Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga (Chi Tiết)

Trả lời câu 1 (trang 115 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Kiểu kết cấu truyền thống nào đã được sử dụng trong truyện Lục Vân Tiên? Đối với văn chương nhằm tuyên truyền đạo đức thì kiểu văn chương ấy có ý nghĩa gì? Lời giải chi tiết:

Truyện Lục Vân Tiên cũng như các truyện truyền thống trong văn học Việt Nam thường có kiểu kết cấu ước lệ, gần như đã thành khuôn mẫu. Người tốt thường gặp nhiều gian truân, trắc trở trên đường đời, bị kẻ xấu hãm hại, lừa lọc, nhưng họ vần được phù trợ, cưu mang, giúp đỡ, cuối cùng đều nạn khỏi tai qua, được đền trả xứng đáng, kẻ xấu phải bi trừng trị. Đối với loại văn chương nhằm tuyên truyền đạo đức, kiểu két cấu đó vừa phản ảnh chân thực cuộc đời vốn đầy rẫy những sự bất cõng, vô lí, vừa nói lên khát vọng ngàn đời của nhân dân ta: ở hiền thì gặp lành, thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 115 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Đọc đoạn trích em cảm nhận Lục Vân Tiên là con người thế nào? Hãy phân tích những phẩm chất của nhân vật qua hành động đánh cướp và qua cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga? Lời giải chi tiết:

Hành động nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên trong đoạn truyện gợi nhớ tới hoạt động của một nhân vật trong truyện cổ là chàng Thạch Sanh đánh đại bàng, cứu công chúa Quỳnh Nga.

– Lục Vân Tiên là một nhân vật lý tưởng của tác phẩm. Đây là chàng trai vừa rời trường học bước vào đời, lòng đầy hăm hở, muốn lập công danh (“Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa”), cũng mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời. Gặp tình huống “bất bằng” này là một thử thách đầu tiên, cũng là một cơ hội hành động.

– Hành động đánh cướp bộc lộ trước hết tính cách anh hùng, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên. Chàng chỉ có một mình, hai tay không trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đầy đủ, thanh thế lầy lừng “Người đều sợ nó có tài khôn dương”. Vậy mà Vân Tiên vẫn bẻ cây làm gậy xông vô đánh cướp. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp – vẻ đẹp của người dũng tướng cũng theo phong cách văn chương thời xưa nghĩa là so sánh với những mẫu hình lí tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long mà người Việt Nam, đặc biệt là người Nam Bộ – vốn mê truyện Tam Quốc – không mấy ai không thán phục!

– Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị nghĩa vong thân” (vì việc nghĩa quên thân mình), cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực bạo tàn.

– Thái độ cư xử của Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lai bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu. Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hùng, Vân Tiên “động lòng” tìm cách an ủi họ “Ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần hỏi han. Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn. Vân Tiên vội gạt đi ngay “Khoan khoan ngồi đó chớ ra.” Ở đây có phần câu nệ của lễ giáo nhưng chủ yếu là do đức tính khiêm nhường của Vân Tiên “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”. Chàng không muốn nhận cái lạy tạ ơn của hai cô gái, từ chối lời mời về thăm nhà của Nguyệt Nga, để cha nàng đền đáp, và ờ đoạn từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vấn vương. Dường như đối vơi Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hùng hảo hán.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 115 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Với tư cách là người chịu ơn, Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích này đã bộc lộ những nét đẹp tâm hồn như thế nào? Hãy phân tích qua ngôn ngữ, cử chỉ của nàng? Lời giải chi tiết: Những nét đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga

– Trước hết, đó là lời lẽ của một cô gái khuê các, thùy mị, nết na, có học thức: cách xưng hô: “quân tử”, “tiện thiếp” khiêm nhường; cách nói năng văn vẻ, dịu dàng, mực thước (“Làm con đâu dám cãi cha”, “Chút tôi liễu yếu đào tơ, Giừa đường gặp phải bụi dơ đã phần”), cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc chiết, vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cần của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện chân thành niềm cảm kích, xúc động của mình:

Trước xe quân tử tạm ngồi,

Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.

