Học Cách Giải Đoán Lá Số Tử Vi / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Nguyên Tắc Và Định Lý Giải Đoán Lá Số Tử Vi – Học Tử Vi

TRẦN VIỆT SƠN (tập hợp các kinh nghiệm cổ kim)

Trong số trước mở đầu loạt bài “Nguyên tắc giải đoán lá số tử vi”, chúng tôi đã cống hiến quý bạn những “chất liệu”, “dụng cụ” để quý bạn sử dụng trong việc giải đoán. Kỳ này chúng tôi xin nêu lên nguyên tắc đầu tiên để ước tính 1 cung Mạng hay hoặc dở, tức là 1 đời người nói chung tốt hoặc xấu.

Các nhà tướng số theo các sách cổ thường nêu lên 1 yếu tố lấy trong tử bình:

– Lấy can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh rồi xét Âm Dương và xét các hành- Cùng Dương hay cùng Âm là tốt (nhất là cùng Âm thì cuộc đời an lành, không vận hạn)

– Không được thế thì năm Âm, tháng Âm cũng được

– Năm tháng ngày giờ sinh đều có hành (Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ). Nếu được năm sinh tháng, tháng sinh ngày, ngày sinh giờ là tốt. Nếu khắc nhau thì giảm kém

– Muốn xác định yếu tố đó, phải xem Vạn Niên Lịch và lại phải theo tiết khí chứ không theo tử vi. Vì phải xem Vạn Niên Lịch và theo nguyên tắc Tử Bình cho nên phức tạp. Bởi thế, nhiều cao thủ tử vi bỏ yếu tố đó và chỉ xét những yếu tố khác:

Mệnh Cục tương sinh hay tương khắc

Mệnh an tại cung Âm hay Dương

Chính tinh thủ Mệnh tốt hay xấu, sinh hay khắc Mệnh

Mệnh và Thân

Mệnh và Phúc Đức

Các trung tinh và hunh tinh quan trọng; Các vị thế chính để đoán mệnh

Vòng Đại hạn

Hai yếu tố đầu không xác định vào chi tiết, chỉ nêu lên sự kiện tốt hơn lên hay giảm bớt đi. Các yếu tố 3,4,5,6,7 đi vào chi tiết, cho phép xác định nhiều sự kiện trong cuộc đời về hình tướng, sức khỏe, tính tình, công danh và việc làm, thế đứng trên bậc thang xã hội

Sau khi chúng tôi trình bày yếu tố, chúng tôi sẽ ngược trở lại để xếp đặt phép giải đoán chung

YẾU TỐ 1: MỆNH & CỤC

– Mệnh có hành, Cục có hành– Hành Mệnh sinh cho hành Cục: tốt nhiều– Hành Cục sinh cho hành Mệnh: tốt vừa– Hành Cục khắc hành Mệnh: xấu vừa– Hành Mệnh khắc hành Cục: xấu

Như người mệnh Kim, cục Thủy được tốt vì sinh. Bị giảm hay được tốt có nghĩa là giảm đi hay tốt hơn so với những giải đoán trên lá số. Sự giảm đi hay tốt hơn không được chính xác là bao nhiêu. Ở đây còn tùy kinh nghiệm. Nhiều cao thủ tử vi không quá chú trọng yếu tố này

YẾU TỐ 2: VỊ TRÍ CUNG MỆNH

Người ta gọi “Mệnh Dương cư Dương vị”, “Âm cư Âm vị” là tốt. Còn Mệnh Dương cư Âm vị, Âm cư Dương vị là kém tốt

– Các tuổi Tí, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là tuổi Dương– Các tuổi Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi là tuổi Âm– Tuổi Dương mà Mệnh đóng ở cung Dương trên lá số là tốt– Tuổi Âm mà Mệnh đóng ở cung Âm (tức các cung Sửu, Mão Tị, Mùi, Dậu, Hợi) là tốt– Trái lại, tuổi Dương mà Mệnh đóng cung Âm, tuổi Âm mà mệnh đóng cung Dương là xấu

Tốt tức là tăng độ số tốt, xấu tức là giảm độ tốt

YẾU TỐ 3: CHÍNH TINH THỦ MỆNH

Ở cung Mệnh có 1 hay 2 chính tinh thủ Mệnh chỉ về vận mạng đại cương của người (vị trí cao thấp trong xã hội), hình tướng, tính tình, có thể luôn cả sự giàu nghèo, hướng đi trong đời, nghề nghiệp…Đó là cung quan trọng nhất

Đoán Mệnh, thật ra phải kèm luôn cả các yếu tố 4,5,6,7. Nhưng chúng tôi hãy chỉ xin nêu lên các yếu tố chính tinh thủ Mệnh.

Như đã ghi trong số trước, 1 chính tinh có 1 vị trí trên lá số, vị trí đó tốt giúp cho chính tinh có tất cả các hiệu lực, hay vị trí hãm khiến mất hết hiệu lực và có thể thành xấu nữa. Tùy theo vị trí, chính tinh có thể:

Nhập miếu: tốt nhất, sang nhất, có nhiều ảnh hưởng nhất

Vượng địa: tốt vừa, có ảnh hưởng

Đắc địa: tốt vừa, có ảnh hưởng

Hãm địa: tốt, bị vùi dập không ảnh hưởng hoặc có ảnh hưởng xấu

Ví dụ sao Thiên Lương thuộc hành Thủy thì ở cung Thân, Dậu thuộc Kim là được tốt vì Kim sinh Thủy; ở cung Hỏa là bị khắc (vì hỏa khắc Kim). Đó là do nguyên tắc ngũ hành

Tuy nhiên, vì 1 chính tinh còn Âm Dương, phương hướng, vả lại có những kinh nghiệm thêm vào, cho nên việc ấn định vị trí miếu hay hãm lại không hẳn theo hành. Theo bảng ghi, thì Thiên Tướng miếu tại cung Dần Thân, vượng tại Thì, Tuất, Ngọ, đắc tại Sửu Mùi Tị hợi, hãm tại Mão Dậu.

Có thể làm 1 cuộc so sánh: 1 chính tinh giống như 1 ông cò trọng nhậm ở 1 địa phương: địa phương đó thuận tiên, thích hợp thì ông Cò có thực quyền (nhập miếu, đắc địa); địa phương đó xấu, gặp nhiều người to chèn ép thì ông cò sợ sệt, không có quyền (hoặc có thể kể như ông cò về hưu). Nhưng chưa phải mệnh gặp chính tinh miếu mà là được ảnh hưởng tốt, cũng không phải gặp chính tinh hảm mà là xấu. Còn phải xét Âm Dương của chính tinh nữa. Tùy theo Âm Dương mà chính tinh có thể ảnh hưởng hay không.

Nếu mình tuổi Dương mà chính tinh là Dương thì chính tinh không ảnh hưởng vào mình (không khắc, cũng không sinh dưỡng tốt, kể như chính tinh trung lập đối với mình). Nhưng nếu chính tinh là Âm thì sẽ có trọn ảnh hưởng nếu nhập Miếu, vượng địa hay đắc địa, để ảnh hưởng tốt (sinh dưỡng cho Mệnh) hay xấu (khắc Mệnh).

Cụ Hoàng Hạc giải thích sự kiện Âm Dương theo Dịch Lý, cũng tương tự như các cực của 1 thanh nam châ,: cực Dương và Dương đẩy nhau, cực Âm và Âm đẩy nhau (tức không biết đến nhau, không ảnh hưởng vào nhau). Các cực Dương và cực Âm mà gặp nhau thì hút nhau tức là có ảnh hưởng vào nhau, sinh dưỡng tốt, hoặc là khắc xấu).

Như thế, về 1 chính tinh có tốt cho mình hay không cần phải xem chính tinh có vị trí tốt hay không (miếu vượng đắc hãm), chính tinh có Âm Dương để đạt ảnh hưởng vào đương số hay không, và chính tinh có hành khắc Mệnh hay sinh phò cho mệnh.

Vậy thì 1 chính tinh miếu vượng đắc địa phải có Âm Dương khác với Âm Dương của tuổi và phải có hành sinh cho hành của mệnh mới là tốt.

Ví dụ: người tuổi Mùi, tức tuổi Âm, mạng Hỏa, chính tinh ở cung Mệnh là Vũ khúc tại Sửu (miếu). Vũ khúc là Âm Kim, đồng với tuổi Âm thì Vũ khúc không có ảnh hưởng với tuổi Mùi.

Người tuổi Mão tức tuổi Âm, mạng Hỏa, chính tinh ở cung Mệnh tại Dần là Thiên Tướng (Dương Thủy). Tại Dần Thiên Tướng miếu, thuộc Dương là có ảnh hưởng với tuổi Âm, nhưng hành Thủy lại khắc mạng Hỏa. Vậy Thiên Tướng ở đây tuy là miếu nhưng lại khắc mạng.

(Trong kỳ sau, chúng tôi sẽ xin chiếu theo các lá số để luận về ảnh hưởng của các chính tinh trước khi xét các yếu tố 4,5,6,7)

….

Để xác định 1 mệnh là tốt hay xấu và tốt xấu nghiêng về những hướng nào (tốt là giàu, có công danh, có cuộc sống ngay lành không vận hạn; xấu là nghèo, hèn, hoang tàn, hay đổi thay….), chúng ta lần lượt nhận xét các yếu tố sau này trên cung mệnh:

Chính tinh miếu vượng, đắc địa có hành sinh cho hành mệnh hay hòa với hành mệnh là tốt nhất. Chính tinh hãm thì kém. Chính tinh tốt mà có hành khắc hành của mệnh thì kém. Tuy nhiên chính tinh hãm mà gặp Tuần triệt đồng cung thì lại tốt ra. Thái Dương Thái Âm hội hãm mà gặp Tuần Triệt hay Đào Hồng hỉ lại sang tốt

Nói tổng quát, chính tinh tại Mệnh tốt còn cần được thêm những bộ trung tinh tốt thì cuộc đời mới thật tốt. Nếu gặp những bộ turng tinh xấu thì cuộc đời bị giảm kém. Nếu chính tinh đã xấu còn bị nhiều hung tinh xấu thì cuộc đời xấu nhiều

Ngoài nguyên tắc ấy, còn những cách nêu lên những sự giải đoán khác biệt

MỆNH TỐT

Có mệnh tốt, cuộc đời giàu sang, học hành và công danh khá giả, nếu:Chính tinh miếu, vượng, đắc địa, có hành dưỡng cho hành mạng, không bị những hung tinh vướng vào và được thêm những bộ sao tốt sau đây (càn được nhiều càng tốt nhiều)

KHÔI VIỆT

XƯƠNG KHÚC (ứng vào sự học hành, đỗ đạt cao);

KHOA QUYỀN LỘC (ứng vào công danh học hành tốt, có quyền, có lộc, hóa lộc chỉ về tài lộc do tay mình tạo ra)

LONG PHƯƠNG (chủ cuộc sống sang cả

TƯỚNG ẤN (chủ công danh)

TẢ HỮU (tuy nhiên Tả Hữu chỉ tăng thêm ảnh hưởng cho các sao tốt, trong trường hợp có nhiều cặp sao tốt. Nếu có nhiều sao xấu mà lại thêm tả Hữu thì lại không tốt)

MỆNH XẤU

Không có chính tinh tốt và hạp mạng, mà lại gặp những bộ sao xấu thì Mệnh kém, nhiều sự rủi, nhiều vận hạn:

KHÔNG KIẾP

KÌNH ĐÀ

LINH HỎA

SONG HAO

TANG HỔ

KHỐC HƯ

HÓA KỊ

NHỮNG CÁCH RIÊNG BIỆT ĐỂ XÁC ĐỊNH MẠNG

Vị trí cung Mệnh Thân: phải nhìn xem vị trí cung Mệnh so với các sao trong vòng Thái Tuế. Mệnh được Thái Tuế, Quan Phù, Bạch hổ là người ngay chính, hoạt động hợp với lòng mình và dễ đạt kết quả. Mệnh ở 1 cung đối diện với 3 sao trên là thường gặp nghịch cảnh, khó đạt sở nguyện. Mệnh ở 1 cung sau cung có 1 trong 3 sao trên (theo chiều thuận thì cung đó đứng sau cung có Thái Tuế, Quan Phù, Bạch Hổ) là người kém vế, đi làm cho người khác. Cung Mệnh ở 1 cung đứng trước cung có Thái Tuế, Quan Phù, bạch hổ là người hay lấn lướt người khác nhưng phải coi chừng ăn người khác rồi cũn dẫn đến thất bại vì gặp Thiên Không tại mệnh hay tam hợp mệnh

YẾU TỐ LỘC TỒN

Phải nhìn xem đương số có được hưởng lộc tồn hay không. Như người tuổi nào thì ghi cung đó và nhìn xem cung đó hay 2 cung tam hợp có Lộc tồn hay không. Không có Lộc tồn là không được hưởng lộc trời (lộc tự nhiên và bền vững, và hạnh phúc với cuộc sống lành, không tai nạn)Cũng có thể là cung mệnh có Lộc tồn hoặc được Lộc tồn ở tam hợp chiếu về, cũng được hưởng Lộc tồn nhưng hạn chế.

YẾU TỐ VÒNG TRƯỜNG SINH

Phải nhìn xem cung mệnh được sao gì: Được Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Thai, Dưỡng là tốt. các sao còn lại là xấu

YẾU TỐ ĐÀO HỒNG, THIÊN KHÔNG

Phải nhìn cặp Đào hoa, hồng Loan và Thiên Không đứng với nhau tại Mệnh như thế nào:

Nếu mệnh tại dần Thân Tị Hợi có sao hồng Không là người lành, thiên vào việc tu tánh, tu đức. Mà tu được là tốt. gặp thêm Kiếp Sát càng phải rang tu để tránh vận hạn

Nếu mệnh có Thiên Không tại Thìn Tuất Sửu Mùi là cuộc đời sẽ đến 1 lúc sa sút nặng khi hạn đến

Nếu mệnh có Đào Hoa tại Tí Ngọ Mão Dậu thì ngoài tính chất của Đào hoa, còn có tính chất xảo quyệt

Về chi tiết các cách, xin đón coi kỳ giai phẩm tới.

******

Về các nguyên tắc giải đoán Tử vi, chúng tôi đã kể đến sự kiện Mệnh, Cục tương sinh hay tương khắc Mạng, đó là những yếu tố rất đại cương để tăng thêm độ số hay giảm hạ độ số.

Kế đó, chúng tôi đã lần lượt kể đến các nguyên tắc đi vào chi tiết để đoán Mạng của một người:

Vòng Thái tuế (để chỉ về tư cách và cung cách hoạt động của một con người).

Vòng Lộc tồn (để chỉ về một con người có được lộc trời không? Lộc trời là lộc được hưởng. Lộc tồn cũng chỉ về hạnh phúc, về sự tiêu tai giải hạn của một người.

Kỳ này, chúng tôi sẽ nêu lên những cách sao chính mà một cung Mệnh có thể gặp để thấy ngay cái tốt hay cái xấu của một vận mạng.

Ý nghĩa vòng Tràng sinh

Sao của vòng Tràng sinh gặp tại Mệnh chỉ về trạng thái, cấp bậc, trình độ sống của một người.

Vòng Tràng sinh gồm có: Tràng sinh, Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.

Cách an các sao trong vòng Tràng sinh dễ đúng với nguyên tắc giải đoán sau:

Thủy cục và Thổ cục: dương nam và âm nữ, an thuận vòng Tràng sinh (cứ theo thứ tự 12 sao như trên) kể từ cung Thân. âm nam và dương nữ, an ngược lại kể từ cung Tý (chính Thủy)

Mộc cục: dương nam, âm nữ an thuận từ cung Hợi. âm nam, dương nữ an ngược từ cung Mão (chính Mộc).

Kim cục: dương nam, âm nữ an thuận từ cung Tỵ. âm nam, dương nữ, an ngược từ cung Dậu (chính Kim).

