Cách Soạn Bài Xã Hội Nguyên Thủy / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 3/2023 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Xã Hội Nguyên Thủy Bài 3

Xã hội nguyên thủy bài 3 được biên soạn bởi đội ngũ giáo viên dạy giỏi môn sử đảm bảo tính chính xác và ngắn gọn, giúp các em học tốt môn sử lớp 6. Được cập nhật nhanh nhất, đầy đủ nhất tại Soanbaitap.com.

thuộc: PHẦN 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ ĐẠI

Hướng dẫn trả lời câu hỏi SGK bài 3 Xã hội nguyên thủy

– Hầu như có thể đi, đứng bằng hai chân.

– Đầu nhỏ, trán thấp và bợt ra sau, hàm nhô về phía trước,…

– Trên cơ thể còn bao phủ bởi một lớp lông mỏng.

– Công cụ: sử dụng hòn đá được ghè đẽo thô sơ.

– Sống theo bầy đàn.

– Săn bắt, hái lượm.

– Dáng đứng thẳng (như người ngày nay).

– Thể tích hộp sọ lớn hơn, trán cao, hàm không nhô về phía trước như Người tối cổ.

– Lớp lông mỏng không còn.

– Đã biết chế tạo công cụ sắc bén hơn, tra cán vào công cụ,…

– Sống theo thị tộc, thành từng nhóm nhỏ, gồm vài chục gia đình, có quan hệ gần gũi với nhau.

– Đã biết trồng trọt, chăn nuôi.

Đề bài: Bầy người nguyên thủy sống như thế nào?

– Người tối cổ sống theo bầy, gồm khoảng vài chục người, gọi là bầy người nguyên thủy.

– Ăn: hoa quả, thú rừng,…

– Ở: họ sống trong các hang động, dưới mái đá hoặc trong những túp lều làm bằng cây, lợp lá hoặc cỏ khô.

– Hoạt động sản xuất: săn bắt, hái lượm. Họ biết ghè đẽo đá, làm công cụ, biết dùng lửa để sưởi ấm, nướng thức ăn và xua đuổi thú dữ.

⟹ Cuộc sống bấp bênh “ăn lông, ở lỗ” như thế kéo dài hàng triệu năm

Đề bài: Đời sống của Người tinh khôn có những điểm nào tiến bộ hơn so với Người tối cổ?

So với đời sống của Người tối cổ, đời sống của Người tinh khôn có sự tiến bộ hơn:

– Không sống theo bầy mà theo từng thị tộc: các nhóm nhỏ, gồm vài chục gia đình, có họ hàng gần gũi với nhau. Những người cùng thị tộc đều làm chung, ăn chung và giúp đỡ lẫn nhau trong mọi công việc.

– Biết trồng rau, trồng lúa, chăn nuôi gia súc, dệt vải, làm đồ gốm và đồ trang sức như vòng tay, vòng cổ.

– Đời sống được cải thiện hơn, thức ăn kiếm được nhiều hơn và sống tốt hơn, vui hơn.

Đề bài: Công cụ bằng kim loại đã có tác dụng như thế nào?

Tác dụng của công cụ bằng kim loại:

– Do đặc tính của kim loại là cứng và sắc hơn đá nên con người có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích trồng trọt, có thể xẻ gỗ đóng thuyền, xẻ đá làm nhà.

– Cũng nhờ đó, con người có thể làm ra một lượng sản phẩm không chỉ đủ nuôi sống mình mà còn dư thừa.

Xem Video bài học trên YouTube

Là một giáo viên Dạy cấp 2 và 3 thích viết lạch và chia sẻ những cách giải bài tập hay và ngắn gọn nhất giúp các học sinh có thể tiếp thu kiến thức một cách nhanh nhất