– Nguyệt Nga là người chịu ơn, lại là một cái ơn trọng, không chỉ là ơn cứu mạng, mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng (đối với người con gái, điều đó còn quý hơn tính mạng)

Lâm nguy chằng gặp giải nguy,

Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.

Nàng thấy rất áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn chàng, đủ hiểu rằng có đền đáp đến mấy cũng là chưa đủ:

Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.

Bởi thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khảng khái, hào hiệp đó, và đã dám liều mình để giữ trọn ân tình, thủy chung với chàng.

Nét đẹp tâm hồn đó đã làm cho hình ảnh Kiều Nguyệt Nga chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân, những con người bao giờ cũng rất xem trọng ơn nghĩa “ơn ai một chút chẳng quên”.

Câu 4 Trả lời câu 4 (trang 115 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Theo em, nhân vật trong đoạn trích này được miêu tả chủ yếu qua ngoại hình , nội tâm hay hành động cử chỉ? Điều đó cho thấy truyện Lục Vân Tiên gần với loại truyện nào đã học? Lời giải chi tiết:

– Nhân vật trong đoạn trích được miêu tả chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ, cử chỉ. Một phần vì Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ mù, cảm nhận mọi việc xung quanh chủ yếu là hành động lời nói tốt hơn.

– Truyện Lục Vân Tiên gần với truyện dân gian (truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ Nôm bình dân…), kể theo trình tự thời gian, nhân vật nhất quán tốt và xấu.

Câu 5 Trả lời câu 5 (trang 115 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1): Em có nhận xét gì về ngôn ngữ của tác giả trong đoạn trích? Lời giải chi tiết: Nhận xét về ngôn ngữ của tác giả trong đoạn thơ

– Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường và mang màu sắc địa phương Nam Bộ. Nó có phần thiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng.

– Ngôn ngữ thơ đa dạng, phù hợp với diễn biến tình tiết: Lời lẽ mộc mạc nhất là ở đoạn đầu. Giữa không khí cuộc chiến đang sôi sục, một bên là lời Vân Tiên đầy phẫn nộ, một bên là lời tên tướng cướp hống hách, kiêu căng. Đến đoạn đối thoại cuối giữa Vân Tiên và Nguyệt Nga thì lời lẽ mềm mỏng, xúc động, chân thành.

Luyện tập Sắc thái riêng từng lời thoại của mỗi nhân vật trong đọan trích (Phong Lai, Vân Tiên, Nguyệt Nga). Lời giải chi tiết:

Sắc thái riêng từng lời thoại của mỗi nhân vật trong đoạn trích :

– Vân Tiên : mạnh mẽ, dứt khoát, hùng hồn (với Phong Lai), nhẹ nhàng với Nguyệt Nga.

– Phong Lai : hung dữ, ngạo mạn, gian ác và vô học.

– Nguyệt Nga : dịu dàng khuê các, đoan trang.

Bố cục Bố cục: 2 phần

– Phần 1 (14 câu đầu): Lục Vân Tiên đánh cướp.

– Phần 2 (còn lại): Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga trò chuyện. ND chính

Đoạn thơ trích thể hiện khát vọng hành động hành đạo giúp đời của tác giả và khắc hoạ những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật chính: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài; Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na, ân tình thủy chung.