Hỏa cục: dương nam, âm nữ an thuận từ cung Dần. âm nam, dương nữ, an ngược từ cung Ngọ (chính Hỏa).

Giải đoán

Tùy theo cung Mệnh có sao nào của vòng Tràng sinh mà có một ý nghĩa (xin chú ý rằng đây chỉ là một yếu tố để còn phối hợp với các yếu tố khác). Thí dụ: được Đế vượng là được trạng thái sống rất tốt, rất thuận lợi, nhưng nếu các thế sao khác lại hỏng thì đương số được sự thuận lợi để đạt đến mức độ thấp kém hơn như các sao khác cho phép.

Mệnh gặp Tràng sinh (ngay tại cung Mệnh): khỏe mạnh, ít vận hạn, ra đời ở thế khác ngay.

Mệnh có Mộc dục, sinh ra ở trạng thái như tuổi dậy thì, có nhiều triển vọng để tiến.

Mệnh có Quan đới, Lâm quan, hay Đế vượng, có nhiều điều kiện dễ dàng đạt được những bằng cấp, chức vị.

Mệnh có Suy: cuộc đời sút kém, nhưng ít thôi (trạng thái vừa suy sau khi vượng tột bậc).

Mệnh có Bệnh: cuộc đời suy giảm hoặc có cản trở, có bênh làm suy giảm sinh hoạt (đại mạng như Khổng Minh, gặp Suy, cũng vẫn trở nên quan sựu vạn đại nhờ các thế sao tốt, nhưng cuộc đời bị suy giảm, gặp Bệnh cũng tương tự).

Mệnh có Tử: cuộc đời suy kém nhiều (làm nghề cao quý, cũng suy giảm).

Mệnh có Mộ: cuộc đời phẳng lặng ở chỗ tối (không chừng lại đạt hạnh phúc) vì không tham vọng và được sống yên.

Mệnh có Tuyệt: cuộc đời tầm thường, không được nhắc tới.

Mệnh có Thai: cuộc đời có những mầm hé nở để vươn lên.

Mệnh có Dưỡng: cuộc đời tốt, tu tâm dưỡng tính càng tốt.

Các thế chính tinh và trung tinh, hung tinh

Vậy khi nói rằng người đó có Tham Vũ miếu tại Mùi là tốt lắm là chưa đủ, còn phải xét xem Tham Vũ đó có phù cho mình không mới được.

Chính tinh ở vào một cách nào đó, như cách Tử phủ vũ tướng, Sát phá liêm tham, Cự nhật, Cơ nguyệt đồng lương. Những cách đó không nhất thiết là tốt hay xấu, sở dĩ được nêu lên là để còn xét với những sự kiện khác, hoặc là để xét về đại vận ( như có Tử phủ, Vũ tướng, đến đại vận Sát phá liêm tham, là người có trí tuệ gặp thêm bàn tay làm việc như Cơ nguyệt đồng lương, gặp những sao nặng phá thì bị họa hại, trong khi Sát phá liêm tham lại không sợ).

Xét chính tinh, chưa đủ ấn định mạng số khá hay kém, mà còn phải xét xem các chính tinh đó được phò hay bị phá.

Nếu chính tinh tốt, mà lại gặp Tuần Triệt thì lại bị giảm kém. Nếu chính tinh hãm, gặp Tuần Triệt thì lại tốt ra.

Một chính tinh như Tử, Phủ gặp Không, Kiếp hãm thì lại bị hỏng nhưng Thiên tướng gặp Không kiếp lại không hề hấn gì. Chính tinh tốt và phò cho Mệnh là tốt, nhưng cũng phải thêm những sao như Khôi Việt, Xương Khúc, Long Phượng, Hổ Cái, Tướng ấn thì việc học hành mới giỏi, đỗ đạt cao, đường công danh tốt có chính tinh tốt mà gặp những hung tinh nặng như Không kiếp, Kình đà, Linh hỏa ở thế hại thì lại hỏng. Những hung tinh miếu vượng và nhập vào cách tốt thì lại được tốt.

Các cách thật phức tạp, kể hết ra thì đó là một cuốn tự điển giải đoán, mà có khi không thực tế bằng công trình nêu lên những nguyên tắc và các cách chính.

Bởi thế, chúng tôi sẽ chỉ nêu lên những nguyên tắc, kèm thêm một số những cách chính (như cách Hồng, Đào, Thiên không, các hung tinh, các trung tinh mạnh…) để quý bạn trông vào lá số thấy ngay những điều mình có thể giải đoán được.

Xin đón các kỳ sau các cách chính để giải đoán Mệnh.

Theo tạp chí Khoa Học Huyền Bí

Nguyên Tắc Căn Bản Giải Đoán Một Lá Số Tử Vi

Bài viết của tác giả Cam Vũ, được trích từ phần cuối cuốn Tử Vi Chỉ Nam của Song An Đỗ Văn Lưu. Đây là một bài viết rất hay và đầy đủ trình bày cách giải đoán một lá số Tử Vi.

Sau khi bạn đã lấy được lá số, để phần giải đoán ít thiếu sót, ta cần lưu ý những điều sau:

1. Tương quan giữa hành của bản Mệnh và hành của Cục

Cục có nghĩa là cách cục, hay còn gọi là cuộc, là cái thế cuộc mà ta đang sống – hay nói đúng hơn chính là cái môi sinh mà bản mệnh ta đang ngụp lặn trong đó.

a. Hành Cục sinh Mệnh

Thí dụ: Mệnh Thổ, Hỏa Lục Cục, Hỏa sinh Thổ, người được hoàn cảnh ưu đãi, để gặp may may mắn, để thuận lợi.

b. Mệnh Cục tương hòa

Thí dụ: Thổ Mệnh, Thổ ngũ Cục: người để hòa mình với hoàn cảnh, với đời sống bên ngoài.

c. Mệnh sinh Cục

Thí dụ: Thổ mệnh, Kim tứ cục: thổ sinh kim, người phải sinh cho môi sinh tức là vất vả, hay làm lợi cho thiên hạ.

d. Mệnh khắc Cục

Thí dụ: Thổ Mệnh, Thủy nhị Cục, Thổ khắc thủy, cuộc đời có nhiều trở ngại, hay làm hỏng đại sự, thành công trong nghị lực.

e. Cục khắc Mệnh

Thí dụ: Thổ Mệnh, Mộc tam Cục Mộc Khắc Thổ: đang thương, người hay bị môi sinh không thích hợp với mình, sự thành công nếu có đòi hỏi phải trải qua gian khổ.

2. Tương quan giữa Can và Chi của năm sinh

Can là Thiên Can, Chi là Địa Chi – Can Chi kết hợp với nhau như sự giao hòa của trời đất, giống như 1 cây gồm 2 phần gốc và ngọn.

a. Can Chi Tương Hòa

Thí dụ: Giáp Dần, Mộc, Dần mộc là người sinh ra từ họ có căn bản vững chãi có đủ khả năng để đạt được cái mình đã có.

b. Chi sinh Can

Thí dụ: Ất Hợi: Hợi thủy sinh Ất mộc do may mắn mà thành công chứ thực lực, khả năng chưa đạt được đến mức độ ấy. Cuộc đời họ là một chuỗi dài may mắn tiếp nhau để có từ thành công này đến thành công khác.

c. Can sinh Chi

Thí dụ: Canh Tý, canh kim sinh tý thủy người được trời ưu đãi để làm việc, vừa có khả năng vừa gặp may thuận lợi để đưa đến thành công cách dễ dàng.

d. Can khắc Chi

Thí dụ: Canh Dần: canh kim khắc dần mộc người hay gặp nhiều nghịch cảnh dễ sẵn sàng làm đổ vỡ sự nghiệp, ở những mẫu người này cần đòi hỏi họ phải có 1 lá số với các sao đi đúng bộ thật tốt mới mong nên danh phận nhưng cũng vẫn trải qua nhiều nỗi thăng trầm.

e. Chi khắc Can

Thí dụ: Ất Dậu: Dậu kim khắc Ất mộc thành công trong khó khăn, sự nghiệp hay bị gẫy đổ lung tung để rồi lại xây dựng lại. Nói tóm lại thiếu may mắn.

3. Đem hành của bản mệnh so sánh với hành của 12 cung số

Ðể biết sự sinh khác giữa mình với những người liên hệ, bản mệnh là ta, cung an mệnh là nhà, là cái mà bao quản cho ta, các sao ví như đồ đạc, tiện nghi mà ta phải xử dụng, nếu tương sinh hoặc đồng hành, thời tốt mà làm lợi cho ta, nếu bị khắc thời bất lợi. Nếu bản mệnh tương hòa hay tương sinh với cung bản mệnh, cung an mệnh ở tại Dậu là kim khắc mộc. Thì đoán tìm đến các sao thủ và chiếu xem có sao nào đồng hành với bản mệnh không rồi lại thấy nếu sinh vào giờ kim xà thiết tỏa nữa thì thật là chết non chẳng sai mà đã chết non thì các cung liên hệ chẳng còn gì để bàn nữa.

Cho nên phú tử vi mới có câu:

Ðào Hồng ngộ kiếp Không đồng thủ Xá bàn chi bần lũ yểu vong.

Thí dụ như lá số: Quí Dậu tháng 5 ngày 30 giờ Sửu – Âm Nữ kim mệnh, Hỏa cục, Mệnh lập ở Ngọ. Cung Ngọ là hỏa khắc mệnh kim, lại có Đào, Hồng gặp Không Kiếp nên đã chết từ lúc 3 tuổi.

Sau khi đã so sánh với cung mệnh rồi, thì lần lượt xem đến 11 cung kế tiếp để xem sự khắc hợp thế nào?

Thí dụ: người có Mệnh Mộc, cung Mệnh ở Dần cũng là hành Mộc, như vậy:

Phụ Mẫu nào ở Mão Mộc là tương hòa, con người giữ được chữ hiếu và cũng được cha mẹ yếu thương, Phúc Đức ở Thìn Thổ là khắc (mệnh Mộc khắc Thổ) là không tìm được sự giúp đỡ của họ hàng và bản thân cũng không tìm thấy sự an ủi, thoải mái đối với họ hàng.

Ðiền, Quan ở Tỵ là Hỏa, Mộc sinh Hỏa cho nên sẽ vất vả với công danh, với nhà cửa.

Nô ở Mùi, Tài ở Tuất, Bào ở Sửu đều thuộc Thổ cả, ta cứ luận như ở cung Phúc Ðức – nghĩa là phải vất vả với bạn bè, anh em và tiền bạc vì Mộc khắc Thổ. Ách ở đâu là Kim khắc Mệnh Mộc có nghĩa là mỗi khi bị bệnh tật hay tai nạn thì khó mà tránh được dễ dàng.

Cung Di ở Thân là kim khắc mộc: nghĩa là đứng trước một đối tượng người này hay bị ở vào tư thế lép vế dù rằng có khi mình hơn họ về phương diện nào đó.

Tử và Thê ở Hợi và Tý thuộc thủy sinh cho mệnh ở Dần, nếu lập gia đình, có con cái, thì cuộc đời sẽ thấy thoải mái hơn và nếp sống trong gia đình với vợ con cũng đặt được sự yêu thương thuận thảo.

Như trên là nguyên tắc và thí dụ, đối với các trường hợp khác cũng vậy cứ dùng ngũ hành sinh khắc của mệnh và 12 cùng mà suy, hễ khắc thì không hợp, tương hòa hay sinh thì được sự phù trợ, tùy theo cung sinh hay khắc.

4. Đặc tính ngũ hành và vị trí miếu, hãm của các sao

Để xếp hạng cách cục được hướng cho mỗi người, nhất là 14 chính tinh và các trung tinh. Hiểu rõ tính chất của mỗi sao, các sao đi như thế nào là đúng bộ, có phá lẫn nhau không, các sao Thủ và chiếu mệnh có đồng hành với bản mệnh không?

Thí dụ: bộ Nhật Nguyệt cần có Ðào Hồng Xương Khúc, bộ Tử Phù Vũ Tướng cần Tả, Hữu, Tam Hóa, bộ Sát Phá Tham cần Lục Sát Tinh đắc địa, bộ Cơ Nguyệt Ðồng Lương cần Tam Hóa, Quang Quý, Thai Tọa, phá của các cách, nhưng xin quí đọc giả lưu ý phần tính chất các sao là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đoán tử vi được chính xác, nó cũng là một yếu tố để gây hứng khởi cho người xem và được xem tử vi.

Một người có số dù các sao đã đi đúng bộ nhưng không có chính tinh đồng hành với mệnh thì cũng chẳng tốt gì, dù mệnh có chính tinh hay trung tinh đi đúng bộ, lại có chính tinh đồng hành làm lòng cốt, nhưng lại gặp phá cách thì cũng vất đi mà thôi.

Thí dụ: Tử Phủ Vũ Tướng Hội Tam Hóa, Tả Hữu, nhưng lại gặp cả Không Kiếp, là cách để ngộ hung đồ. Lúc ấy Tả Hữu sẽ kết hợp bè đang với Không Kiếp và Quyền, Lộc lúc ấy chính là cái mồi để cho lũ hung đồ Không Kiếp làm rắc rối cho mình.

Có thuộc rõ tính chất của từng sao thì mình mới luận được nhiều điều dị biệt trong lá số, mới nắm được cái lý biến hóa vô cùng của Tử Vi, tại sao cũng số như vậy mà người này thế này người kia thế kia. Tại sao theo sách thường thì Ðào Hồng Nhật Nguyệt là thi đỗ mà nay người ấy lại chẳng đậu, chẳng hóa ra các người đi trước sai cả hay sao, nhưng nếu xét cho kỹ thì mới thấy được cái đã phá đi mất tính chất tốt đẹp ấy. Nói tóm lại, gặp sao tốt phải xem ngũ hành để mình có được hưởng hay không? Rồi xem có bị phá cách không? Gặp hung tinh xem có đắc địa không? Tất cả các bàng tinh (sao nhỏ) có nhập bộ không? Có phù trợ đắc lực hay hợp với bộ chính tinh của mình không? Có nhiều người đã cho rằng môn Tử Vi cần đơn giản hơn, bỏ bớt các sao nhỏ đi không cần dùng tới, nói như thế thì các bậc tôn sư ngày xưa lập và theo môn Tử Vi lại làm thừa sao? Sao các cụ không bỏ bớt mà phải chờ đến lượt mình. Sự thật, nếu thuộc kỹ, các tính chất cả các sao nhỏ mới tìm thấy các vi diệu, cái lý thú của Tử Vi.

Thí dụ: như sao Phượng Các và Giải Thần luôn luôn đi với nhau, có người bảo sao không bỏ bớt một sao mà lại phải để cả hai, thực ra vì cái lý khi tiểu hạn gặp Phượng Các tất có ốm đau nặng, nên Giải Thần phải luôn luôn đi kèm để giải đi cái hung hãn của Phượng Các. Lại như Thiên Riêu, Thiên Y lúc nào cũng đồng cung vì lấy lý rằng: thầy thuốc luôn luôn phải biết cả Y, Dược. Luôn bào chế, nhưng cho dù thế sự ngày này biến đổi đã phân ra làm Y, Nha, Dược hỏi về cách dùng thuốc. Chính là tính chất Thiên Y vậy.

Những suy luân tiếp theo và những kinh nghiệm về hợp cách và phá cách sẽ được trình bày ở mục Tử Vi vấn đáp.