Giải Lịch Sử Lớp 6 Bài 3: Xã Hội Nguyên Thủy

KHÁI QUÁT LỊCH sử THỂ GIÚI CỔ ĐẠI XÃ HỘI NGUYÊN THUỶ A. HƯỚNG DẪN HỌC Mục tiêu bài học Nhận biết và ghi nhớ nguồn gốc loài người từ một loài vượn cổ chuyển biến thành Người tối cổ : thời gian xuất hiện ; địa điểm tìm thấy dấu tích và cách sống. Nhận biết và ghi nhớ về Người tinh khôn : thời gian xuất hiện ; địa điểm tìm thấy dấu tích và cách sống ; sự khác nhau giữa Người tinh khôn và Người tối cổ. Bước đầu giải thích được vì sao xã hội nguyên thuỷ tan rã. Rèn luyện kĩ năng quan sát tranh ảnh và tập rút ra những nhận xét của cá nhân. Kiến thức cơ bản Con người đã xuất hiện như thế nào ? Cách đây hàng chục triệu năm, trong những khu rừng rậm có loài vượn cổ, trong quá trình tìm kiếm thức ãn đã dần dần biết đi bằng hai chi sau, dùng hai chi trước để cầm nắm hòn đá, cành cây,... làm công cụ. Quá trình đó kéo dài cho đến cách ngày nay khoảng 3-4 triệu nãm thì loài vượn cổ đó chuyển biến thành *Người tối cổ. Dấu tích của Người tối cổ là những bộ hài cốt được tìm thấy ở miền Đông châu Phi, đảo Gia-va (In-đô-nê-xi-a), ở gần Bắc Kinh (Trung Quốc). Cuộc sống của Người tối cổ là cuộc sống ''ăn hang, ở lỗ" rất bấp bênh : sống theo bầy khoảng vài chục người, dựa vào hái lượm, săn bắt, biết dùng lửa, biết ghè đẽo đá làm công cụ, ở trong các hang động, mái đá... Người tinh khôn sống thê' nào ? Giai đoạn của Người tối cổ kéo dài hàng triệu năm, cho đến cách ngày nay khoảng 4 vạn năm thì đã chuyển biến thành Người tinh khôn. Dấu tích của Người tinh khôn là những bộ hài cốt được tìm thấy ở hầu khắp các châu lục. Người tinh khôn không sống theo bầy mà sống theo từng thị tộc gồm vài chục gia đình có họ hàng gần gũi. Họ làm chung, ăn chung. Người tinh khôn biết chăn nuôi gia súc, trồng rau, trồng lúa, dệt vải, làm đồ gốm và đồ trang sức... Vì sao xã hội nguyên thuỷ tan rã ? Ở buổi ban đầu, Người tinh khôn mới chỉ biết dùng đá để chế tạo công cụ, nên năng suất lao động không cao. Đến khoảng thiên niên kỉ IV TCN, con người mới phát hiện ra kim loại và dùng nó để chế tác công cụ. Từ khi chế tác được công cụ bằng kim loại, diện tích đất trồng trọt và năng suất lao động không ngừng được nâng cao. Con người từ đây có thể làm ra một lượng sản phẩm không chỉ đủ nuôi sống mình mà còn dư thừa. Một số người đã chiếm đoạt được một phần của cải dư thừa nên dần dần trở nên giàu có. Những người trong thị tộc giờ đây không thể ãn chung, làm chung như trước được nữa. Xã hội nguyên thuỷ vì thế mà tan rã. Cách học Mục 1 : Xem mục IV "Một số khái niệm, thuật ngữ" để hiểu thế nào là loài vượn cổ ? Thế nào là Người tối cổ ? Hãy suy nghĩ thêm vì sao loài vượn cổ và Người tối cổ lại sống ở trong các khu rừng rậm mà không chọn sống ở vùng ven các con sông ở trung du và đồng bằng. Ghi nhớ những dấu tích tìm thấy là những bộ hài cốt của Người tối cổ, sử dụng "Lược đồ các quốc gia cổ đại" ở trang 14 - SGK để ghi kí hiệu những nơi được tìm thấy những dấu tích đó. Quan sát hình 3, 4 ở trang 8 - SGK, từ đó hiểu thêm con người thời đó chủ yếu sống dựa vào hái lượm, săn bắt. Suy nghĩ và chỉ ra được cuộc sống của Người tối cổ tuy còn đơn giản như thế nhưng đã khác hẳn loài vượn cổ ở chỗ nào. Mục 2 : Xem mục IV "Một số khái niệm, thuật ngữ" để hiểu thế nào là Người tinh khôn, suy nghĩ giữa Người tối cổ và Người tinh khôn khác nhau ở chỗ nào ? Việc tìm thấy dấu tích của Người tinh khôn ở hầu khắp các châu lục chứng tỏ điều gì ? Ghi nhớ : Người tinh khôn không sống theo bầy mà sống theo từng thị tộc, làm chung, ãn chung. Người tinh khôn biết chăn nụôi gia súc, trồng rau, trồng lúa, dệt vải, làm đồ gốm và đồ trang sức... Mục 3 : Ghi nhớ về công cụ lao động của Người tinh khôn. Suy nghĩ để trả lời : Từ khi chế tác được công cụ làm bằng kim loại, cuộc sống của Người tinh khôn dần dần được nâng cao là vì sao ? Một sô khái niệm, thuật ngữ Vượn cổ: khỉ dạng người hay còn gọi là vượn người. Người tối cổ: là những người tuy còn dấu tích của loài vượn (trán thấp và bợt ra phía sau, mày nổi cao, xương hàm còn choài ra phía trước, trên người còn một lớp lông bao phủ...), nhưng đã hầu như hoàn toàn đi bằng hai chân, hai chi trước đã biết cầm, nắm, hộp sọ đã phát triển, biết sử dụng và chế tạo công cụ. Người tinh khôn : có cấu tạo cơ thể giống như người ngày nay, xương cốt nhỏ hơn Người tối cổ, bàn tay nhỏ, khéo léo, các ngón tay linh hoạt, hộp sọ và thể tích não phát triển, trán cao, mặt phẳng, cơ thể gọn và linh hoạt. -Hài cốt: bộ xương còn lại của người chết đã lâu. -Bây : đám đông động vật cùng loài sống với nhau hoặc tạm thời tập hợp với nhau một chỗ. -Thị tộc : nhóm người gồm vài chục gia đình cùng huyết thống, cùng làm chung, ãn chung, cùng sống trong một hang động, mái đá, hoặc trong một vùng nhất định nào đó. B. GỢI Ý TRẢ LỜI CÁC CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP TRONG SGK 1. Người tối cổ khác Người tinh khôn : Người tối cổ Người tinh khôn - Hầu như có thể đi, đứng bằng hai chân. - Dáng đứng thẳng (như người ngày nay). - Đầu nhỏ, trán thấp và bợt ra sau, - Thể tích hộp sọ lớn hơn, trán cao, hàm nhô về phía trước... hàm lùi vào... - Trên cơ thể còn bao phủ bởi một lớp lông mỏng. - Lóp lông mỏng không còn. - Công cụ : Hòn đá được ghè đẽo thô sơ. - Đã biết chế tạo công cụ sắc bén hơn, biết đến thuật luyện kim. Cuộc sống của bầy người nguyên thuỷ : Người tối cổ : cuộc sống "ăn hang, ở lỗ" rất bấp bênh ; sống theo bầy, dựa vào hái lượm, săn bắt, biết dùng lửa, biết ghè đẽo đá làm công cụ, ở trong các hang động, mái đá... Người tinh khôn : sống theo từng thị tộc, làm chung, ăn chung. Người tinh khôn biết chăn nuôi gia súc, trồng lúa, trồng rau, dệt vải, làm đồ gốm và đồ trang sức... So với đời sống của Người tối cổ, đời sống của Người tinh khôn tiến bộ hơn : Sống theo từng thị tộc, làm chung, ăn chung. Biết chăn nuôi gia súc, trồng lúa, trồng rau, dệt vải, làm đồ gốm và đồ trang sức... Đã bước đầu biết sản xuất, chinh phục tự nhiên, Công cụ bằng kim loại có tác dụng : - Diện tích đất trồng trọt và năng suất lao động không ngừng được mở rộng và tăng cao. 17 Con người từ đây có thể làm ra một lượng sản phẩm không chỉ đủ nuôi sống mình mà còn dư thừa. 2. ĐHTLS6-A c. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP Tự KIEM tra, đánh giá Câu 1. Hãy khoanh tròn chữ in hoa trước ý trả lời đúng. So với Người tối cổ, Người tinh khôn đã biết sãn bất, hái lượm. dùng đá làm công cụ. c. biết trồng trọt, chăn nuôi, làm đồ gốm... D. sống theo từng nhóm nhỏ. Xã hội nguyên thuỷ dần dần tan rã khi con người biết săn bắt và hái lượm. con người biết sử dụng và tạo ra lửa. c. con người biết chinh phục thiên nhiên. D. con người biết dùng kim loại để chế tác công cụ sản xuất. Câu 2. Vì sao nói : Người tối cổ chuyển biến thành Người tinh khôn là một bước tiến vĩ đại của lịch sử loài người ? Câu 3. Nguyên nhân nào làm cho xã hội nguyên thuỷ tan rã ?