.com

Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga (Trích Lục Vân Tiên)

Soạn bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (Trích Lục Vân Tiên) – Nguyễn Đình Chiểu – Bài 8 trang 109 SGK Ngữ văn 9 tập 1. Trả lời các câu hỏi phần đọc hiểu văn bản trang 115 SGK văn lớp 9. Câu 2: Đọc đoạn trích, em cảm nhân Lục Vân Tiên là một con người như thế nào ? Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc họa qua một mô típ quen thuộc ở truyện Nôm truyền thống …

Câu 1: Truyện Lục Vân Tiên cũng như các truyện truyền thống trong văn học Việt Nam thường có kiểu kết cấu ước lệ, gần như đã thành khuôn mẫu. Người tốt thường gặp nhiều gian truân, trắc trở trên đường đời, bị kẻ xấu hãm hại, lừa lọc, nhưng họ vẫn được phù trợ, cưu mang (khi thì nhờ con người, khi thì nhờ các thế lực thần linh), để rồi cuối cùng đều nạn khỏi tai qua, được đền trả xứng đáng, kẻ xấu phải bị trừng trị. Đối với loại văn chương nhằm tuyên truyền đạo đức, kiểu kết cấu đó vừa phản ánh chân thực cuộc đời vốn đầy rẫy những sự bất công, vô lí, vừa nói lên khát vọng ngàn đời của nhân dân ta: ở hiền thì gặp lành, cái thiện bao giờ cũng thắng cái ác, chính nghĩa thắng gian tà.

Câu 2: – Hình ảnh Lục Vân Tiên được khắc họa qua một mô típ quen thuộc ở truyện Nôm truyền thống: một chàng trai tài giỏi, cứu một cô gái thoát khỏi tình huống hiểm nghèo, rồi từ ân nghĩa đến tình yêu… như Thạch Sanh đánh đại bang, cứu công chúa Quỳnh Nga (Truyện Thạch Sanh). Mô típ kết cấu đó thường biểu hiện niềm mong ước của tác giả và cũng là của nhân dân. Trong thời buổi nhiễu nhương hỗn loạn này, người ta trông mong ở những người tài đức, dám ra tay cứu nạn giúp đời.

– Lục Vân Tiên là một nhân vật lí tưởng của tác phẩm (thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của tác giả về con người trong cuộc sống đương thời…). Đây là một chàng trai vừa rời trường học bước vào đời (“tuổi vừa hai tám” tức là 16 tuổi), lòng đầy hăm hở, muốn lập công danh (“Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa”), cũng mong thi thố tài năng cứu người, giúp đời. Gặp tình huống “bất bằng” này là một thử thách đầu tiên, cũng là một cơ hội hành động cho chàng .

Hành động đánh cướp trước hết bộc lộ tính cách anh hung, tài năng và tấm lòng vị nghĩa của Vân Tiên. Chàng chỉ có một mình, hai tay không trong khi bọn cướp đông người, gươm giáo đủ đầy, thanh thế lẫy lừng “Người đều sợ nó có tài khôn đương”. Vậy mà Vân Tiên vẫn bẻ cây làm gậy xông vô đánh cướp. Hình ảnh Vân Tiên trong trận đánh được miêu tả thật đẹp – vẻ đẹp của người dũng tướng cũng theo phong cách văn chương thời xưa nghĩa là so sánh với những mẫu hình lí tưởng như dũng tướng Triệu Tử Long mà người Việt Nam, đặc biệt là người Nam Bộ – vốn mê truyện Tam quốc – không mấy ai không thán phục. Hành động của Vân Tiên chứng tỏ cái đức của con người “vị nghĩa vong thân” (vì việc nghĩa quên thân mình), cái tài của bậc anh hùng và sức mạnh bênh vực kẻ yếu, chiến thắng những thế lực bạo tàn.

