:

Làm nổi bật vấn đề gia tăng dân số, tạo sức hấp dẫn cho bài viết.

Nhấn mạnh vấn đề gia tăng dân số có từ thời cổ đại còn tồn tại tới thời hiện đại.

Tốc độ gia tăng dân số kinh khủng bằng hình ảnh số thóc khổng lồ “có thể phủ kín bề mặt trái đất”

Câu 4:

* Việc đưa ra những con số về tỷ lệ sinh con của phụ nữ ở một số nước theo thông báo của Hội nghị Cai-rô nhằm mục đích:

Thông báo rằng những nước chậm phát triển có tỷ lệ gia tăng dân số mạnh (phụ nữ các nước này sinh nhiều con).

Sự gia tăng dân số tỉ lệ nghịch với tốc độ phát triển kinh tế.

Mối quan hệ mật thiết giữa tốc độ gia tăng dân số với tốc độ phát triển kinh tế.

Đời sống xã hội kém dẫn đến tình trạng gia tăng dân số tăng vọt.

* Những nước thuộc châu Phi: Nê-pan, Ru-an-da, Tan-da-ni-a, Ma-đa-gát-xca. Những nước châu Á: Ấn Độ và Việt Nam.

* Những nước châu Phi, châu Á có tỉ lệ gia tăng dân số cao, nhưng nền kinh tế phát triển chậm và còn nhiều nước nghèo.

Câu 5:

Văn bản này mang đến cho chúng ta những hiểu biết về tình trạng gia tăng dân số đáng báo động trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, để từ đó, mỗi chúng ta có ý thức hơn và có những hành động thiết thực nhằm đẩy lùi tình trạng gia tăng dân số.

4.5

/

5

(

4

bình chọn

)

Soạn Văn Lớp 8 Bài Bố Cục Của Văn Bản Ngữ Văn 8 Tập 1

Văn bản trên có 3 phần: – Mở bài (từ đầu đến “danh lợi”): giới thiệu khái quát về nhân vật Chu Văn An.

I/BỐ CỤC CỦA VĂN BẢN

1. Văn bản trên có 3 phần:

– Mở bài (từ đầu đến “danh lợi”): giới thiệu khái quát về nhân vật Chu Văn An.

– Thân bài (“Học trò theo ông” đến “không cho vào thăm.”): những biểu hiện chứng tỏ “đạo cao đức trọng” của thầy Chu Văn An.

– Kết bài (“Khi ông mất” đến hết): tình cảm của người đời dành cho Chu Văn An khi ông mất.

2.

– Phần MB: “Ông Chu Văn An đời Trần nổi tiếng là một thầy giáo giỏi, tính tình cứng cỏi, không màng danh lợi”. Giới thiệu nhân vật và nội dung câu chuyện sẽ kể.

– Phần TB: kể diễn biến câu chuyện về ông Chu Văn An dạy học. Thái độ của ông đối với vua Dụ Tông, can ngăn không được, ông trả mũ áo từ quan. Học trò của ông từ người làm quan to đến thường đều nể sợ ông.

– Phần KB: nêu hai câu nhận định, đánh giá về ông khi ông mất. “Khi ông mất mọi người đều thương tiếc. Ông được thờ tại Văn Miếu ở kinh đô Thăng Long”.

3.

Quan hệ giữa các phần trong văn bản theo kiểu bố cục này có thể phân tích như sau :

– Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó là thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung, hoàn chỉnh về hình thức. Vì vậy mối quan hệ giữa các phần trong văn bản phải chặt chẽ, thống nhất.

4. Bố cục của văn bản gồm 3 phần

Nhiệm vụ của từng phần trong văn bản:

– Phần mở bài : giới thiệu nội dung, thu hút sự chú ý của người đọc.

– Phần thân bài : phát triển và giải quyết một cách cụ thể vấn đề đã nêu ở phần mở bài, duy trì sự chú ý của người đọc.

– Phần kết bài : tóm tắt kết luận và đáp ứng sự chờ đợi của người đọc.

II.CÁCH BỐ TRÍ, SẮP XẾP NỘI DUNG PHẦN THÂN BÀI CỦA VĂN BẢN

1. Phần thân bài của văn bản “Tôi đi học” của Thanh Tịnh được sắp xếp dựa trên cơ sở là hồi kí : nhớ lại các sự việc, tình tiết diễn ra vào buổi đầu đi học.

2. Văn bản Trong lòng mẹ của Nguyên Hồng chủ yếu trình bày diễn biến tâm trạng của cậu bé Hồng.

– Đó là cậu bé rất thương mẹ, dù bà cô có dùng lời xúc xiểm nói xấu mẹ.