Giải Bài Tập Sgk Lịch Sử Lớp 6 Bài 3: Xã Hội Nguyên Thủy

Giải bài tập Lịch sử lớp 6 bài 3

Lịch sử lớp 6 bài 3

Giải bài tập SGK Lịch sử lớp 6 bài 3: Xã hội nguyên thủy. Lời giải bài tập Lịch sử 6 này sẽ là tài liệu tham khảo hay được chúng tôi sưu tầm nhằm giúp quá trình ôn tập và củng cố kiến thức chuẩn bị cho kì thi học kì mới môn Lịch sử của các bạn học sinh lớp 6 trở nên thuận lợi hơn. Mời các bạn tham khảo

1. Con người đã xuất hiện như thế nào?

– Cách đây khoảng 3 – 4 triệu năm, từ 1 loài vượn cổ trải qua quá trình tìm kiếm thức ăn đã tiến hoá thành người tối cổ.

– Người tối cổ sống ở nhiều nơi trên thế giới.

– Người tối cổ sống thành từng bầy trong hang động, mái đá và cả ngoài trời.

– Công cụ sản xuất: Đá ghè đẽo thô sơ.

– Sống bằng hái lượm và săn bắt.

– Biết sử dụng lửa để sưởi ấm và nướng thức ăn.

Người tối cổ biết sử dụng lửa

2. Người tinh khôn sống như thế nào?

– Trải qua hàng triệu năm, Người tối cổ dần trở thành Người tinh khôn (khoảng 4 vạn năm trước đây)

– Người tinh khôn, sống từng nhóm nhỏ, có họ hàng với nhau gọi là thị tộc.

– Họ làm chung, ăn chung, biết cải tiến công cụ đá, biết trồng trọt, chăn nuôi, làm đồ gốm, dệt vải, làm đồ trang sức.

3. Vì sao xã hội nguyên thủy tan rã?

* TRẢ LỜI CÂU HỎI Lịch Sử 6

1. Con người có nguồn gốc từ đâu? Xuất hiện như thế nào?

Trả lời:

Con người có nguồn gốc từ một loài vượn cổ, là loài vượn có hình dạng người (vượn nhân hình), sống cách đây khoảng 5-15 triệu năm. Vượn nhân hình là kết quả của quá trình tiến hóa từ động vật bậc cao.

2. Người tối cổ xuất hiện như thế nào? Cách đây bao lâu? Ở đâu?

Trả lời:

– Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, thông qua lao động và nhờ lao động, loài vượn này dần dần đã biết đi bằng hai chi sau, dùng hai chi trước để cầm nắm và biết sử dụng những hòn đá, cành cây làm công cụ. Đó là người tối cổ.

– Người tối cổ xuất hiện cách ngày nay khoảng 3-4 triệu năm ở Đông Phi, Giava (In-đô – nê – xi -a), Bắc Kinh (Trung Quốc)

3. Đời sống của người tối cổ như thế nào? Người tối cổ khác với loài vượn ở chỗ nào? Người tối cổ được tìm thấy ở đâu?