Thái độ cư xử với Kiều Nguyệt Nga sau khi đánh cướp lại bộc lộ tư cách con người chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, cũng rất từ tâm, nhân hậu. Thấy hai cô gái còn chưa hết hãi hung, Vân Tiên “động lòng”, tìm cách an ủi họ “Ta đã trừ dòng lâu la” và ân cần hỏi han. Khi nghe họ nói muốn được lạy tạ ơn, Vân Tiên vội gạt đi ngay “Khoan khoan ngồi đó chớ ra”. Ở đây có phần câu nệ của lễ giáo (nam nữ thụ thụ bất thân – đàn ông và đàn bà xưa trao và nhận cái gì của nhau không được dùng tay mà trao, ý nói không được gần gũi, động chạm vào nhau), nhưng chủ yếu là do đức tính khiêm nhường của Vân Tiên “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”. Chàng không muốn nhận cái lạy tạ ơn của hai cô gái, từ chối lời mời về thăm nhà của Nguyệt Nga để cha nàng đền đáp, và ở đoạn sau, từ chối nhận chiếc trâm vàng của nàng, chỉ cùng nhau xướng họa một bài thơ rồi thanh thản ra đi, không hề vấn vương. Dường như đối với Vân Tiên, làm việc nghĩa là một bổn phận, một lẽ tự nhiên, con người trọng nghĩa khinh tài ấy không coi đó là công trạng. Đó là cách cư xử mang tinh thần nghĩa hiệp của các bậc anh hung hảo hán.

Với những nét tính cách đó, hình ảnh Lục Vân Tiên là một hình ảnh đẹp, hình ảnh lí tưởng mà Nguyễn Đình Chiểu gửi gắm niềm tin và ước vọng của mình.

Câu 3: Ở đoạn thơ này, hình ảnh Kiều Nguyệt Nga chỉ được biểu hiện qua những lời lẽ mà nàng giãi bày với Lục Vân Tiên.

– Trước hết, đó là lời lẽ của một cô gái khuê các, thùy mị, nết na, có học thức: cách xưng hô “quân tử”, “tiện thiếp” khiêm nhường; cách nói năng văn vẻ, dịu dàng, mực thước (“Làm con đâu dám cãi cha”, “Chút tôi liễu yếu đào thơ – Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần”), cách trình bày vấn đề rõ ràng, khúc chiết, vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cần của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện chân thành niềm cảm kích, xúc động của mình:

Trước xe quân tử tạm ngồi,

Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa.

– Nguyệt Nga là người chịu ơn, lại là một cái ơn trọng, không chỉ là ơn cứu mạng, mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng (đối với người con gái, điều đó còn quý hơn tính mạng):

Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,

Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi.

Nàng rất áy náy, băn khoăn tìm cách trả ơn chàng, dù hiểu rằng có đền đáp đến mấy cũng là chưa đủ:

Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi.

Bởi thế, cuối cùng nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai khảng khái, hào hiệp đó, và đã dám liều mình để giữ trọn ân tình, thủy chung với chàng.

Nét đẹp tâm hồn đó đã làm cho hình ảnh Kiều Nguyệt Nga chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân, những con người bao giờ cũng rất xem trọng ơn nghĩa “Ơn ai một chút chẳng quên”.

Câu 4: Khi miêu tả nhân vật, tác giả ít chú ý khắc họa chân dung ngoại hình, càng ít đi sâu vào diễn biến nội tâm. Lục Vân Tiên trước đoạn trích này cũng chỉ được giới thiệu bằng vài nét ước lệ: “con hiền”, “tuổi vừa hai tám”, tài năng thì: “Vân đà khởi phụng đằng giao – Võ thêm ba lược, sáu thao ai bì”, còn Kiều Nguyệt Nga: “Con ai vóc ngọc mình vàng – Má đào mày liễu dung nhan lạnh lùng”. Nhân vật ở đây thường được đặt trong những mối quan hệ xã hội, trong những tình huống, những xung đột của đời sống rồi bằng hành động, cử chỉ, lời nói của mình, nhân vật tự bộc lộ tính cách và chiếm lĩnh tình cảm yêu hay ghét của người đọc, người nghe. Thêm vào đó, nhiệt tình ngợi ca hay phê phán của tác giả cũng làm cho nhân vật trở nên sống động, để lại những ấn tượng khó quên.

Câu 5: – Ngôn ngữ mộc mạc, bình dị, gần với lời nói thông thường và mang màu sắc địa phương Nam Bộ. Nó có phần thiếu trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện, rất tự nhiên, dễ đi vào quần chúng.