5. Vị trí các sao với 12 cung

Sau khi đã xem đến ngũ hành, đắc tinh miếu, hãm. Bộ cách các chính tinh hợp nhau, phá cách và các sao Phù trợ lại cần phải để ý lại một lần nữa xem vị trí các sao nằm trên 12 cung số có đúng với các sao nằm trên 12 cung số, có đúng với tính chất của nó không? Tài tinh phải cư Tài Bạch, Phúc Tinh phải cư Phúc Ðức, Quyền tinh phải ở Quan lộc, Uy Dũng chỉ tinh nên ở mệnh với nam nhân, còn nữ nhân mà có Uy Dũng tinh thủ chiếu mệnh là phá cách, cuộc đời sẽ cô đơn vất vả, và có nhiều oan trái dù có nhiều cát tinh phù trợ sao tuy đi đúng bộ, đắc địa nhưng nằm nghịch vị trí thì cũng không tốt, ví như Phá chẳng nên cư ở Nô Bộc, Thê Thiếp, Tài Tinh là Lộc Tồn, Hỏa Lộc nên tránh xa cung Tật Ách, các sao cứu giải cần đóng ở Ách, Phúc tinh nếu đóng ở Phúc Ðức thì tốt hơn các cung khác.

6. Vị trí cung Mệnh với Thái Tuế, thứ đến xem cung Mệnh nằm ở đâu với vòng Thái Tuế

a. Nếu mệnh nằm trong tam hợp tuổi

Thí dụ người tuổi Dần có mệnh lập ở Dần, Ngọ hay Tuất tức là vị trí Thái Tuế, Quan Phủ, Bạch Hổ vì sao Thái Tuế an theo năm sinh, sinh năm nào Thái Tuế cư cung có tên của năm ấy; tức là loại người luôn luôn tự mắc cho mình lấy 1 tinh thần trách nhiệm, hay can dự vào những chuyện bất bình, gánh vác việc người, có lòng hào hiệp, chính vì vậy mà Phú Ma Thị có câu “Thân cư Thái Tuế dữ nhân qua hợp”, Thân đây chính là Thân Mệnh vậy, các cổ thư khi bàn đến tính chất của Thái Tuế đều cho như một cái gì không tốt đẹp lắm; nào là đa chiêu thị phi khẩu thiệt, ít cảm tình, kiêu kỳ lý luận chính vì cái lý sự đời nhiều cảnh trái ngang, mà đã là chính nhân quân tử thì làm sao lại hòa mình với sói lang được, nên phải đứng riêng, ra tay nghĩa hiệp nên hay bị thiên hạ gây ác cảm, cái tính chất của Thái tuế như vậy cho nên bao chiều chung quanh luôn luôn có Long Phượng Cái Hổ, là tứ linh phục châu – bởi vậy người Thái Tuế không cần Tam hóa, cũng vẫn phong lưu, vẫn được người đời khi ghét nhưng vẫn phải nể. Vì ghét đây vẫn chỉ là ghét vì thói thường, vì sự can thiệp của Thái Tuế mà cản trở việc làm mờ của họ. Nhưng người Thái Tuế vẫn đứng trên lẽ phải, do đó mà người có Thái Tuế thường hay tự hào, đôi khi kiêu ở ngầm trong chính bản thân họ, trong tâm hay khinh thường đối tượng. Sách nói Thái tuế khinh người quả là không sai.

Khi Mệnh có Thái Tuế, tức đi Phu mẫu Phải ở thế tam hợp với Thiên Không, có nghĩa là từ khi sinh mình ra thì công việc, sự nghiệp của cha mẹ đang trên đà xuống dốc nếu không muốn nói là suy sụp.

b. Nếu mệnh nằm trong tam hợp lấn tuổi

Thí dụ: tuổi dần ngọ tuất mà mệnh nằm ở 1 trong 3 cung Hợi Mão Mùi, tức là ở thế lấn và luôn luôn có Thiên Không, vì Thiên Không an ở đằng trước theo chiều thuận (chiều kim đồng hồ), trước Thái tuế 1 cung, ở đây lại chia làm 3 trường hợp:

Thiên Không ở tứ chính: tý, ngọ, mão, dậu tức là người khôn ngoan, lấn lướt, luôn luôn phải hơn người mới chịu, sắc sảo – nếu tại Mệnh thì đó là tư tưởng nhưng nếu tại Thân thì sự lấn lướt mà tục ngữ Việt Nam gọi là “khôn ăn người” lại tỏ ra bằng hành động.

Thiên Không ở thế tứ mộ: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Ðây là vị trí Thiên Không hoạt động mãnh liệt nhất, phá tán nhất, gây nhiều đổ vỡ nhất, vì Thiên Không là hành Hỏa sinh cho cung Thổ, tức là người hay thích đạp đổ tất cả những gì có từ trước để xây dựng lại theo ý của mình, loại người nguy hiểm, ác nếu có nhiều hung tinh gây bè kết đảng xúi giục.

Thiên Không ở thế tứ sinh: Dần, Thân, Tỵ, Hợi ở đây Thiên Không có Hồng Loan đi kèm, Không là sắc sắc không không, là vạn sự giai không Hồng Loan ngoài các ý nghĩa khác còn có ý nghĩa tương cho của chúa, cửa thiên đường – như ngầm nói lên con người có Thiên Không ở tứ sinh đã ngộ được chữ không ở đời mình, khéo tu thì tránh được phiền não.

Nhưng dù ở vị trí nào thì bản chất Thiên Không vẫn là vạn sự giai không, lo toan, khôn ngoan cho lắm thì kết quả sau cùng cũng vẫn là chữ không. Chỉ có những chân tu, nhưng người chọn theo cửa không thì mới được thoải mái vì không có thì không mất. Ví như kẻ trộm đi lấy tiền của 1 người túi rỗng thì phỏng có được gì, mà người bị trộm kia thì có gì để mất, nhưng đáng tiếc thay, trên đời này vòng danh lợi luẩn quẩn mấy ai đã ngộ được chữ “Không” ấy.

c. Mệnh ở Tam Hợp: Tang Môn, Ðiếu Khách, Tuế Phá tức là lấn với cung tuổi 2, hay lùi sau 2 cung

Ðây là loại người hay bất mãn, than vãn để đi đến đối lập, cuộc đời hay gặp nghịch cảnh để khơi nỗi niềm bất mãn lên cao nhưng nếu gặp Thiên Mã đồng hành bản mệnh thì lại giúp cho họ có một nghị lực vững vàng để sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn tiến đến thành công.

d. Mệnh ở thế lùi với cung tuổi

Tức là mệnh 6 cung sau cung tuổi, thí dụ tuổi dần ngọ tuất có mệnh ở tỵ dậu sửu, với vòng Thái Tuế là: Trực phù, Thiếu âm, Long Ðức là loại người hiền từ căn bản, hay nhịn không hơn thua, chó sủa mặc chó, đường ta ta cứ di, nhưng hành động lại vụng về chuyên đào giếng cho thiên hạ uống nước.

Nếu mệnh ở thế lùi cung tuổi thì Phu mẫu lại thế Thái Tuế và có Long Phượng Cái Hổ, như thế là từ khi sinh ra mình, cha mẹ sẽ ăn nên làm ra sự nghiệp thăng tiến.

Ðến đây, xin kính cẩn tri ơn cụ Thiên Lương, nhưng phổ biến việc khai triển vòng Thái Tuế và các kinh nghiệm có tính cách nghiệm lý của cụ về Tử Vi, đã gây một tiếng vang chấn động trong làng Tử Vi mà các cổ thư hay các cụ tiền bối của ta vì hữu ý hay vô tình không nói đến. Cụ đã mở ra, đã chứng minh, đã xây dựng thành công Tử Vi là cả một nguyên lý học, dạy con người ở đời phải sống thế nào cho được thoải mái, chứ không phải chỉ thu hẹp Tử Vi như một môn bói toán, với những định luật bắt buộc có tính cách cố định, như những ai kia hằng quan niệm.

7. Xem cung nhị hợp

CÁC CUNG NHỊ HỢP GỒM CÓ:

Nhưng cần lưu ý thế nhị hợp giữa 2 cung sinh xuất, hay sinh nhập, muốn biết cung nào sinh xuất hay sinh nhập cho cung nào cần biết thế tam hợp và hành của tam hợp.

Tam Hợp: Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa

Tam Hợp: Thân, Tý, Thìn thuộc Thủy

Tam Hợp: Hợi, Mão, Mùi thuộc Mộc

Tam Hợp: Tỵ, Dậu, Sửu thuộc Kim.

Như thế: 4 thế tam hợp chỉ có bốn hành Hỏa, Thủy, Mộc, Kim còn hành Thổ đi đâu mất? Trong dịch học có nói Thổ là trung ương, ứng với số 5, còn gọi là Ngũ Trung trong ngũ hành Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ thì hành Thổ là chính cho nên Tử Vi, Thiên Phủ là 2 sao đứng đầu của 2 nhóm chính tinh đều thuộc Thổ – ở đây ta thấy các Tam hợp Dần Ngọ Tuất tuy thuộc hành Hỏa, nhưng trong đó đã có Tuất Thổ, Thân Tý, Mùi thuộc Mộc có Mùi Thổ, Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim có Sửu Thổ.

Ðem hành của Tam Hợp so sánh với thế nhị hợp ta có:

Thân Tý Thìn: hành Thủy được Tỵ Dậu, Sửu hành Kim sinh nhập, hay Tỵ Dậu Sửu nhị hợp và sinh xuất Thân, Tý, Thìn.

Dần, Ngọ, Tuất, hành Hóa được Hợi, Mão, Mùi sinh nhập, hay Hợi, Mão, Mùi sinh Dần, Ngọ, Tuất.

Như vậy, trên lá số có 12 cung, có 6 cung được sinh nhập và 6 cung sinh xuất:

6 cung sinh nhập là: Dần, Ngọ, Tuất, Thân, Tý, Thìn.

6 cung sinh xuất là: Tỵ Dậu, Sửu, Hợi, Mão, Mùi.

Ðể cho dễ nhớ hơn, trong thế nhị hợp của 12 cung thì 6 cung dương là sinh nhập, còn lại 6 cung âm là sinh xuất.

Ứng dụng:

Nếu mệnh nằm ở cung âm là sinh xuất tức là người hào sảng, phóng khoáng dễ tha thứ, rồi xem đến cung nhi hợp là cung nào, tức là người hay lo toan yêu thương cho đối tượng thuộc cung ấy.

Thí dụ: mệnh ở Sửu- như thế Tý là cung huynh đệ cung mệnh nhị hợp và sinh xuất cho huynh đệ tức là người hết lòng thương yêu, hy sinh quyền lợi của mình cho anh chị em.

Nếu mệnh nằm ở cung dương là thế sinh nhập tức là ở thế thu vào, thế hưởng lợi, là người kỹ lưỡng làm việc gì cũng suy xét, tính toán cẩn thận. Lại xem đến cung nhị hợp là cung thuộc quan hệ nào, thì người ấy (bản mệnh) nhận được sự bao dung giúp đỡ che chở của đối tượng nhị hợp ấy.

Thí dụ: mệnh ở Thìn, nhị hợp và được nó ở Dậu sinh nhập cho mệnh như thế là người có cuộc sống gắn liền với bè bạn, luôn luôn được bạn giúp đỡ, tóm lại số nhờ bạn.

Các cung khác cũng luận như vậy. Cung an Thân cũng luận như thế vì Thân ở đây chính là cái ta vậy. Thứ đến luân đến yếu tố sao của cung nhị hợp: khi coi cung nhị hợp phải để ý xem có chính tinh nhị hợp, phải để ý xem có chính tính nhị hợp hay không?

Nếu có mới là bảo đảm nhị hợp còn nếu không chỉ là hư vị mà thôi. Thí dụ: Tử vi ở cung Ngọ (dương) nhị hợp với cung Mùi (âm) nếu lấy lý âm dương mà suy thì âm phò dương tức Mùi sinh Ngọ – nhưng hễ cứ Tử Vi cư Ngọ thì cung Mùi bao giờ cũng vô chính diệu mà đã vô chính hiệu thì lấy gì kết đôi với Tử Vi đây? Như thế thì cung Ngọ không thể hưởng được các sao ở cung Mùi.

8. Xem cung xung chiếu

Như thế nào thì hưởng thế xung chiếu? Cung Thiên Di luôn luôn ở thế xung chiếu với cung Mệnh tức là thế đối nghịch với mình, sách xưa nói Thiên Di là ra ngoài, phải hiểu rằng Thiên Di chính đối phương của mình, vì thế mới có câu:

Ðối phương hung đương đầu ác bổng. Ðối phương cát ngưỡng diện xung phong.

Nếu cung Thiên di khắc cung Mệnh tất không được hưởng cung Thiên Di, mà còn xấu rứa là khác, nếu cung đi và tam hợp của đi có nhiều hung sát tinh hội họp.

Thí dụ: người có mệnh lập ở Dần, Thiên di ở Thân mà tam hợp Thân Tý, Thìn lại có sát tinh, thì khi ra đời hay bị thua kém. Chỉ được hưởng cung Thiên Di khi cung mệnh khắc cung di, đây chính là lúc áp dụng coi chính điệu xung chiếu như chính diệu tọa thủ đối với cung vô chinh diệu. Thí dụ: người mệnh lập ở Thân có Thiên Di ở Dần, Thân khắc Dần nên mới thu hút được các sao ở cung Dần sang, coi như ở thế bị khắc thì đã bị khắc rồi thì còn lấy của đối phương làm sao được?

9. Cách cuộc tốt xấu của các cung liên hệ

Phải để ý Thân, Mệnh, Tài, Quan có bị Tuần Triệt xâm phạm không? Tật ách có được Tuần, Triệt hay các sao cứu giải như Hoa Khoa cư ở đấy không?

Sau khi đã biết được tổng quát cuộc đời và các cung liên hệ như Bào, Thê, Tử.. thì coi đến hạn.

10. Cách coi hạn

Trong lá số Tử Vi có 2 loại hạn. Tiếng hạn đây chỉ có nghĩa như một khoảng thời gian có giới hạn mà trong đó mình sẽ gặp hay được hướng những gì chứ không phải hạn đây là tai nạn.

Ðại hạn: khoảng chừng 10 năm.

Tiểu hạn: khoảng 1 năm.

A. Ðại Hạn

Trước hết phải xem yếu tố đại cuộc, tổng quát xem đại hạn ấy có thuận lợi cho mình không? Bằng cách dùng tam hợp tuổi của mình so sánh với hành tam hợp của từng đại hạn để xem xung khắc thế nào?

Ðược tương hòa: tức là vận đáo Thái Tuế đắc Long Phượng Cái Hổ

– Nếu gặp nhiều cát tinh thủ chiếu, đang gặp tai nạn thì cũng được cứu giải mà qua khỏi

– Nếu gặp nhiều hung tinh phá cách mát mặt với đời.

Thí dụ như người tuổi Dần, Ngọ, Tuất, đại hạn 10 năm đến cung Dần, Ngọ, Tuất.

Ðược tương sinh: hành của tam hợp, đại hạn.. sinh hành của tuổi, thì đủ: tuổi Dần, Ngọ, Tuất, Đại hạn đến cung Hợi, Mão, Mùi (mộc sinh Hỏa) được thuận nhập có nhiều thuận lợi may mắn, sức khỏe tốt.

Tam Hợp của tuổi khắc Tam hợp đại hạn

Thí dụ: Dần, Ngọ, Tuất là Hỏa đáo vận Tỵ, Dậu, Sửu là Kim khắc xuất, tức là mình đi khắc người ta, vất vả không tốt.

Tam Hợp đại hạn khắc tam hợp tuổi

Thí dụ: tuổi Dần Ngọ, Tuất đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn là Thủy khắc Hỏa, là khắc nhập tức là bị người ta khắc mình, rất xấu, dù các sao trong Ðại Hạn có tốt mấy đi nữa thì cũng bị giảm đi rất nhiều.