– Điểm diễn tả đặc sắc, đầy ấn tượng của nhà văn là kể lại qua trí nhớ khi chú bé gặp lại mẹ. (Niềm sung sướng cực độ khi được nằm trong lòng mẹ, được mẹ vuốt ve, âu yếm…)

3. Tuỳ theo từng đối tượng và mục đích miêu tả, người ta có thể miêu tả theo trình tự từ khái quát đến cụ thể hoặc ngược lại. Một số cách sắp xếp trình tự miêu tả thường gặp:

– Tả người: Tả từ ngoại hình đến suy nghĩ, tình cảm, tính cách hoặc ngược lại; Có thể bắt đầu việc miêu tả bằng cách kể tiểu sử (lai lịch, tuổi tác, nghề nghiệp, địa vị xã hội,…) rồi đến khắc hoạ chân dung, tính cách,…;

– Tả vật, con vật: tả từ đặc điểm chung, khái quát đến đặc điểm riêng của từng phần, từng bộ phận;

– Tả cảnh vật: tả từ khái quát đến cụ thể, từ xa đến gần, từ cao đến thấp hoặc ngược lại; cũng có thể tả lần lượt từng khía cạnh của cảnh vật: âm thanh, ánh sáng, màu sắc, đường nét,…

4. Phần thân bài trong bài văn Người thầy đạo cao đức trọng trình bày các ý làm sáng tỏ luận đề trên, các ý này được sắp xếp theo trình tự nhất định.

Phân tích trình bày làm sáng tỏ luận đề “Chu Văn An là người thầy đạo cao đức trọng”.

Ta thấy phần thân bài lần lượt trình bày bề con người của ông:

– Học trò theo học rất đông

– Nhiều người đỗ cao.

– Vì thế ông được nhà vua “vời ông ra dạy thái tử học”.

– Nhưng đến đời Dụng Tông “vua thích vui chơi, không coi sóc việc triều đình, lại tinh dùng bọn nịnh thần”. Nhiều lần ông can ngăn, nhà vua không nghe nên ông trả mũ áo từ quan về làng…

Việc trình bày phần này đã nêu ra những luận cứ “người thầy giỏi, người tôi trung thành, có đạo đức” để làm sáng tỏ và chứng minh cho luận điểm “Chu Văn An là người thầy đạo cao đức trọng”.

5.

– Người ta thường sắp xếp nội dung phần Thân bài của văn bản theo 1 số cách sau: (không gian – thời gian, khái quát – cụ thể, mạch phát triển của vấn đề, mạch suy luận, liên tưởng, …)

III. LUYỆN TẬP Bài 1:

a : Miêu tả cảnh sân chim đông đúc, náo động.

Bố cục ba phần, miêu tả từ khái quát đến cụ thể, từ xa đến gần

b: trình bày ý theo thứ tự không gian:

– Ba Vì – xung quanh Ba Vì.

– Riêng về Ba Vì lại trình bày theo thứ tự thời gian.

c: Hai luận cứ được sắp xếp theo tầm quan trọng của chúng đối với luận điểm cần chứng minh:

– “Lịch sử thường sẵn những trang đau thương… Ta thử lấy truyện Hai Bà Trưng mà xét…”

– “Nghe Truyện Phù Đổng Thiên Vương, tôi thường tưởng tượng đến một trang nam nhi…” (Nhảy xuống Hồ Tây tắm, xong mới ôm vết thương lên ngựa…)

Bài 2: Nếu phải trình bày về lòng thương mẹ của chú bé Hồng ở văn bản Trong lòng mẹ, em sẽ trình bày và sắp xếp chúng như sau:

– Nêu bật tình cảm, thái độ của chú bé Hồng khi nói chuyện (đối thoại) với bà cô về mẹ.

– Vì thương mẹ, bé Hồng ghét những hủ tục phong kiến vô lí. Nêu lên câu nói đầy căm phận với hủ tục đó.

– Vì nỗi mong nhớ, thương yêu mẹ thường trực nên thoáng thấy bóng người trên xe kéo là bé Hồng chạy theo.

– Kể lại những phút bé Hồng sung sướng được ở bên mẹ.

Bài 3:

Có thể sắp xếp các ý theo hai nhóm: giải thích câu tục ngữ và chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ.

– Nghĩa đen và nghĩa bóng của vế Đi một ngày đàng;

– Nghĩa đen và nghĩa bóng của vế học một sàng khôn;

– Các vị lãnh tụ bôn ba tìm đường cứu nước;

– Những người thường xuyên chịu khó hoà mình vào đời sống sẽ nắm chắc tình hình, học hỏi được nhiều điều bổ ích;

– Trong thời kì đổi mới, nhờ giao lưu với nước ngoài, ta học tập được công nghệ tiên tiến của thế giới.