– Ngôn ngữ thơ đa dạng, phù hợp với diễn biến tình tiết. Ở đoạn thơ đầu có thể phân tích những lời đối thoại giữa không khí cuộc chiến đang sôi sục, một bên là lời Vân Tiên đầy phẫn nộ, một bên là lời tên tướng cướp hống hách, kiêu căng. Đến đoạn đối thoại giữa Vân Tiên và Nguyệt Nga thì lời lẽ mềm mỏng, xúc động, chân thành.

Luyện tập: Hãy phân biệt sắc thái riêng từng lời thoại của mỗi nhân vật trong đoạn trích (Phong Lai, Vân Tiên, Nguyệt Nga)

Sắc thái riêng từng lời thoại của mỗi nhân vật trong đoạn trích

– Vân Tiên : mạnh mẽ, dứt khoát, hùng hồn (với Phong Lai), nhẹ nhàng với Nguyệt Nga.

– Phong Lai : hung dữ, ngạo mạn, gian ác và vô học.

– Nguyệt Nga : dịu dàng khuê các, đoan trang.

Soạn Bài: Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở đoạn đầu của Truyện Lục Vân Tiên – một truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX, lưu truyền rộng rãi dưới hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian như kể thơ, nói thơ Vân Tiên, hát Vân Tiên” ở Nam Kì và Nam Trung Kì. Ảnh hưởng của nó còn lan rộng ra toàn quốc. Truyện được in nhiều lần, bởi thế có nhiều văn bản khác nhau, có khi thêm bớt cả trăm câu thơ. Theo văn bản thường dùng hiện nay, truyện có 2082 câu thơ lục bát.

* Thể thơ: Văn bản được viết theo thể thơ lục bát

* Bố cục: Đoạn trích thơ có thể được chia làm 2 phần:

Phần 1: 14 câu đầu: Cảnh Lục Vân Tiên đánh bọn cướp để cứu Kiều Nguyệt Nga.

Phần 2: còn lại: Cuộc trò chuyện giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Kiểu kết cấu truyền thống đã được sử dụng trong Truyện Lục Vân Tiên là: người tốt gặp gian truân, nguy hiểm, bị hãm hại, nhưng được phù trợ và cứu giúp, cuối cùng được đền đáp xứng đáng, còn kẻ xấu thì bị trừng trị (kiểu anh hùng cứu mĩ nhân).

* Đối với loại văn chương nhằm tuyên truyền đạo đức thì kiểu kết cấu đó có ý nghĩa thể hiện khát vọng của nhân dân là cái thiện luôn chiến thắng cái ác, người ở hiền sẽ gặp lành.

Câu 2:

* Đọc đoạn trích, em thấy Lục Vân Tiên là một chàng trai nghĩa hiệp, tài giỏi và không chịu nổi được cảnh bất bình.

* Phân tích những phẩm chất của nhân vật qua hành động đánh cướp và qua cách cư xử với Kiều Nguyệt Nga:

Khi đánh cướp: dũng cảm, mạnh mẽ, thể hiện được tính cách của một người anh hùng. Bên cạnh đó, Lục Vân Tiên cũng là một con người coi trọng lẽ phải, văn võ song toàn, thấy người gặp nạn liền ra tay cứu giúp, một mình đánh được lũ cướp hung ác.

Khi cư xử với Kiều Nguyệt Nga: thể hiện Lục Vân Tiên là một con người hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, từ tâm và nhân hậu. Chàng không muốn Nguyệt Nga ra khỏi xe để tránh làm ảnh hưởng đến danh dự và tiết hạnh của nàng.

Câu 3:

* Với tư cách là người chịu ơn, Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích này đã bộc lộ những nét đẹp tâm hồn:

Là một người con gái khuê các, thùy mị, nết na và có học thức thể hiện ở cách xưng hô “tiện thiếp-quân tử”, lời nói khiêm nhường, mực thước, thể hiện thái độ kính trọng và hàm ơn.