Sau khi đã xem đến Ngũ Hành Sinh Khắc để biết trong đại hạn 10 năm ấy, có được thuận lợi hay không, phải để ý đến các sao thủ mệnh thuộc bộ nào, có hợp bộ với các sao trong đại hạn hay là bị các sao của hạn làm phá cách đi. Thí dụ: mệnh Nhật Nguyệt tối kỵ hạn gặp Hình Kỵ, mệnh Thất Sát kỵ hạn gặp Kình Ðà, tối độc mệnh có Lục Sát Tinh, hạn lại gặp Ðại hao, Phá quân như trên chỉ là thí dụ điển hình, nhiều cách, nhiều sao phá nhau đã được trình bày trong bất cứ các sách Tử Vi nào cũng có, nhưng truy nguyên cũng suy từ tính chất các sao mà ra, ta cứ học kỹ tính chất các sao mà ra, ta cứ học kỹ tính chất các sao nghiền ngẫm, sẽ tìm được sự sinh khắc chế hóa thật là kỳ thú, nhiều khi thấy tốt đấy mà không phải là vậy, nhìn phớt thấy toàn sao tốt, nhưng chỉ một sao nhỏ cũng làm cho phá cách đi, tỷ như có người con gái mệnh có Ðào hoa ngộ Thiên Không, Hình, Riêu mà sao không lẳng lơ dâm đãng, lại thật là đúng đắn, vì có sao Nguyệt Ðức ở đấy, sao nãy hóa giải được tính hoa nguỵêt của đào hồng, hay người mệnh Hỏa mà hạn gặp sao Thủy thì không những chẳng được hưởng mà còn mang họa nữa là khác. Tóm lại: các sao trong hạn phải hợp bộ với bản mệnh và hợp bộ với bản mệnh và hợp hành với mệnh của mình thì mới được hưởng, rồi xem lại đến hành của tam hợp đại hạn ấy mình được sinh khắc thế nào mà chế hóa đi cho tinh tường của Tử Vi cũng là chỗ này vậy.

Khi xem đại hạn nên chú ý đến các sao trong hạn, tuy hợp bộ nhưng tính chất có khác biệt với các sao ở mệnh không nếu có thì người ấy đến đại hạn đó sẽ đổi nghề, thí dụ: người mà các sao thủ mệnh là văn tinh như Xương Khúc Khôi Viêt.. nhưng đến Ðại Hạn lại gặp võ cách như Binh Hình Tướng Ấn, Sát Phá Tham tức là người ấy sẽ đổi văn ra võ, lại như người đang là võ cách đến đại hạn gặp toàn văn tinh, quí tinh nhưng sao an nhàn thì quyết là đổi võ ra văn, hay một người có số thầy thuốc nhưng đến đại hạn lại gặp Kình đã đắc địa. Các sao mồm mép như Cựu cơ và các Tài tinh, mà không gặp các Quý Tinh như Quan Phúc, Quang Quí, thì đại hạn ấy sẽ đổi nghề thầy thuốc ra thương mại.

Các trường hợp khác cũng vậy cứ tính chất các sao mà suy. Ở đây tôi chỉ xin phép để nhắc lại với quý đọc giả cái kỳ thú do sự nghiệm lý ở Tử Vi mà thôi cái Dịch học của Á Ðông ta biến hóa vô cùng dù viết cho có thiên kinh vạn quyển cũng bất tận nhưng quy lại cũng chỉ có một nguyên tắc là Âm Dương, Ngũ Hành sinh khắc chế hóa nên người học Tử Vi cũng vậy, cứ nghiền ngẫm cho kỹ tính chất các sao và đặc tính của mỗi cung số là nắm được chìa khóa, đi từ gốc đi lên ta sẽ không bị lạc vào rừng, sở dĩ có trường hợp “a diêu” tử vi là vì có nhiều người khi cầm một quyển sách chỉ muốn đoán ngay được cái vận mạng của con người, nên chỉ lật phần lý giải mã không xem kỹ những nguyên tắc, có biết đâu phần phụ cũng như lý giải chỉ là những trường hợp điển hình tổng quát để giúp ta theo đó mà biến hóa cái cần bàn ra hơn nữa.

B. Tiểu Hạn

Tiểu hạn là những gì xảy ra trong 1 năm, đến với con người, trước khi đi vào tính chất các sao trong cung Tiểu hạn, nên lưu ý đến xung khác với tuổi của mình không, thí dụ như tuổi Canh Dần đến năm Bính Thân, Thiên Can là Bính Hỏa khắc Canh Kim, Ðịa Chi là Thân Kim khắc Dần Mộc. Như vậy gọi là năm Thiên khắc Ðịa Xung, độc lắm, thế nào cũng có một vài rắc rối xảy ra. Dù gặp nhiều sao tốt cũng bị giảm bớt đi, nếu có nhiều sao xấu thì lại càng hung bạo.

Xem đến hành của năm tiểu hạn là hành gì, sinh khắc với bản mệnh thế vững hay không? Thí dụ: năm nay Tân Dậu là Hành Mộc, sẽ Thiên Khắc địa xung với người tuổi Ất Mão, và tất cả mọi người tuổi Mão đối với năm nay đều là năm xung, làm ăn sẽ không khá và có khi là còn gặp tai nạn nữa, vì là năm Mộc cho nên tốt cho những có mệnh Mộc hay Hỏa, vất vả cho mệnh Thủy lao đao, bất lợi cho mệnh Thổ.

Kể đến đem hành của bản mệnh so sánh với hành của cung tiểu hạn để xem sự tốt xấu thế nào. Vì đây chính là cái căn bản, cái gốc, yếu tố sao chỉ là cái thân, cái ngọn để đoán tiểu hạn.

Về mục này trong cổ thư về Tử Vi có bài Phú như sau:

1. Kim nhân ngộ khảm mệnh tử thương 2. Mộc mệnh lạc hy hữu họa ương. 3. Thủy ngộ càn cung ứng khiến trệ. 4. Hỏa lai đoài thương hảo nan toàn. 5. Thổ khắc đông nam phung chấn tốn 6. Tu phòng nùng huyết cập kinh hoàng. 7. Túng nhiên cát điệu tương phùng chiếu. 8. Vị miễn quan tai náo nhất tràng.

Xin được giải như sau:

Người mệnh Kim mà tiểu hạn đi đến cung Tí là cung Khảm thuộc hành Thủy thì bị thương hại vì bản mệnh kim sinh xuất cho cung Tí là Ðại hải Thủy, như thế ắt mệnh sẽ bị suy tàn.

Người bản mệnh Mộc hạn đi đến cung Ngọ là quẻ Ly hành Dương Hỏa Mệnh Mộc sinh cho cung Ngọ là Lôi Trung Hỏa, tất được sang nhưng để rồi lại tan ra tro bụi, nên không tránh khỏi tai ương họa hại để tổn đến bản thân.

Người mệnh Thủy mà hạn đến cung Dần quẻ Cấn – Hành Thổ là ngưng chi bế tắc – mệnh Thủy bị Thổ khắc cho nên kiếm vận bị bế tắc – như ngòi lạch bị chận ngưng.

Người Mệnh Thủy mà hạn đến cung Dần quẻ cấn – Hành Thổ là ngưng chi bế tắc – mệnh Thủy bị Thổ khắc cho nên kiếm vận bị bế tắc – như ngòi lạch bị chận ngưng.

Người mệnh Hỏa hạn đến cung Dậu quẻ đoài thuộc Kim – tức là mệnh Hỏa khắc cung Kim tức là không có chỗ nương thân – vì mình khắc chỗ đứng của mình mà Hỏa khắc Kim thì rồi Hỏa bị sa lầy vì nếu Kim bị khắc sẽ sinh ra Thủy mà khắc ngược lại Hỏa. Trong ngũ hành tương khắc chỉ có hành kim là đặc biệt.

Người Mệnh Thổ hạn đi đến cung Mão, quẻ chấn, thuộc Mộc, khắc mệnh Thổ, là chỗ đứng khắc mình nặng nhất ở cung Chấn vì chấn là tượng cho lôi đình, sấm sét nên những sự việc không hay xảy đến cho người mệnh Thổ có lưu hàn ở cung Mão, thường xảy ra bất ngờ và mãnh liệt.

Tất cả trường hợp trên phải đề phòng bệnh tật tai ương và rất cần gặp được Tuần Triệt án ngữ – hay cát tinh hợp chiếu thì mới ra khỏi, nhưng cũng gặp một phen hoảng vía.

Kế đến là chú ý đến các sao trong cung tiểu hạn, nếu Ðại Hạn đáo cung Thái Tuế làm cho con người được nhẹ bước thang mây bao nhiêu, thì tiểu hạn Thái Tuế lại rắc rối bấy nhiêu vì vậy nên cụ Lê Quý Ðôn mới có câu:

Nhưng điều quan trọng khi đoán hạn, nếu thấy cát tinh cung chiếu phải để ý xem có sao nào làm cho phá cách không nếu thấy số xấu quá, gặp toàn hung tinh, hay nghịch lý âm dương ngũ hành thì phải đi tìm Tuần, Triệt và các sao cứu giải xem nằm ở đâu, có chiếu vào hạn để cứu khốn phò nguy hay không?

Còn như muốn biết cách cuộc của một người thuộc loại như văn đoàn, hay võ cách, thương mại hay tiện nhân, thọ yểu ra sao thì cứ lấy tính chất các sao thủ và tam hợp chiếu với mệnh, lại lấy ngũ hành của bản mệnh sánh với ngũ hành của chính tinh thủ chiếu rồi để ý xem có ác sát tinh nhập mệnh không mà đoán, sẽ thấy rõ được cái dự thảo mà Thượng Ðế đã dành cho mình do cái nhân của mình đã gieo từ tiền kiếp, để rồi cho mình tự do chọn lối sống thế nào mà ngay từ cái đời hiện tại vẫn có thể tu sửa để tránh được những phiền não mà kiếp người trong cõi nhân sinh không mấy ai thoát khỏi.

Luận Đoán Vận Hạn Trong Lá Số Tử Vi

1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐOÁN VẬN HẠN

– Gốc đại hạn mười năm

– Lưu đại hạn một năm

– Lưu niên tiểu hạn một năm

– Sự tương sinh, tương khắc giữa + Cung nhập hạn và Bản Mệnh.

+ Cung nhập hạn và Chính diệu nhập hạn (nếu có) + Chính diệu nhập hạn và Bản Mệnh (nếu có)

– Chính diệu nhập hạn và chính tọa thủ Mệnh thuộc cùng nhóm hay khác nhóm

– Sự tốt xấu của các sao hội hợp nhập hạn

– Đặc biệt chú ý đến Sát tinh và Bại tinh (nếu có)

1.2. Kết hợp nhận định

– Quan sát vận hạn, nếu thấy có nhiều sự tương sinh là tốt đẹp. Trái lại, nhiều sự tương khắc là xấu xa. Thuận lý: cung nhập hạn sinh Chính diệu nhập hạn, Chính diệu nhập hạn lại sinh Bản Mệnh.

– Tại cung nhập hạn, trong số những sao hội hợp nếu quá nửa tốt đẹp được coi ở hạn tốt. Trái lại nếu quá nửa xấu xa, phải coi là hạn xấu.

– Nhận xét vị trí và ảnh hưởng tốt xấu của những sao lưu động, đặc biệt chú ý lưu Thái Tuế.

– Cân nhắc sự tốt xấu của đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm, lưu niên tiểu hạn một năm và ảnh hưởng của những sao lưu động.

– Vận hạn ở cung nào phải đặc biệt chú ý đến những sự hay dở và những việc xảy ra trong phạm vi cung đó.

– Kết hợp tính chất của những sao hội hợp nhập hạn để luận đoán những sự may mắn, tốt lành hay không tai ương họa hại. Muốn rộng đường luận đoán, đồng thời đi sâu vào chi tiết của vận hạn, nên hỏi: “Thức ăn, thức uống, vật dụng và cơ thể, biểu tượng bằng các sao”. Sự kết hợp này chỉ nên áp dụng triệt để và đặc biệt trong lưu niên tiểu hạn.

– Luận đoán rất cẩn thận, trước hết là cung Phúc Đức sau đến Mệnh, Thân, để cân nhắc họa phúc. Sự tốt xấu của ba cung này thưởng làm tăng hay giảm những sự đáng mừng hay đáng lo trong vận hạn.

2.1. Liên hệ giữa đại hạn và tiểu hạn

Trong khoảng đại hạn mười năm tốt đẹp, xem tiểu hạn một năm xấu cũng không đáng lo ngại vì ảnh hưởng cứu giải của đại hạn đã giải trừ được một phần lớn những tai ương họa hại của tiểu hạn.

Trái lại, trong khoảng đại hạn mười năm xấu xa, xem tiểu hạn một năm tốt thì tất nhiên sự tốt đẹp cũng bị giảm bớt.

2.2. Liên hệ giữa tiểu hạn và lưu nguyệt hạn

– Hạn một năm tốt đẹp nhưng trong năm đó hạn một tháng lại xấu cũng không đáng lo ngại.

– Trái lại hạn một năm xấu xa nhưng trong năm đó hạn một tháng lại tốt thì tất nhiên sự tốt đẹp cũng bị giảm bớt.

2.3. Liên hệ giữa Bản Mệnh và cung nhập hạn (Tiểu hạn một năm)

– Kim Mệnh: hạn đến cung Tý, thuộc quẻ Khảm (thuộc Thủy) Kim sinh Thủy, ví như vàng chảy ra nước nên Bản Mệnh bị hao tổn, bởi vậy thường mắc tai ương, rất đáng lo ngại.

– Mộc Mệnh: hạn đến cung Ngọ, thuộc quẻ Ly (thuộc Hỏa) Mộc sinh Нỏa, ví như củi gỗ nhóm lửa sau tán thành tro than nên Bản Mệnh tuy sáng sủa rực rỡ, nhưng chẳng được lâu bền, bởi vậy rất khó tránh những tai ương họa hại.

– Thủy Mệnh: hạn đến cung Dần, thuộc quẻ Cấn (thuộc Mộc) Thủy dưỡng Mộc, ví như nước tưới tắm cho cây cỏ, về sau bị khô сạn nên Bản Mệnh lâm vào chỗ bế tắc, bởi vậy mọi việc đều bị trắc trở, không được xứng ý toại lòng.

– Hỏa Mệnh: hạn đến cung Dậu, thuộc quẻ Đoài (thuộc Kim) Hỏa khắc Kim, ví như lửa nung vàng nóng chảy nên Bàn Mệnh bị nguy khốn, bởi vậy khó mà tránh thoát được những tai ương khủng khiếp.

– Thổ Mệnh: hạn đến cung Mão, thuộc quẻ Chấn (thuộc Mộc) Thổ khắc Mộc, vả lại Chấn là biểu tượng của sấm sét điện lửa nên Bản Mệnh đã suy nhược lại bị hoại thương, bởi vậy thường hay mắc bệnh điên cuồng hay bệnh khí huyết rất nguy hiểm.

2.4. Liên hệ giữa Mệnh, Thân và Hạn

Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng hạn tốt. Mệnh tốt chỉ được xứng ý toại lòng lúc còn trẻ tuổi. Đến lúc đứng tuổi về hậu vận lại cần phải có Thân tốt mới khá giả. Nhưng Mệnh, Thân tốt cũng không bằng Hạn tốt. Nếu Mệnh, Thân mờ ám, nhưng hạn rực rỡ cũng vẫn phát đạt ví như lúa non gặp mưa thuận, gió hòa. Mệnh tốt, Thân tốt, Hạn cũng tốt tất được hưởng giàu sang sung sướng từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm mắt trở về với cát bụi. Mệnh, Thân thật rực rỡ, nhưng chẳng may gặp Hạn suy kém cũng đỡ lo ngại, vì Mệnh Thân đây có thể giải trừ khá nhiều sự chẳng lành. Đáng lo buồn nhất là Mệnh xấu, Thân xấu, Hạn cũng xấu. Thật là một đời cùng khốn, nếu chết non là may mắn, còn sống ngày nào tất phải điêu đứng ngày đó.

– Mệnh có Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đổng, Lương sáng sủa tốt đẹp. Hạn lại phải gặp những sao cũng thuộc nhóm đó và cũng phải sáng sủa tốt đẹp mới được hiển hách, mới được xứng ý toại lòng.

– Mệnh có Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp. Hạn phải gặp những sao cũng thuộc nhóm đó và cũng phải sáng sủa tốt đẹp thì mọi sự mới được hành thông và danh tài hưng vượng. (nên chú ý rằng Sát tinh hay Bại tinh thường phủ tá cho Sát, Phá, Liêm, Tham). Trong trường hợp này nếu Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham mờ ám xấu xa nhưng lại được Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp hội hợp cũng không đáng lo ngại.

– Mệnh, Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh cùng sáng sủa tốt đẹp, tất trong cái may có chứa đựng nhiều cái rủi, tuy khá giả nhưng luôn luôn phải đề phòng mọi tai họa bất kỳ (ngoại trừ tuổi Kỷ) nhưng nếu

Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh nhập Hạn lại mờ ám xấu xa, tất không thể tránh được tai ương họa hại và hay phải lo nghĩ buồn phiền.

– Mệnh có Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cũng sáng sủa tốt đẹp, tuy khá giả nhưng vẫn chưa được toại nguyện. Nếu Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương nhập Hạn lại mờ ám xấu xa tất mọi sự đều bế tắc, thành ít bại nhiều.

– Mệnh có Vũ, Tướng sáng sủa tốt đẹp, Hạn lại gặp Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, hay gặp Sát tinh, Bại tinh nhưng tất cả đều sáng sủa tốt đẹp cũng vẫn phát đạt tài quan song mỹ. Trong trường hợp này nếu những sao nhập Hạn kể trên lại mờ ám xấu xa cũng không đáng lo ngại lắm.

– Mệnh có Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hay Sát, Phá, Liêm, Tham, hay Sát tinh, Bại tinh tất cả đều sáng sủa tốt đẹp. Hạn gặp Vũ, Tướng cũng sáng sủa tốt đẹp tất danh tài hoạnh phát, gặp nhiều sự may mắn. Cũng trong trường hợp này nếu Vũ, Tướng nhập Hạn lại mờ ám xấu xa tất danh tài bị chiết giảm đôi chút nhưng cũng không đáng lo ngại lắm.

– Mệnh vô Chính diệu cần gặp Sát, Phá, Liêm, Tham hay Sát tinh, Bại tinh sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn hơn là Tử, Phủ, Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn. Mệnh vô Chính diệu có Hạn gặp Sát, Phá, Liêm, Tham, Sát tinh hay Bại tinh dù tốt đẹp hay xấu xa thì mưu sự bao giờ cũng trước khó sau dễ, có vượt được trở ngại ban đầu về sau mới khá giả. Trong trường hợp này, nếu những sao kể trên nhập Hạn lại sáng sủa tốt đẹp, chắc chắn là danh tài hoạnh phát mọi sự đều hành thông. Nhưng nếu trái lại, những sao kể trên nhập Hạn lại mờ ám xấu xa, tuy vẫn khá giả nhưng thường may ít rủi nhiều và hay phải lo lắng buồn phiền.

– Mệnh vô Chính diệu, cung nhập Hạn cũng vô Chính diệu tất mọi sự đều dở dang bế tắc, không được xứng ý toại lòng vì thành ít bại nhiều. Trong trường hợp này nếu cung nhập hạn vô Chính diệu lại gặp Tuần, Triệt án ngữ tất mọi sự hành thông danh tài hưng vượng.

– Mệnh rất mờ ám xấu xa, nhưng nếu cung nhập Hạn lại là cung Mệnh, cũng không đáng lo ngại (ngoại trừ trường hợp Không, Kiếp thủ Mệnh).

– Mệnh có Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội hợp. Hạn gặp La, Tử, Tuyệt, Cự, Đồng hội hợp và có nhiều Sát tinh xâm phạm tất phái bỏ mình nơi trận mạc, như Quan Vân Trường đời Tam Quốc.

– Tuổi Giáp, Kỷ, Mệnh có Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội hợp. Hạn gặp Hồng, Xương, Tấu, Kình hội hợp, nên mọi sự đều hành thông, tài lộc được tăng tiến.

– Tuổi Kỷ, Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội hợp. Hạn gặp Sốt, Phá, Liêm, Tham hội hợp cùng với Tả, Hữu nên công danh sớm phát đạt.

– Tuổi Ất, Tân. Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội hợp và có Hư, Kình, Tuế, Khách xâm phạm. Hạn lại gặp những sao kể trên nên hoạnh đạt về võ nghiệp.

– Thân, Sát, Phá, Liêm, Tham hội hợp. Hạn gặp Võng, Hình, Khôi hội hợp và Kỵ Đà xâm phạm tất bị ám sát như Trương Dực Đức đời Tam Quốc.

– Cung Mệnh an tại Sửu, Mùi có Tử, Phủ tọa thủ đồng cung. Hạn đến cung Thổ có Tả Hữu hội hợp, nên xứng ý toại lòng vì tài quan song mỹ. Trong trường hợp này nếu Thân lại có Hồng, Lộc, Khoa hội hợp chắc chắn là mọi sự đều hành thông tốt đẹp ví như rồng mây gặp hội vậy.

– Mệnh an tại Ngọ, có Nhật tọa thủ. Hạn gặp Hình, Tang, Hổ, Khốc hội hợp nên phát đạt khá giả.

– Mệnh аn tại Ngọ có Tử Vi tọa thủ, hội hợp Khoa, Quyền. Lộc, Hình, Ẩn, Xương, Khôi, Hồng, Bật nên vẻ mặt đẹp đẽ, dáng đi hùng dũng nhưng Hạn gặp Cự, Sát, Đà, Linh hội hợp tất phải chết vì uất hận như Chu Du đời Tam Quốc.

– Mệnh an tại Tý, có Tử Vi tọa thủ khó cứu giải được tai họa. Hạn đến cung Thìn, Tuất gặp nhiều Sát tinh hội hợp tất không thế tránh được tù tội.

– Mệnh an tại Dần, Thần, có Cự, Nhật tọa thủ đồng cung. Hạn gặp Kiếp Sát, Hình, Kiếp, Kỵ hội hợp phải đề phòng bệnh tim phổi, nếu gặp thêm Mã, tất phải mang thương tích ở chân tay.

– Mệnh có Cự hay Kỵ tọa thủ. Hạn gặp Tuế, Đà, Phủ hội hợp, tất hay mắc kiện tụng hay tranh chấp thị phi.

– Thân an tại Dần có Cơ, Nguyệt tọa thủ đồng cung. Hạn gặp Liêm, Hổ, Linh, Riêu hội hợp tất khó nuôi con, đàn bà có mang tất bị trụy thai. Nếu lại gặp thêm Kiếp, Hình hội hợp, thật khó tránh được ngục tù, đàn ông gặp Hạn này rất đáng lo ngại. Đây chỉ có Khoa, Phượng nhập Hạn đồng cung mới có thể cứu giải được.

– Mệnh an tại Hợi, có Nguyệt tọa thủ. Hạn gặp Quyền, Kỵ, Khúc, Xương hội hợp, nên rất khá giả.

– Mệnh có Nguyệt tọa thủ, hội hợp Hồng, Kình, Riêu, Kỵ. Hạn gặp Xương, Vũ hội hợp, nên xuân tình phát động, trai hay gái gặp hạn này đều khó kiềm lòng trước sự cám dỗ của sắc dục.

– Mệnh an tại Mão có Thiên Tướng tọa thủ, hội hợp Sinh, Vượng, Hồng, Đào, Tả, Hữu, Quyền Xương là người vũ dũng, mặt đẹp như hoa nhưng Hạn gặp Phá, Kiếp, Kình, Đà hội hợp tất phải lẩn quẩn trong vòng tình ái và mang lụy vì nữ sắc như Lã Bố vậy.

– Tuổi Mậu, Canh, Âm nữ, Mệnh an tại Thìn hay Tuất có Vũ Khúc hay Tham Lang tọa thủ là người có tài, nhưng không có đức hạnh, thêm Kiếp, Không hội hợp lại càng xấu xa đê tiện. Hạn gặp Kình, Đà hội hợp tất không toàn được tính mạng.

– Mệnh, Thân có Sát tọa thủ. Hạn gặp Kình hay Đà tất hay mắc phải những tai họa khủng khiếp.

– Mệnh có Sát hay Hình, Linh tọa thủ. Hạn gặp Hổ tất khó tránh được tù tội.

– Tuổi Tân, Đinh, Mệnh an tại Dần, Thân có Phá Quân tọa thủ, hội hợp Hỏa, Việt là người giỏi về máy móc. Hạn gặp Mã, Tuyệt hội hợp có nhiều Sát tinh xâm phạm, tất khó tránh được những tai nạn què gãy chân tay.

– Mệnh an tại Tý, Ngọ có Liêm, Tướng tọa thủ đồng cung. Hạn gặp La, Võng, Tham, Linh, Đà hội hợp, tất bị chết chém một cách thê thảm như Hàn Tín đời Đông Hán.

– Tuổi Ất, Kỷ, Âm nam, Mệnh an tại Sửu, Mùi có Liêm, Sát tọa thủ đồng cung là người trí dũng. Hạn gặp Khoa, Sinh hội hợp nên hoạnh phát công danh và tài lộc.

– Mệnh có Tham tọa thủ. Hạn gặp Song Hao tất phải túng thiếu, sa sút của cải.

– Mệnh có Tham tọa thủ. Hạn gặp Lộc nên tiền tài phong túc.

– Mệnh có Không hay Kiếp tọa thủ hay bi Tuần, Triệt án ngữ. Hạn dù có gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp cũng vẫn bị trắc trở buổi đầu.

– Mệnh có Không hay Kiếp tọa thủ. Hạn lại đến Mệnh gặp Không hay Kiếp tất sự nghiệp phải sụp đổ và tính mệnh cũng không thể an toàn được.

– Mệnh có Hỏa hay Linh tọa thủ. Hạn gặp Kiếp, Không, Thương, Sứ hội hợp tất hay gặp tai họa khủng khiếp

– Mệnh có Lộc tọa thủ. Hạn gặp Song Hao tất phải nghèo túng khốn khổ.

– Mệnh có Song Hao tọa thủ. Hạn gặp Lộc nên có nhiều tiền bạc ăn tiêu dư dật.

– Mệnh có Song Hao tọa thủ. Hạn gặp nhiều Sát tinh hội hợp tất bị túng thiếu.

– Mệnh hay Thân có Khôi, Việt tọa thủ, cung nhập Hạn là cung Mệnh hay cung Thân, nên hoạnh phát danh tài và chắc chắn là được lui tới gần bên bậc nguyên thủ.

– Mệnh có Tướng Quân tọa thủ, hội hợp Cái, Đào, Khúc, Mộc là người dâm đãng. Hạn gặp Cơ, Riêu hội hợp nên đêm nằm tràn trọc vì có sự thôi thúc của nhu cầu sinh lý.

– Tuổi Bính, Nhâm, Mệnh an tại Tỵ, Hợi có Tướng, Binh, Ấn hội hợp là người có uy quyền hiển hách. Hạn gặp Phá, Quyền, Lộc hội hợp nên hoạnh phát danh tài.

– Mệnh vô Chính diệu. Hạn gặp Sát, Phá, Tham hội hợp Đào, Hồng, Suy, Tuyệt, tất tính mạng không thể an toàn được. Số Gia Cát Võ Hầu đời Tam Quốc cũng Mệnh vô Chính diệu chẳng may gặp Hạn này nên phải về chầu trời.

2.3. Liên hệ giữa năm tuổi và năm hạn, năm xung

Có những tuổi kỵ gặp những năm Hạn và năm Xung. Nếu gặp thường hay xảy ra những sự chẳng lành. Như vậy rất cần phải có sự cứu giải của những sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp.

NHẬN ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG SAO NHẬP HẠN

3.1. Nhận định ảnh hưởng của Nam đẩu tinh và Bắc đẩu tinh

– Nam Đẩu tinh sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn, hợp với Dương Nam, Âm Nữ.

– Bắc Đẩu tính sáng sủa tốt đẹp nhập Hạn, hợp với Âm Nam, Dương Nữ.

– Nam Đẩu tính nhập Hạn bất cứ ở vị trí nào dù tốt hay xấu, cùng chỉ có ảnh hưởng mạnh mẽ trong khoảng thời gian cuối Hạn, còn trong khoảng đầu rất ôn hòa.

+ Nhập đại hạn mười năm chỉ mạnh mẽ trong khoảng năm năm cuối + Nhập tiểu hạn một năm chỉ mạnh mẽ trong khoảng nửa năm cuối.

– Bắc Đẩu tinh nhập Hạn bất cứ ở vị trí nào dù tốt hay xấu, cũng chỉ có ảnh hưởng mạnh mẽ trong khoảng thời gian đầu Hạn, còn trong khoảng cuối rất ôn hòa.

+ Nhập đại hạn mười năm chỉ mạnh mẽ trong khoảng năm năm đầu. + Nhập tiểu hạn mười năm chỉ mạnh mẽ trong khoảng nửa năm đầu.

– Tử Vi vô hãm nhưng nếu nhập Hạn tại Tỵ, Hợi, Mão, Dậu sự tốt đẹp cũng suy giảm, danh tài bình thường và nếu có tai họa cũng khó mà giải trừ cho qua khỏi.

– Đại tiểu hạn trùng phùng (cùng một cung) có Tử Vi gặp Tuần, Triệt án ngữ tất tính mạng lâm nguy, rất đáng lo ngại.

– Phủ, Vũ, Tướng, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc: hoạnh phát danh tài gặp nhiều sự may mắn.

– Khôi, Việt: có danh giá, nếu tranh chấp với ai cũng thắng lợi.

– Tam Không, Kiếp, Kỵ: đau ốm nặng, mất của phá sản

– Kình, Đà, Kiếp, Kỵ: đau ốm, mắc lừa.

– Sáng sủa tốt đẹp lại gặp nhiều sao rực rỡ hội hợp, nên danh vị cao thăng, tài lộc dồi dào.

– Tỵ, Hợi: giao du với người lạ rất bất lợi, hay sinh hiềm thù, dễ mắc tù tội.

– Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi gặp Hỏa, Linh: mắc tai nạn khủng khiếp, hay bị lừa đảo, hãm hại.

– Tỵ, Hợi gặp Hình: không thoát được lao tù.

– Tham, Sát, Phá: đau yếu bị oán trách.

– Phá đồng cung gặp Kiếp, Kình: mắc kiện tụng, dễ bị tù tội.

– Kình, Đà: gặp nhiều sự rủi ro, hay phải bận lòng lo lắng

– Hình, Kỵ, Kình, Đà: tai nạn về đao thương hay súng đạn, khó tránh được lưu huyết.

– Sáng sủa tốt đẹp hay mờ ám xấu xa: thay đối chỗ ở hay công việc.

– Sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng.

– Mờ ám xấu xa: mọi sự trước hành thông, sau bế tắc, hao tán tiền tài, hay mắc kiện tụng, nếu có quan chức tất bị bãi truất.

– Kình, Linh: toại ý trong việc cầu hôn.

– Kỵ: đau bụng.

– Sáng sủa tốt đẹp: tài lộc hưng vượng, nếu gặp thêm Tà, Hữu, Xương, Khúc lại càng phát đạt, chắc chắn là tài quan song mỹ, nếu gặp thêm Quyền tất được cử đi trọng trấn biên thùy.

– Mờ ám xấu xa: mọi sự đều bế tắc, không mắc tai nạn cũng hao tán tiền tài, truất giáng quan chức.

– Sáng sủa tốt đẹp: hoạnh phát danh tài.

– Mờ ám xấu xa: đau yếu, có bệnh ở mắt hay đầu (nhức đầu), hao tán tiền tài, sức khỏe của cha, hay chồng (nếu là đàn bà gặp Hạn) suy kém. Nếu chẳng may lại gặp thêm Tang, Kỵ, Đà phải quyết đoán là cha chết, hay chồng chết

– Long Trì: đau mắt

– Long Trì, Thanh Long: trong nhà có người mắc tai nạn sông nước (cung nhập Hạn ứng phương nào, tất tai nạn xảy ra tư phương đó).