Là người trọng tình nghĩa, nhận sự cứu giúp của Lục Vân Tiên và mong được trả ơn chàng.

Là một người con hiếu thảo, biết vâng lời cha mẹ, đồng ý làm lễ nghi gia dù không mong muốn.

Câu 4:

* Theo em, nhân vật trong đoạn trích này được miêu tả chủ yếu qua hành động, ngôn ngữ và cử chỉ. Điều này cũng không quá khó hiểu, vì Nguyễn Đình Chiểu bị mù nên ông cảm nhận môi trường xung quanh chủ yếu qua hành động và lời nói tốt hơn là qua ngoại hình.

* Truyện Lục Vân Tiên gần với thể loại truyện dân gian, được kể theo trình tự thời gian và nhân vật nhất quán tốt và xấu.

Câu 5:

Ngôn ngữ của tác giả trong đoạn trích thơ rất mộc mạc, bình dị, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày và mang màu sắc của địa phương Nam Bộ. Nó có phần trau chuốt, uyển chuyển nhưng lại rất phù hợp với ngôn ngữ kể, rất tự nhiên và dễ nhớ, dễ thuộc.

Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga

– Cảm nhận được: Đoạn trích khắc hoạ vẻ đẹp của Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Lục Vân Tiên là một chàng trai tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa khinh tài. Kiều Nguyệt Nga là cô gái hiền hậu, nết na, giàu ân tình.

Truyện Lục Vân Tiên được kết cấu theo trình tự thời gian. Đây là kiểu kết cấu thường thấy trong truyện cổ tích. Tình tiết câu chuyện mạch lạc, rõ ràng. Bằng kiểu kết cấu này, sẽ thuận lợi hơn khi chuyển tải truyện này theo hình thức “kể thơ”, “nói thơ”, người đọc người nghe dễ theo dõi hơn. Truyện có giới thiệu nhân vật, hoàn cảnh, sau đó trình bày theo trình tự sự kiện nào diễn ra trước kể trước, sự kiện nào diễn ra sau kể sau. Truyện kết thúc có hậu.

Trong đoạn trích, Lục Vân Tiên hiện lên như một người anh hùng, dám xả thân vì việc nghĩa, sẵn sàng cứu giúp những người dân vô tội bị ức hiếp. Lục Vân Tiên đánh cướp là một việc làm vì nghĩa, vô tư, làm ơn mà không đòi hỏi trả ơn. Chàng cho rằng: nếu thấy việc bất bằng mà không ra tay hành động thì không phải là anh hùng. Đầy là chuẩn mực cho vẻ đẹp của kẻ trượng phu theo quan niệm thời phong kiến.

Vân Tiên còn là chàng trai trọng đạo lí, lẽ nghĩa. Chàng cứu Kiều Nguyệt Nga nhưng không dám trông thấy mặt nàng vì sợ làm tổn thương đến danh dự, tiết nghĩa của một người con gái (theo quan niệm lễ giáo phong kiến quy định “nam nữ thụ thụ bât thân” – nam nữ không được gần nhau).

Khoan khoan ngồi đó chớ ra,

Nàng là phận gái, tôi là phận trai.

Kiều Nguyệt Nga là người con hiếu thảo, biết nghe lời cha mẹ: “Làm con đâu dám cải cha/ Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành”. Nàng còn là một cô gái dịu dàng, ăn nói nhỏ nhẹ, khiêm nhường: “Chút tôi liễu yếu đào thơ”. Khi được Lục Vân Tiên cứu nguy, nàng rất muốn đền ơn nhưng áy náy, bãn khoăn không biết trả ơn thế nào “Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không”. Tấm lòng chân thành của nàng là tấm lòng của một người trọng ơn nghĩa, nàng muốn mời Lục Vân Tiên về Hà Khê cùng mình để trả ơn “Xin theo cùng thiếp đền ân cho chàng”.