– Riêu, Đà, Kỵ: đau mắt nặng, nếu không cũng bị đau yếu, hao tán tiền tài, nếu có quan chức tất bị truất giáng.

– Hỏa, Linh, Kình, Đà: mọi việc đều trắc trở, sức khỏe сủa cha hay chồng rất kém, đau mắt nặng, sản nghiệp tiêu hao.

– Sáng sủa tốt đẹp: kinh doanh phát tài, mọi sự hành thông, thường quyền hành lớn trong tay, lại gặp được nhiều qúy nhân phù trợ, nếu gặp thêm Lộc lại càng phát đạt.

– Mờ ám xấu xa: chẳng được yên thân, trong nhà rối ren bất hòa, bên ngoài nhiều sự lôi thôi như thị phi, khẩu thiệt, nếu chẳng may lại gặp thêm Kình, Đà, Cự hội hợp, thật là khó tránh được tai họa. Trong trường hợp này, nếu gốc đại hạn mười năm mờ ám phải quyết đoán là chết.

– Nguyệt, Đồng, Lương, Tả, Hữu, Sát tinh: gặp thời làm quyền gian.

– Lương, Tuế, Tang: ngã đau từ trên cao rớt xuống, trong nhà có tang.

– Cự, Hỏa, Kình, Thường, Sứ: tang thương, đau ốm, khẩu thiệt, kiện tụng.

– Kỵ, Hỏa, Kình, Thương, Sứ: đau ốm nặng, hao tán tiền tài, có tang hay tai nạn khủng khiếp.

– Thương, Sứ: đau ốm, khẩu thiệt, có tang.

– Tang, Khốc: có tang lớn, hay ngã đau.

– Khốc, Hỏa, Kình: trong nhà có sự tranh chấp, thiếu hòa khí.

– Khốc, Hư: mắc bệnh phổi, ho nhiều.

– Quả: túng thiếu (nếu Mệnh có Hao tọa thủ tất bị chết đói).

– Thiên Phủ vô hãm nhưng nếu gặp Tam Không, tất bị phá sản, đau yếu, mưu sự chẳng được toại lòng, hay mắc lừa tiểu nhân.

– Xa lánh Tam Không: thật là kho tài lộc, gặp Hạn này chắc chắn là công danh hiển đạt, tăng tài tiến hỉ, nếu may mắn gặp thêm Khoa, Quyền, Lộc phải quyết đoán là tài quan song mỹ

– Sáng sủa tốt đẹp: tài lộc phong túc, thường mua tậu được nhà đất, có danh giá, hay gặp việc cưới xin vui vẻ, thêm con thêm cháu, mọi sự đều hành thông.

– Mờ ám xấu xa: tiền tài hao tán, hay đau yếu, thường đau bụng hay đau mắt, có thể mắc kiện cáo, trong lòng như có sự hối hận, đêm ngày cắn rứt, sức khỏe của mẹ (hay của vợ) suy kém, rất đáng lỡ ngạt. Trong trường hợp này, nếu chẳng may gặp thêm Đà, Tuế, Hổ phải quyết đoán là mẹ chết.

– Long Trì, Sát: đau bụng (bộ máy tiêu hóa)

– Đà, Kỵ: đau mắt nặng, mất của.

– Hỏa, Linh: đau yếu, mắc kiện cáo.

– Hình: mắt bị thương vì va chạm nhằm vật kim khí bén nhọn.

– Sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, có công danh, có hoạnh tài, nếu nhập Hạn tại Tứ Mộ hợp với tuổi Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nên lại càng phát đạt hiển hách. Trong trường hợp này, nếu may mắn gặp thêm Hỏa, Linh phải quyết đoán là hoạnh phát danh tài.

– Mờ ám xấu xa: hao tán tiền tài, chơi bời phóng đãng đến nỗi mang tai họa, mọi sự đều bế tắc, nếu có công danh chắc chắn là bị truất giáng.

– Vũ, Lộc, Mã: có danh chức và tài lộc.

– Hồng, Đào: thành gia thất (lấy vợ lấy chồng)

– Lương, Kỵ: vật bằng gỗ, đá rơi xuống người gây nên thương tích.

– Riêu, Kỵ: tai nạn về sông nước, mắc khẩu thiệt, hay kiện tụng, có sự lo buồn.

– Không, Kiếp: mọi sự đều bế tắc, hao tổn tiền tài, nếu có công danh tất bị truất giáng.

– Hổ: súc vật hay ác thú cắn đá (đáng lo ngại nhất là Tham nhập Hạn tại Dần, Tuất) nếu không, tất mắc tai nạn xe cộ.

– Sáng sủa tốt đẹp, là Quyền tinh: mưu sự được toại lòng, hoạnh phát danh tài, nói được nhiều người nghe theo, nếu mắc kiện cáo hay tranh chấp với người khác thì cũng thắng lợi. Nên chú ý, trong trường hợp Cự nhập Hạn tại Hợi, gặp Lộc tất không nên mưu những việc quá lớn. Nếu nuôi nhiều cao vọng như “ném kiếm lên sao Đẩu, sao Ngưu” chắc chắn là phải thất bại đau đớn.

– Mờ ám xấu xa: hay phiền lòng, mắc khẩu thiệt, thị phi, kiện cáo, hao tán tiền tài, đau yếu, có tang, nếu có quan chức tất bị bãi truất. Rất đáng lo ngại về tai nạn xe cộ nếu Cự nhập Hạn tại tại Tứ Mộ. Trong trường hợp này, nếu gốc đại hạn mười năm cũng xấu xa mờ ám, phải quyết đoán là chết.

– Kỵ: tai nạn sông nước, khẩu thiệt, thị phi.

– Tang: đau ốm nặng, có tang lớn.

– Tang, Hỏa, Linh: đau ốm, tán tài, có tang, nếu không nhà bị cháy (cung nhập Hạn ứng phương nào tất cháy từ phương đó).

– Sáng sủa tốt đẹp: mưu sự được toại lòng, danh tài hưng vượng, thường có hoạnh tài, không chủ ý làm mà được hưởng.

– Mờ ám xấu xa: cũng không đáng lo ngại nhưng nếu gặp thêm Sát tinh nhập Hạn, tất hay mắc kiện cáo, đau ốm và mắc lừa. Trong trường hợp này, nếu gốc đại hạn mười năm cũng xấu xa mờ ám phải quyết đoán là tính mạng lâm nguy.

– Không, Kiếp: rắc rối trong công việc, thường bị tiểu nhân ghen ghét, ám hại, lừa lọc nhưng cũng chẳng đáng lo ngại.

– Khôi, Hình: tai nạn về đao thương, đầu mặt bị hư hại, nếu không cũng mắc bệnh thuộc về mặt hay đầu phải châm chích, mổ xẻ, công danh trắc trở.

– Tuần, Triệt án ngữ: đau ốm, tiểu nhân mưu hại, mắc tai nạn xe cộ hay đao thương, đầu và mặt bị đau đớn. Rất đáng lo ngại nếu cung nhập hạn vào cung Thiên Di. Gặp Hạn này, mưu sự

chẳng được toại lòng, công danh trắc trở, nếu có quan chức tất bị bãi truất, nếu là võ quan chắc chắn là bị giáng cấp và chẳng may phải ra trận thật là khó toàn tính mạng.

– Giải trừ tai họa.

– Sáng sủa tốt đẹp: danh tài hưng vượng hay gặp vui mừng, nếu đau ốm cũng chóng qua khỏi, nếu mắc nạn cũng sớm gặp qúy nhân đến giải cứu.

– Mờ ám xấu xa: tiền tài hao tán, sức khỏe bị suy kém. Trong trường hợp này nếu Lương nhập Hạn tại Tý, Hợi, chắc chắn là phải đi xa hay thay đổi công việc

– Sát tinh: khuynh gia bại sản.

– Sáng sủa tốt đẹp: trong nhà có hòa khí, danh tài hưng vượng. Trong trường hợp này nếu Sát nhập Hạn tại Dần, Thân là tài quan song mỹ, mưu sự tất thành một cách nhanh chóng.

– Mờ ám xấu xa: hay gặp những chuyện buồn bực, đau ốm, thường có tang, làm việc thất bại. Trong trường hợp này nếu gặp thêm Sát tinh, nhất là Kình, Đà thật là khó thoát được tai nạn xe cộ hay đao thương. Sát nhập Hạn tại Thìn, Tuất nếu gốc đại hạn mười năm cũng xấu xa phải quyết đoán là сhết

– Liêm, Tham, Phượng: bị trách oán.

– Phá, Hình: tù tội.

– Phá, Hao, Mộc, Kỵ: mắc chứng ung thư hay có mụn nhọt phải mổ xẻ, châm chích.

– Kình, Phục, Không, Hao, Hỏa, Linh, Kỵ, Kiếp: tính mạng lâm nguy (xem kỹ gốc đại hạn mười năm để quyết đoán sống chết)

– Hao: đau ốm nặng, có tang.

– Kỵ: thân thể bị đau đớn, hay mang tiếng nhục nhã.

– Sáng sủa tốt đẹp: tài lộc dồi dào, công danh hiến đạt, nếu lại gặp thêm Xương, Khúc, Khôi, Việt là tài quan song mỹ, phú qúy đến cực độ.

– Mờ ám xấu xa: đau ốm nặng, thường mắc tội tù, có tang, nếu có quan chức tất bị bãi truất, vợ con không được yên ổn. Trong trường họp này, nếu lại gặp thêm Sát tinh và gốc lại hạn cũng xấu xa phải quyết đoán là sinh mạng lâm nguy. Đàn bà có Phá mờ ám xấu xa nhập Hạn thật là khó tránh được bệnh khí huyết

– Liêm, Hỏa: hao tán, mắc tù tội

– Sát tinh: tù tội.

– Hình: đòn đánh, ẩu đả, nếu không cũng mắc tù tội.

– Hình, Linh, Hỏa, Việt: điện giật hay sét đánh, tai nạn về đao thương hay súng đạn.

– Phượng: bị trách oán.

– Tuế: mắc kiện tụng.

– Quả: tai nạn dọc đường.

– Phục, Tướng, Riêu, Thai: đàn ông rắc rối tơ duyên, đàn bà mắc lừa vì tình.

– Khó tránh được tai họa.

– Xương, Vũ, La: chết đuối hay mắc tù tội.

– Sát, Phá: tù tội.

– Việt: sét đánh.

– Sáng sủa tốt đẹp: mưu sự tất thành một cách nhanh chóng, hoạnh phát danh tài nhưng hay đau yếu và có mụn nhọt

– Mờ ám xấu xa: đau yếu (bệnh khí huyết) mắc lừa mất của, nếu có quan chức tất bị truất giáng.

– Tham: mọi sự đều bế tắc, hao tán tiền tài.

– Tử, Phủ, Khôi, Việt: mắc lừa, mất của

– Tả, Hữu: đi lừa người khác.

– Sát, Tuế, Thiên Không, Phục, Kình, Hao: tính mạng lâm nguy, khó mà tránh thoát được những tai họa khủng khiếp. Nếu gốc đại hạn mười năm cũng xấu xa mờ ám phải quyết đoán là chết một cách thê thảm.

– Hỏa, Linh, Kỵ, Tuế, Hao, Phụс: mắc tai nạn nguy hiểm, nếu không cũng bị cướp của phá nhà. Nếu gốc đại hạn mười năm cùng xấu xa mờ ám phải quyết đoán là bị giết chết.

– Quyền: công danh trắc trở, thường bị người xung quanh nói xấu hay gièm pha.

– Phù: lo buồn, mắc kiện cáo.

– Mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng. nếu có quan chức, tất được cao thăng, nếu đau ốm cũng chóng khỏi vì gặp thầy thuốc, có qúy nhân phù trợ, sức khỏe càng ngày càng tăng tiến.

– Khoa, Quyền, Tả, Hữu: hoạnh phát danh tài phú qúy đến cực độ.

– Hóa Lộc: đại phát tài (Hóa Lộc chiếu mới thật tốt đẹp) nếu cùng Lộc Tồn nhập Hạn đồng cung sự tốt đẹp tất bị chiết giảm.

– Mã: mưu sự được toại lòng, danh tài hưng vượng, nếu đi xa buôn bán chắc chán là buôn một bán mười.

– Không, Kiếp: đau yếu, mắc lừa, mất của.

– Không, Kiếp, Tuế: tính mạng lâm nguy. Nếu gốc đại hạn mười năm cũng xấu xa mờ ám phải quyết đoán là chết hay mắc tù tội

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, hoạnh phát danh tài, hay gặp qúy nhân phù trợ, trong nhà có việc vui mừng, rực rỡ nhất là Tả Hữu nhập Hạn tại Tứ Mộ.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: nhân ly, tài tán, đau yếu, buồn phiền, ra ngoài bị nhiều người khinh bỉ.

– Khoa, Quyền, Lộc: quan chức cao thăng, được lui tới gần bậc nguyên thủ, tài lộc phong túc.

– Sát tinh: có tang, đau yếu, mắc lừa, mất của, mọi sự đều bế tắc.

– Sáng sủa tốt đẹp, mưu sự được toại lòng. Nếu đi thì tất đỗ cao, nếu Khúc và Vũ nhập Hạn đồng cung là tài quan song mỹ.

– Mờ ám xấu xa: sức khỏe suy kém, hao tán tiền tài, phiền lòng về việc giấy tờ nhầm lẫn, mắc kiện tụng.

– Đồng, Tả, Hữu: tài lộc dồi dào, cầu danh được toại lòng.

– Liêm, Kình, Đà: mắc tai nạn khủng khiếp, nếu không cũng không thoát được tù tội, nếu gốc đại hạn mười năm cũng xấu xa mờ ám phải quyết đoán là chết.

– Kỵ: công danh trắc trở, đau yếu, có tang.

– Mộc: phiền lòng vì giấy tờ nhầm lẫn.

– Tuế: có quan chức lớn, cầu danh được toại lòng, nếu viết văn tất nổi tiếng xa gần.

– Sát tinh: mắc tai nạn khủng khiếp, nếu không cũng mắc kiện cáo, hao tán tiền tài. Trong trường hợp này nếu gặp Linh thật là khó tránh được tù tội.

– Tử, Phủ, Việt, Xương, Khúc: hoạnh phái danh tài, phú qúy đến cực độ, nếu có tranh chấp với ai cũng thắng lợi.

– Hình: có thương tích ở đầu, hoặc bị đánh đập, hoặc mắc tai nạn về đao thương.

– Tuần, Triệt án ngữ: mắc tai nạn khủng khiếp, đầu bị thương rất nặng, nếu có quan chức tất bị bãi truất.

– Tử, Phú, Khôi, Xương, Khúc: hoạnh phát danh tài, có tiếng tăm lừng lẫy.

– Hình, Linh: bị sét đánh hay điện giật.

– Giải trừ tai họa.

– Tài lộc phong túc: nếu có ốm đau cũng chóng qua khỏi, nếu có quan chức, tất được cao thăng. Hóa Lộc nhập Hạn cần gặp Lộc Tồn chiếu hơn là đồng cung.

– Tham, Vũ: mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng, nếu kinh doanh lại càng phát đạt.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: thân thể khỏe mạnh, hoạnh phát danh tài, có uy quyền hiển hách, thường phải thay đổi chỗ ở hay chức vụ.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: tai họa liên miên, nếu ốm đau lại thêm phần trầm trọng, công danh trắc trở.

– Tham, Vũ: mưu sự được toại lòng, danh tài hưng vượng, có uy quyền hiển hách.

– Tuần, Triệt án ngữ: công danh trắc trở, thường bị tiểu nhân gièm pha hay nói xấu, nếu có uy quyền cũng bị chiết giảm hay hữu danh vô thực.

– Giải trừ tai họa.

– Mọi sự hành thông, đang đau yếu hay mắc tai nạn, gặp Hạn có Khoa chắc chắn là qua khỏi được.

– Khôi, Việt, Xương, Khúc: nếu đi thi tất đỗ cao, nếu có quan chức tất được cao thăng, mưu sự được toại lòng.

– Sáng sủa tốt đẹp: mưu sự được toại lòng, danh tài hưng vượng, nhưng kém sức khỏe và hay mắc thi phi. Trong trường hợp này, nếu Kỵ gặp Nhật, Nguyệt sáng sủa tốt đẹp hội hợp tuy mắt bị đau nhưng tài quan song mỹ, hỉ khí đầy nhà.

– Mờ ám xấu xa: đau yếu liên miên, có tang thương, mất của, mắc thị phi, kiện cáo, nếu có quan chức, tất bị truất giáng.

– Phá, Tuế: cãi nhau đánh lộn.

– Phá, Kình: đánh nhau lớn, bị thương nặng.

– Sát, Đà: đau yếu nặng, nếu không, cũng bị nhục nhã, đi xa thường mắc nạn ở dọc đường.

– Đà, Hổ: mắc tai nạn khủng khiếp về xe cộ hay đao thương.

– Kình, Đà: đau yếu, mắc thị phi, kiện cáo, có tang

– Không, Kiếp: tai nạn liên miên, mất của, nếu có quan chức tất bị bãi truất vì ăn hối lộ.

– Hình, Kiếp: mắc tai nạn về đao thương hay bị mổ xẻ

– Hồng, Đào: tơ duyên rắc rối, đàn bà con gái gặp Hạn này, thật tà khó giữ toàn danh tiết.

– Thay đổi chỗ ở hay công việc, nếu không, cùng phải xa nhà, đang đau ốm, gặp Hạn có Song Hao tất chóng qua khỏi.

– Sáng sủa tốt đẹp: hoạnh phát danh tài, dễ kiếm tiền.

– Mờ ám xấu xa: mắc lừa, mất của, đau yếu, buồn phiền. Trong trường hợp này, nếu Song Hao lại gặp Vũ, Phủ hay Lộc, chắc chắn là tiền tài bị hao tán rất nhiêu, buôn bán thua lỗ và hay bị mất trộm, mắc lừa, thường mắc bệnh ở bộ máy tiêu hóa

– Gốc đại hạn mười năm có Song Hao hội hợp Không, Kiếp, Suy, Phù, Toái, Tử, Kỵ và Tiểu hạn một năm lại gặp Hình, Phi, Phủ, Mệnh, Bệnh, Mộ, Phục, Hổ hội hợp, phải quyết đoán là сhết trong lao tù.

– Phá: hao tán tiền tài, túng thiếu.

– Hình, Kiếp: đau yếu, hay bị châm chích mổ xẻ, nếu không cũng mất trộm, mất cướp.

– Thương: túng thiếu, đói khổ.

– Mộc, Kỵ: có bệnh phải mổ xẻ.

– Tuyệt: phá sản.

– Có tang, nếu không cũng đau yếu (có thể mạch máu), mất của, tù tội.

– Phá, Kỵ (nhập Hạn tại cung Nô): làm ơn nên oán.

– Hổ, Khốc: trong nhà có người chết, của cải hao tán, nuôi súc vật không lợi.

– Hổ, Khốc, Hư: buồn phiền, đau yếu, có bệnh lao phổi, ho nhiều

– Hổ, Khốc, Mã: súc vật nuôi trong nhà chết chóc rất nhiều

– Khốc, Không: mất của, thay đổi chỗ ở hay công việc.

– Hình, Điếu: có tang lớn, đau yếu nặng, nếu không cũng mắc tai nạn xe cộ hay ngã từ cao xuống.

– Điếu, Tuế: mắc tai nạn xe cộ, ngã đau, nếu không cũng mắc kiện tụng.

– Điếu: có tang lớn.

– Hỏa: cháy nhà (cung nhập Hạn ứng phương nào tất cháy ở phương đó).

– Có tang, mất của, đau yếu (bệnh khí huyết hay xương cốt).

– Tham: mắc tai nạn xe cộ, hay bị ác thú cắn đá (đáng lo ngại nhất là nhập Hạn tại cung Dần, Tuất).

– Sát: mắc tai nạn đao thương, nếu không, cũng bị tù tội.

– Hình, Kiếp: mắc tai nạn xe cộ hay ngã đau.

– Khốc: chó cán.

– Khốc, Riêu: chó dại cắn, nếu không cũng bị giống vật có sừng húc hay đá bị thương.

– Phi: mọi sự hành thông, hoạnh phát hoạnh tài, trong nhà có chuyện vui mừng.

– Tấu: mưu sự được toại lòng, có quan chức được cao thăng, nếu đi thi chắc chắn là đỗ

Đau yếu, buồn phiền, mưu sự trước khó sau dễ dàng.

Buồn bực, kém sức khỏe, hay đau răng.

– Trong nhà có việc vui mừng.

– Hỉ: nên duyên vợ chồng, mưu sự được toại lòng

– Mã, Sinh, Vượng: có con.

– Thai: có tin mừng (có mang thai).

– Riêu, Hỉ: mọi sự hành thông, hỉ khí đầy nhà, nếu có quan chức tất được cao thăng, gặp Hạn này ví như người gặp thời vậy.

– Thai, Phụ: tai nạn sông nước, đàn bà gặp Hạn này rất đáng lo ngại khi sinh nở.

– Long, Không, Kiếp: mắc nạn sông nước rất đáng lo ngại.

– Long, Điếu: ngã xuống sông hay xuống ao.

– Phượng, Không, Kiếp: bị trách oán, nếu không cũng mắc bệnh ở tai.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng, hỉ khí đầy nhà.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: có tang, đau yếu, rắc rối tơ duyên.

– Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Hồng: mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng, hỉ khí đầy nhà.

– Sát, Phá, Liêm, Tham, Hồng: nên duyên vợ chồng, trong nhà có chuyện vui mừng.

– Cơ, Cự, Tả, Hữu, Tuế: sức khỏe suy kém, tính mạng như ngọn đèn trước gió.

– Số đàn bà, Mệnh có Đào tọa thủ cung Phụ Mẫu có Tang tọa thủ, Hạn lại đến cung Mệnh, chắc chắn là phải góa chồng hay bỏ chồng.

– Hồng, Hỉ, Riêu: có nhân tình

– Không, Kiếp, Bệnh, Phù: mắc bệnh phong tình.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, thăng quan tiến chức, hỉ khí đầy nhà.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: đau yếu, buồn phiền, có tang, sức khỏe của mẹ, vợ hay con gái suy kém.

– Tả, Hữu, Long, Phượng, Riêu: hoạnh phát danh tài, trong nhà có việc mừng (cưới hỏi, sinh con).

– Thanh Long: mắc tai nạn bất ngờ

– Không, Kiếp, Bệnh, Phù: mắc bệnh phong tình.

– Giải trừ tai họa

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng, luôn luôn gặp qúy nhân phù trợ.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: nếu đau ốm cũng chóng qua khỏi vì gặp thầy gặp thuốc, nếu mắc tai nạn cũng gặp qúy nhân đến giải cứu.

Có danh chức, tài lộc, dồi dào.

– Có uy quyển.

– Thiên Tướng: có uy quyền lớn.

– Hình, Ẩn: nếu có quan chức, tất được cao thăng, nếu là võ quan, chắc chắn là có binh quyền lớn trong tay.

– Tuần, Triệt án ngữ: mắc nạn đao thương hay xe cộ, đầu và mặt bị đau đớn, nếu không cũng bị mất quyền thế, bị truất giáng quan chức.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: mọi sự hành thông, được nhiều người phục tùng và lui tới giúp đỡ.

– Nhiều sao mở ám xấu xa: mắc lừa, mất trộm, mất của, thường bị mưu hại.

– Tang: có tang lớn.

– Hổ: có tang, mắc kiện cáo, mắc tù tội.

– Hình, Không, Kiếp: mắc lừa, mất cướp, bị đánh dập.

– Tuế, Kỵ: lo buồn vì sự tranh chấp, kiện cáo.

– Thai, Hồng Đào: tơ duyên rắc rối, đàn bà gặp Hạn này thường hay bị mắc lừa vì tình, có thể chửa hoang.

– Riêu, Hồng Đào: có nhân tình.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: thăng quan, tiến chức, có uy quyền.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: lo buồn, bối rối vì công việc, mưu sự chẳng được toại lòng.

– Tuần, Triệt: công danh trắc trở, nếu có quan chức tất bị truất giáng.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: danh tài hưng vượng, cố uy quyền, mua tậu được nhà đất.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: mắc kiện cáo, tù tội, nếu không cũng đau ốm nặng.

– Long, Phượng: mua tậu được nhà đất.

– Hổ: có tang, đau yếu, nếu không cũng mắc tù tội hay bị lưu đày.

– Thay đổi chỗ ở hay công việc, nếu không, cũng phải xa nhà.

– Tử, Phủ: danh tài hưng vượng, phủ qúy đến cực độ.

– Không, Kiếp, Tuế: đau yếu nặng, nếu không cũng mắc tai nạn khủng khiếp. Trong trường hợp này, nếu gốc đại hạn mười năm cũng xấu xa mồ ám, phải quyết đoán là chết.

– Đà, Thai: bôn ba, nay đây mai đó, hay chay đổi chí hướng và công việc, mắc tai nạn, chân tay có thương tích đau đớn.

– Khốc, Khách: có uy quyền, nếu có quan chức, nhất là võ chức tất được cao thăng.

– Hình: mắc tai nạn xe cộ ngã đau, chân tay có thương tích, nếu không cũng mắc tai nạn đao thương.

– Tuyệt: mọi sự đều bế tắc, đau yếu, mất của.

– Tuần, Triệt: mọi sự đều bế tắc, mưu sự chẳng được toại lòng, công danh trắc trở, nếu có quan chức tất bị bãi truất, đau yếu mất của, mắc tai nạn xe cộ, ngã đau, chân tay có thương tích. Gặp Hạn này nếu thay đối chỗ ở cũng đỡ lo ngại một phần nào những sự chẳng lành.

Có danh chức.

3.2.45. Thiên Giải, Địa Giải

Giải trừ tai họa.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: danh tài kém hưng vượng

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: giải trừ tai họa, nếu đau ốm cũng chóng khỏi vì gặp thầy gặp thuốc, nếu mắc tai nạn cũng sớm gặp qúy nhân đến giải cứu.

– Gốc đại hạn mười năm rất xấu xa mờ ám, tiểu hạn cũng thế lại thêm Giải Thần nhập Hạn phải quyết đoán là chết một cách nhanh chóng. Giải Thần chỉ có thể giải trừ được những bệnh tật, tai nạn nhỏ, nếu gặp những bệnh tật, tai nạn lớn Giải Thần không những bất lực mà còn làm cho người ta phải sớm lìa trần thế. Trường hợp này Giải Thần chính là tử thần vậy.

– Mưu sự chẳng được toại lòng, cơ nghiệp sa sút, mắc lừa, mất của, kinh doanh thất bại, buôn bán thua lỗ, nếu không cũng mắc tù tội.

– Đang đau yếu, gặp Hạn có Thiên Không, chắc chắn là qua khỏi. Trong trường hợp này nếu lại gặp Tuần, Triệt án ngữ, phải quyết đoán là chết, chưa có thể khỏi bệnh được.

– Ảnh hưởng mạnh mẽ trong suốt đời người.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: Hạn xấu xa mờ ám, mọi sự đều bế tắc.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: Hạn sáng sủa tốt đẹp nhưng mưu sự thường hay gặp trở ngại buổi đầu.

Chỉ có ảnh hưởng mạnh mẽ từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến năm 30 tuổi, còn từ 30 tuổi trở đi, ảnh hưởng kém dần.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: Hạn xấu xa mờ ám, mưu sự chẳng được toại lòng, thất bại liên miên.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: Hạn sáng sủa tốt đẹp, nhưng mưu sự thường gặp trở ngại buổi đầu.

– Hạn có hỉ sự: cung nhập Hạn cần phải có Tả, Hữu, Long, Phượng, Hồng Đào, Hỉ, Riêu hội hợp với nhiều sao khác thật sáng sủa tốt đẹp.

– Hạn sinh con: cung nhập Hạn cần phải có Tả, Hữu, Long, Phượng, Hồng, Hỉ, Sinh, Vượng, Thai hội hợp với nhiều sao khác thật sáng sủa rốt đẹp.

+ Nam Đẩu tinh nhập Hạn (tiểu hạn một năm): sinh con trai, nếu gặp Tuần, Triệt lại sinh con gái. + Bắc Đẩu tinh nhập Hạn (tiểu hạn một năm): sinh con gái, nếu gặp Tuần, Triệt lại sinh con trai. + Nam, Bắc Đẩu tinh nhập Hạn đồng cung (tiểu hạn một năm)

* Cung nhập Hạn là Dương cung: sinh con trai, nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ lại sinh con gái.

* Cung nhập Hạn là Âm cung: sinh con gái, nếu gặp Tuần, Triệt án ngữ lại sinh con trai.

– Cung nhập Hạn vô Chính diệu: coi Chính diệu xung chiếu như Chính diệu tọa thủ nhập Hạn. Tùy cheo từng trường hợp, nhận định như trên.

– Xem cung Tử Tức, biết con đầu lòng là con trai nhưng nếu xem Hạn sinh con lần đầu lại biết là sinh con gái. Vậy phải luận đoán sinh con gái rất khó nuôi, trái lại phải sinh con trai mới dễ nuôi.

– Xem cung Tử Tức biết con đầu lòng là con gái nhưng nếu xem Hạn sinh con lần đầu lại biết là sinh con trai. Vậy phải luận đoán sinh con trai rất khó nuôi, trái lại phải sinh con gái mới dễ nuôi.

– Hạn của người già: từ 60 tuổi trở đi xem cung nhập Hạn hoặc Đại Hạn hoặc Tiểu Hạn, thấy có Hồng, Đào, Hỉ, Thiên Không, Kỵ hội hợp, phải quyết đoán là tính mạng lâm nguy. Tuổi già rất kỵ những sao kế trên nhập Hạn.

NHẬN ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA NHŨNG SAO LƯU ĐỘNG

Khi luận đoán vận hạn không những phải xem gốc đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm và lưu niên tiểu hạn, mà lại còn phải chú ý đến ảnh hưởng của nhưng sao lưu động vận trên các cung số tùy theo từng năm xem Hạn. Những sao đó là: Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La và Thiên Mã.

Tại các cung số cũng đã có sẵn những sao như trên, nhưng là sao tĩnh hay sao cố định. Để khỏi nhầm lẫn với sao cố định, mỗi sao lưu động được đặt thêm một chữ “Lưu” ở đầu. Khi xem hạn một năm phải áp dụng những phương pháp đặc biệt để tìm ra sao lưu động. Mỗi sao lưu động cũng có tính chất như mỗi sao cố định.

Lưu Thái Tuế tại cung nào, Lưu Tang Môn sau đó hai cung theo chiều thuận, Lưu Bạch Hổ tại cung xung chiếu cung có Lưu Tang Môn. Nếu Lưu Tang Môn, Lưu Bạch Hổ gặp nhiều Sát tinh hay Bại tinh, tất trong Hạn phải gặp nhiều sự chẳng lành như ốm đau, tang tóc. Nguy hại nhất là Luu Tang Môn gặp Tang Môn cố định đồng cung, hay Lưu Bạch Hổ gặp Bạch Hổ cố định đồng cung. Trong trường hợp này, nếu gốc đại hạn xấu xa mờ ám, tiểu hạn cũng đen tối tất phải mạng vong, không thể cứu giải được.