– Nhân vật trong đoạn trích này được miêu tả chủ yếu qua hành động, cử chỉ, lời nói. Phẩm chất anh hùng và tính cách của Lục Vân Tiên được bộc lộ qua sự mạnh mẽ, hành động dũng cảm, lời nói cương trực, thẳng thắn, không hoa mĩ. Phẩm chất tốt đẹp của Kiều Nguyệt Nga được bộc lộ qua việc vâng lời cha, qua lời nói dịu dàng của nàng, qua hành động mời Vân Tiên qua Hà Khê để báo đáp ơn nghĩa của chàng.

– Truyện Lục Vân Tiên gần với thể loại truyện Nôm khuyết danh và thể loại truyện kể dân gian.

– Ngôn ngữ của tác giả trong đoạn thơ trích là ngôn ngữ gần với ca dao dân ca, mộc mạc, giản dị, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày của ngươi bình dân.

– Ngôn ngữ trong tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên nói chung và của đoạn trích nói riêng mang màu sắc địa phương Nam Bộ. Ví dụ: bớ, xông vô, kêu rằng, tại mầy, xe nầy, tiểu thơ,…

– Lời lẽ Vân Tiên, với kẻ ác thì cảnh cáo, thẳng thắn “bớ đảng hung đồ / Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân”; với Nguyệt Nga thì lịch sự, ôn tồn, chân thành, vui vẻ: “Nào ai tính thiệt so hơn làm gì”. Lời lẽ của Phong Lai thì ngông nghênh, kẻ cả: “Thằng nào dám tới lẫy lừng vào đây”. Nguyệt Nga nói năng dịu dàng, lễ phép: “Thưa rằng: Tôi Kiều Nguyệt Nga/Con nầy tì tất tên là Kim Liên”. Nguyệt Nga gọi Vân Tiên là quân tử, tự xưng là tiện thiếp (một cách khiêm xưng).

– Học thuộc lòng theo yêu cầu.

Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga

Đoạn trích: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga (trích Truyện Lục Vân Tiên)

Bài giảng: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Cô Nguyễn Dung (Giáo viên VietJack)

Nội dung đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga I. Đôi nét về tác giả

– Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) tục gọi là Đồ Chiểu

– Quê quán: sinh tại quê mẹ ở làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc thành phố HCM); quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

– Cuộc đời:

+ Năm 1843, ông thi đỗ tú tài năm 21 tuổi

+ Năm 1849, ông bị mù. Tuy nhiên không đầu hàng số phận, ông về Gia Định dạy học và bốc thuốc.

+ Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì, ông tích cực tham gia vào phong trào kháng chiến

+ Khi cả Nam Kì rơi vào tay giặc, ông về sống tại Ba Tri (Bến Tre), nêu cao tinh thần bất khuất cho đến lúc mất

– Sự nghiệp văn chương

+ Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc, ông đã để lại nhiều áng văn chương có giá trị nhằm truyền bá đạo lí làm người, lòng yêu nước và ý chí cứu nước…

+ Tác phẩm chính: Truyện Lục Vân Tiên, Dương Từ- Hà Mậu, Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Thơ điếu Trương Định…

– Quan điểm sáng tác: Nguyễn Đình Chiểu sáng tác với quan điểm lấy ngòi bút làm vũ khí chiến đấu: “Chở bao nhiêu đạp thuyền không khẳm – Đâm mất thằng gian bút chẳng tà”

II. Đôi nét về tác phẩm Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Truyện Lục Vân Tiên là một truyện thơ nôm của Nguyễn Đình Chiểu, được sáng tác khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ 19, truyện có 2082 câu thơ lục bát.

– Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga nằm ở phần đầu của truyện

2. Bố cục đoạn trích

– Phần 1: Lục Vân Tiên đáng cướp

– Phần 2: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

3. Giá trị nội dung

Đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga đã khắc họa những phẩm chất tốt đẹp của hai nhân vật trung tâm: Lục Vân Tiên tài ba, dũng cảm, trọng nghĩa, khinh tài, Kiều Nguyệt Nga hiền hậu, nết na ân tình. Qua đó thể hiện khát vọng hành đạo giúp đời của tác giả Nguyễn Đình Chiểu

4. Giá trị nghệ thuật

Đoạn trích thành công với thể thơ lục bát dân tộc, nghệ thuật kể chuyện, miêu tả rất giản dị, mộc mạc, giàu màu sắc Nam Bộ

III. Dàn ý phân tích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

I. Mở bài

– Vài nét về tầm quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu đối với nền văn học Nam Bộ nói riêng và nền văn văn học dân tộc nói chung: Một nhà thơ, một người chiến sĩ mù khiến chúng ta cảm phục, một ngôi sao sáng nhất trên bầu trời Nam Bộ

– Giới thiệu khái quát về tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên và đoạn trích Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga: Đây là tác phẩm chứa đựng nhiều giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc. Đoạn trích đã khắc họa thành công hai nhân vật trung tâm của tác phẩm với nhiều phẩm chất tốt đẹp.

II. Thân bài

1. Hình tượng nhân vật Lục Vân Tiên

– Lục Vân Tiên là nhân vật chính của tác phẩm

– Là chàng trai tài, giỏi, cứu cô gái thoát khỏi tình huống nguy hiểm

– Chàng trai ấy vừa rời trường học, muốn thi thố lập công danh nhưng gặp phải bọn cướp hãm hại dân lành liền hành hiệp trượng nghĩa

– Đối đầu với lũ cướp rất đông với gươm giáo sáng ngời, dù không một tấc sẳ trong tay Lục Vân Tiên vẫn dũng cảm đánh cướp

– Đối xử với Kiều Nguyệt Nga rất chính trực, hào hiệp, trọng nghĩa khinh tài, rất nhân hậu và có văn hóa:

+ Thấy hai cô gái chưa hết hãi hùng, Vân tiên “động lòng” an ủi, ân cần hỏi han

+ Chàng nghĩ cho thân phận nữ nhi của Kiều Nguyệt Nga

+ Khi Kiều Nguyệt Nga mong muốn trả ơn, chàng chỉ: “nghe nói liền cười”, đối với chàng hành động trượng nghĩa không phải là để trả ơn mà với chàng, làm việc nghĩa như là bổn phận, lẽ tự nhiên

⇒ Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa Lục Vân tiên mang cốt cách nghĩa sĩ thời loạn với cử chỉ, hành động, ngôn ngữ và cách ứng xử cao đẹp, đó là cách cư xử của một tinh thần hiệp nghĩa của các bậc hảo hán

2. Hình tượng nhân vật Kiều Nguyệt Nga

– Bên cạnh Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga cũng là một nhân vật lí tưởng của tác phẩm

– Những phẩm chất tốt đẹp của Kiều Nguyệt Nga được thể hiện qua lời giãi bày với Lục Vân Tiên:

+ Nàng là một cô gái thùy mị nết na, có học thức: cách xưng hô của nàng rất khiên nhường: “quân tử” “tiện thiếp”

+ Nàng sống mực thước khuôn phép: “làm con đâu dám cãi cha”

+ Nàng còn là một người cư xử có trước có sau: nàng coi trọng ơn nghĩa của Lục Vân Tiên với mình và muốn mời chàng hiệp sĩ qua miền Hà Khê để nàng có thể: “gẫm câu báo đức thù công- lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi”

+ Kiều Nguyệt Nga đã nguyện gắn bó suốt đời mình với chàng trai hiệp nghĩa Lục Vân Tiên

⇒ Kiều Nguyệt Nga hiện lên là một nhân vật có lòng tự tôn và đức hạnh

III. Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật làm nên thành công của tác phẩm

– Trình bày cảm nhận, suy nghĩ về vẻ đẹp của hai nhân vật trung tâm

Bài giảng: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

tac-gia-tac-pham-lop-9.jsp