Hạn (theo thứ tự 12 địa chi) đến cung nào Lưu Thiên Khốc tại cung đó, đếm theo chiều thuận đến cung có tên của năm xem Hạn (theo thứ tự 12 địa chi) đến cung nào Lưu Thiên Hư tại cung đó

Lưu Thiên Khốc, Lưu Thiên Hư, giống như Sát tinh hay Bại tinh, thường gây nên những sự buồn phiền, đau ốm. Nguy hại nhất là Lưu Thiên Khốc lại gặp Thiên Khốc cố định đồng cung, hay Lưu Thiên Hư lại gặp Thiên Hư cố định đồng cung, thật là khó tránh được tai ương, họa hại, nếu không gặp nhiều sao tốt đẹp hội hợp cứu giải.

Lưu Kình Dường tại cung đằng trước cung có Lưu Lộc Tồn. Lưu Đà La tại cung đằng sau cung có Lưu Lộc Tồn. Lưu Kình Dương, Lưu Đà La gặp nhiều Sát tinh hay Bại tinh, thường gây nên tai ương họa hại. Lưu Kình Dương gặp Kình Dương cố định đồng cung, hay Lưu Đà La gặp Đà La cố định đồng cung, thật là khó tránh được những tai họa khủng khiếp. Đáng lo ngại nhất là Lưu Kình Dương hay Lưu Đà La gặp Thất Sát đồng cung.

Thí dụ: Tiểu hạn năm Tý, Lưu Thiên Mã tại cung Dần là cung Phụ Mẫu. Vậy trong

LUẬN ĐOÁN CHẾT VÀ ĐÁM TANG

5.1.3. Giới hạn trong khoảng một tháng

Phải lần lượt xem kỹ những gốc đại hạn mười năm, đặc biệt chú ý đến đại hạn nào xấu xa nhất. Lại xem đến ba cung Phúc Đức, Mệnh và Thân. Nếu thấy những cung này cũng bị khắc hãm, không có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp để giải cứu, thì phải kết luận là chết trong khoảng mười năm đó.

5.1.4. Giới hạn trong khoảng một ngày

Trong khoảng mười năm đã định trên, muốn biết rõ chết năm nào phải lần lượt xem kỹ lưu đại hạn, lưu niên tiểu hạn từng năm, cùng với ảnh hưởng của những sao lưu động. Phải cân nhắc tốt xấu cho thật cẩn thận, phải kết hợp nhận định để luận đoán cho thật xác đáng. Nếu thấy Hạn năm nào xấu xa nhất, phải kết luận là chết trong khoảng năm đó.

Sau khi đã biết rõ năm chết, phải căn cứ theo lưu niên tiểu hạn để tính hạn lưu nguyệt. Hạn tháng nào xấu xa nhất phải kết luận là chết trong khoảng tháng đó.

Sau khi đã biết rõ tháng chết, phải căn cứ theo đó để tính hạn lưu nhật. Hạn ngày nào xấu xa nhất phải kết luận là chết vào ngày đó.

Trước hết là phải biết những sao ứng vào đồ vật dùng trong đám tang và những sao ứng vào

Sau khi đã biết rõ ngày chết, xem cung nhập Hạn của ngày đó nếu thấy có nhiều sao kể trên hội hợp, phái luận đoán đó là đám tang long trọng.

Hướng Dẫn Giải Đoán Lá Số Tử Vi Bằng Sao Chính Tinh Thủ Mệnh

Đây là bài viết hướng dẫn cách xem lá số tử vi bằng chính tinh thủ mệnh rất tinh tế. Mong các bạn lưu ý và đọc kỹ. Đồng thời lưu lại để dùng cho cho việc học.

Lưu ý:

Áp dụng cho cung có chính tinh, không áp dụng cho cung vô chính diệu.

Sử dụng Điểm Huyền Khí trên hệ thống Tử Vi Cổ Học để đánh giá. Nếu Điểm Huyền Khí dương thì thiên nhiều về ưu điểm. Nếu Điểm Huyền Khí âm thì thiên nhiều về nhược điểm

Chỉ sử dụng Điểm Huyền Khí trên hệ thống Tử Vi Cổ Học để cân ưu điểm và nhược điểm. Không được sử dụng điểm huyền khí từ các trang khác bắt chiếc Tử Vi Cổ Học để giải đoán. Việc sử dụng các trang khác gây sai lệch, hiểu sai ý tưởng của chúng tôi. Mong các bạn lưu ý.

Mong các bạn like hoặc share bài viết giúp chúng tôi lan tỏa tới nhiều người ham mê huyền học.

Cung mệnh có Tử vi tọa thủ

– Ưu điểm: Vững vàng, tự trọng, có năng lực quản lý.– Khuyết điểm: Chủ quan, ưa lộng quyền, dễ tin lời nói xấu.

Cung mệnh có Thiên cơ tọa thủ

– Ưu điểm: Nhạy bén, có năng lực quan sát, giỏi cơ mưu và nặng lí trí.– Khuyết điểm: Có mới nới cũ, giỏi biện luận, ưa khoe mạnh.

Cung mệnh có Thái dương tọa thủ

– Ưu điểm: Nhiệt tình, khẳng khái, hiếu thuận, chăm lo cho gia đình.– Khuyết điểm: Cá tính xung động, thiếu tính nhẫn nại.

Cung mệnh có Vũ khúc tọa thủ

– Ưu điểm: Cương nghị, thực dụng, xem trọng sự thành tín, độ lượng.– Khuyết điểm: Câu nệ, không tự nhiên, hấp tấp, nóng nảy, dễ nổi giận.

Cung mệnh có Thiên đồng tọa thủ

– Ưu điểm: Ôn hòa, hòa hợp, khẳng khái, nhân từ, có lòng cảm thông.– Khuyết điểm: Thiếu chủ kiến, nặng tính ỷ lại, dễ xử sự bằng tình cảm.

Cung mệnh có Liêm trinh tọa thủ

– Ưu điểm: Thông minh, hay đùa giỡn, thân thiện, hòa nhã giỏi quan hệ.– Khuyết điểm: Đa nghi, hay đố kị, bụng dạ hẹp hòi.

Cung mệnh có Thiên phủ tọa thủ

– Ưu điểm: Tính toán thận trọng, già dặn, vững vàng.– Khuyết điểm: Tự phụ, phách lối, thích ra oai, hấp tấp, nóng nảy, ưa khoe mạnh.

Cung mệnh có Tham lang tọa thủ

– Ưu điểm: Thông minh, nhớ cái cũ, đa tài đa nghệ, thân thiện, hòa nhã.– Khuyết điểm: Dục vọng chiếm hữu mạnh, thích chuyện cao xa, hay đố kị.

Cung mệnh có Thái âm tọa thủ

– Ưu điểm: Khiêm tốn, hòa nhã, bình tâm tịnh khí, tế nhị, trọng tình cả.– Khuyết điểm: Tác phong làm việc thiếu quả quyết, hay bị cảm xúc làm dao động.

Cung mệnh có Thiên tướng tọa thủ

– Ưu điểm: Thông minh, mẫn tiệp, nhiệt thành, thân thiện, hòa nhã, nhớ chuyện cũ, trọng tình cảm.– Khuyết điểm: Thích khiêu khích, chủ quan, ưa can thiệp vào chuyện của người khác.

Cung mệnh có Cự môn tọa thủ

– Ưu điểm: Cẩn thận, bình tâm tịnh khí, thu vào trong, tế nhị, đủ sức chịu đựng trong nghịch cảnh.– Khuyết điểm: Cá tính hay thay đổi bất định, đa nghi, ngôn từ sắc bén, khá chủ quan.

Cung mệnh có Thiên lương tọa thủ

– Ưu điểm: Vững vàng, khiêm tốn, hòa nhã, giỏi phân tích và lập kế hoạch, suy nghĩ chu đáo.– Khuyết điểm: Cao ngạo tự phụ, cố chấp chủ quan, ưa tranh quyền, thích biện luận.

Cung mệnh có Thất sát tọa thủ

– Ưu điểm: Thông minh, mẫn tiệp, nặng lí trí, tính toán cẩn thận, trí dũng song toàn.– Khuyết điểm: Hấp tấp, nóng nảy, phản nghịch hay thay đổi bất thường.

Cung mệnh có Phá quân tọa thủ

– Ưu điểm: Quan niệm tiến bộ, có năng lực khai sáng, khẳng khái, có tác phong rất quả quyết, can đảm và hiểu biết.– Khuyết điểm: Đa nghi, hay thay đổi, thường bị cảm xúc điều khiển, không có khẩu đức.

Cung mệnh có Phá quân, Tử vi tọa thủ

– Ưu điểm: Giàu sáng kiến, dũng cảm tạo ra cục diện mới, có lực khai sáng và xung kích.– Khuyết điểm: Cố chấp, phách lối, thích ra oai, tự phụ, ưa thể hiện mình, dễ trở mặt vô tình.

Cung mệnh có Thiên phủ, Tử vi tọa thủ

– Ưu điểm: Vững vàng, cẩn thận, thông minh, hiếu học, có năng lực quản lý.– Khuyết điểm: Tính cách mâu thuẫn, tự phụ, ưa nắm quyền, thích làm kẻ cả.

Cung mệnh có Tham lang, Tử vi tọa thủ

– Ưu điểm: Đa tài đa nghệ, giỏi vận dụng quan hệ giao tế, có thể bộc lộ ưu điểm của bản thân.– Khuyết điểm: Quật cường cố chấp, tham lam không biết chán, mắt cao hơn đầu.

Cung mệnh có Thiên tướng, Tử vi tọa thủ

– Ưu điểm: Vững vàng, nặng lí trí, cẩn thận, có nguyên tắc, có năng lực quản lí.– Khuyết điểm: Cố chấp, ưa khiêu khích, không biết quyền biến, xử sự không xem trọng phương diện tình cảm.

Cung mệnh có Thất sát, Tử vi tọa thủ

– Ưu điểm: Giỏi quyền biến, có năng lực quản lý, quan hệ giao tế tốt.– Khuyết điểm: Phách lối, thích ra oai, chủ quan, độc đoán, thích hành động một mình, ưa ra lệnh.

Cung mệnh có Thái âm, Tử vi tọa thủ

– Ưu điểm: Sáng suốt, trầm tĩnh, tâm tư tế nhị, túc trí đa mưu.– Khuyết điểm: Tự tư tự lợi, ưa tính toán so đo, hay thay đổi, nặng tâm cơ.

Cung mệnh có Cự môn, Thiên cơ tọa thủ

– Ưu điểm: Thông minh, bình tâm tịnh khí, mưu lược, có sức thuyết phục, giỏi lập kế hoạch.– Khuyết điểm: Chủ quan, đa nghi, ưa tính toán so đo, ngụy kế đa đoan, quan hệ giao tế thiếu hòa hợp.

Cung mệnh có Thiên cơ, Thiên lương tọa thủ

– Ưu điểm: Tâm địa thiện lương, có khẩu tài, có năng lực tổ chức và lập kế hoạch.– Khuyết điểm: Cô tịch, thiếu nhẫn nại, hay đố kị, ưa tính toán so đo.

Cung mệnh có Thái âm, Thái dương tọa thủ

– Ưu điểm: Cần kiệm, nhiệt tâm, tâm tư tế nhị, có tính nhẫn nại, có năng lực thích ứng.– Khuyết điểm: Tâm trạng, hay thay đổi, lúc nóng lúc lạnh, tư tâm khá nặng.

Cung mệnh có Thái dương, Thiên lương tọa thủ

– Ưu điểm: Nhiệt tâm, hay lo cho người khác, năng lực lập kế hoạch không tệ, quan hệ giao tế rất tốt.– Khuyết điểm: Hấp tấp, nóng nảy, ưa làm cao, lời nói dễ chuốc oán.

Cung mệnh có Cự môn, Thái dương tọa thủ

– Ưu điểm: Trung thực, chân thành, có mưu lược, giỏi ứng biến, nhiều toan tính.– Khuyết điểm: Nặng tâm lí đầu cơ, đa nghi, nói chuyện dễ làm tổn thương người khác.

Cung mệnh có Thiên tướng, Vũ khúc tọa thủ

– Ưu điểm: Thông minh, nhiệt tâm, nghiêm túc, cẩn thận, giỏi lí tài.– Khuyết điểm: Ưa can thiệp vào chuyện của người khác, xem trọng tiền bạc quá đáng, tính ưa khiêu khích, hay thay đổi.

Cung mệnh có Thất sát, Vũ khúc tọa thủ

– Ưu điểm: Tích cực tiến thủ, kiên trì với lí tưởng và quan niệm của mình, trung thành với chức vị của mình.– Khuyết điểm: Chủ quan, cố chấp, không biết quyền biến.

Cung mệnh có Phá quân, Vũ khúc tọa thủ

– Ưu điểm: Siêng năng, nỗ lực, nhiều toan tính, giỏi vận dụng quan hệ giao tế.– Khuyết điểm: Cố chấp, ưa tranh giành, tham lang không biết chán.

Cung mệnh có Tham lang, Vũ khúc tọa thủ

– Ưu điểm: Nhiều toan tính, có thể chịu đựng khổ cực.– Khuyết điểm: Nặng tình dục và vật dục.

Cung mệnh có Thiên phủ, Vũ khúc tọa thủ

– Ưu điểm: “Thu vào trong”, trầm ổn, có tác phong, rất quả quyết, có năng lực lãnh đạo và kinh doanh.– Khuyết điểm: Hấp tấp, nóng nảy, có tầm nhìn thiển cận, cố chấp.

Cung mệnh có Cự môn, Thiên đồng tọa thủ

– Ưu điểm: Tình cảm phong phú, tâm địa thiện lương.– Khuyết điểm: Tâm trạng hay thay đổi, quật cường, ương bướng, thiếu năng lực khai sáng.

Cung mệnh có Thiên đồng, Thiên lương tọa thủ

– Ưu điểm: Chuyên tâm học tập, hòa hợp với mọi người, suy nghĩ chu đáo, thông minh, mưu lược.– Khuyết điểm: Thiếu năng lực khai sáng, thiếu tích cực.

Cung mệnh có Thái âm, Thiên đồng tọa thủ

– Ưu điểm: Tình cảm phong phú, tâm địa thiện lương, thân thiện, hòa nhã.– Khuyết điểm: Thường bị cảm xúc điều khiển, thiếu sức đề kháng áp lực, thiếu lực xung kích.

Cung mệnh có Liêm trinh, Thiên phủ tọa thủ

– Ưu điểm: Sáng suốt, giỏi giang, có năng lực lập kế hoạch, có thể nắm được đại cục.– Khuyết điểm: Tham lam, đa nghi, cường bạo, phách lối, thích ra oai, mục hạ vô nhân.

Cung mệnh có Liêm trinh, Tham lang tọa thủ

– Ưu điểm: Trực giác nhạy bén, có khẩu tài, có sức thu hút, nhiều tài nghệ, giỏi lập kế hoạch.– Khuyết điểm: Tranh cường hiếu thắng, hay đối kị, nặng tình dục, thiếu tính tự kiềm chế.

Cung mệnh có Liêm trinh, Thiên tướng tọa thủ

– Ưu điểm: Hài hước, ưa đùa giỡn, đa tài đa nghệ, giỏi lập kế hoạch.– Khuyết điểm: Hiếu thắng, đa nghi, ưa mạo hiểm, không thực dụng.

Cung mệnh có Liêm trinh, Thất sát tọa thủ

– Ưu điểm: Thế mạnh, giỏi giang, có khả năng làm việc độc lập, giỏi phân tích, lập kế hoạch.– Khuyết điểm: Hay thay đổi bất thường, cố chấp, đa nghi, quá nặng tâm lý phòng vệ.

Cung mệnh có Liêm trinh, Phá quân tọa thủ

– Ưu điểm: Có sáng kiến, có tinh thần cạnh tranh, có năng lực chủ đạo.– Khuyết điểm: Thiếu tính dẻo dai, phách lối, thích ra oai, hay thay đổi, quá xem trọng “cái tôi”.