Trả lời:

– Người tối cổ sống theo bầy gồm khoảng vài chục người. Ban ngày, họ hái lượm hoa quả và săn thú để ăn, ban đêm họ ngủ trong các hang động, dưới mái đá hoặc trong những túp lều làm bằng cành cây, lợp lá hoặc cỏ khô. Họ biết ghè đẽo đá làm công cụ, biết dùng lửa để sưởi ấm, nướng thức ăn và xua đuổi thú dữ. Cuộc sống như thế này kéo dài hàng triệu năm.

– Người tối cổ biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động, biết sử dụng và chế tạo ra lửa, biết sống có tổ chức, có người đứng đầu.

– Những hài cốt của người tối cổ đã được tìm thấy ở nhiều nơi như miền đông châu Phi, trên đảo Gia-va (In-đô – nê – xi -a), gần Bắc Kinh (Trung Quốc)

4. Người tinh khôn xuất hiện cách đây khoảng bao lâu?

Trả lời:

Người tinh khôn xuất hiện cách đây khoảng 4 vạn năm

5. Xem hình 5 SGK em thấy người tinh khôn khác người tối cổ ở những điểm nào?

Trả lời:

Người tinh khôn khác người tối cổ ở những điểm:

– Người tối cổ có những đặc điểm: Đứng thẳng, đôi tay tự do, trán thấp hơi bợt ra đằng sau, u lông mày nổi cao, hàm bạnh ra, nhô về phía trước, hộp sọ lớn hơn vượn, trên người còn có một lớp lông máng.

– Người tinh khôn: Đứng thẳng, đôi tay khéo léo hơn, xương cốt nhỏ hơn, hộp sọ và thể tích não phát triển hơn (145cm 3−1500cm 3)(145cm 3−1500cm 3), trán cao, mặt phẳng, cơ thể gọn, linh hoạt hơn, trên người không còn lớp lông máng.

– Đặc điểm cấu tạo cơ thể của người tinh khôn giống như người ngày nay.

6. Đời sống của người tinh khôn có điểm nào tiến bộ hơn so với người tối cổ?

Trả lời:

– Người tinh khôn không sống theo bầy và hoang sơ, “ăn lông ở lỗ” như Người tối cổ mà sống theo từng nhóm nhỏ, gồm vài chục gia đình, có họ hàng gần gũi với nhau, gọi là thị tộc. Những người cùng thị tộc đều làm chung, ăn chung, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi công việc.

– Người tinh khôn đã biết trồng rau, trồng lúa, biết chăn nuôi gia súc, làm đồ gốm, dệt vải từ sợi vỏ cây, biết làm đồ trang sức như vòng tay, vòng cổ, bắt đầu chú ý đến đời sống tinh thần.

– Người tinh khôn không chỉ kiếm được thức ăn nhiều hơn mà còn sống tốt hơn, vui hơn.

7. Về cấu tạo cơ thể của người tinh khôn có điểm nào khác với người tối cổ?

Trả lời:

Cấu tạo cơ thể của Người tinh khôn giống như người ngày nay: Xương cốt nhỏ hơn Người tối cổ, bàn tay nhỏ nhắn, khéo léo, thể tích hộp sọ và thể tích não phát triển (1450cm 3−1500cm 3)(1450cm 3−1500cm 3); trán cao, mặt phẳng, cơ thể nhỏ gọn, linh hoạt

8. Đời sống kinh tế của người tinh khôn có điểm nào tiến bộ hơn so với Người tối cổ?

Trả lời:

Đời sống kinh tế của người tinh khôn có điểm nào tiến bộ hơn so với Người tối cổ là:

– Biết chế tác nhiều công cụ tiến bộ – đò mài đá (mài cưa, khoan đục đá)

– Nguồn sống (kinh tế); săn bắn thay cho săn bắt, biết trồng trọt và chăn nuôi nguyên thủy.

– Đời sống ổn định hơn, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên mà bước đầu đã biết chinh phục tự nhiên.

9. Tổ chức xã hội của người tinh không có điểm nào tiến bộ hơn so với Người tối cổ?

Trả lời:

– Về tổ chức xã hội, Người tinh khôn có những điểm tiến bộ hơn so với Người tối cổ là:

+ Người tinh khôn biết tổ chức thành các Thị tộc thay cho Bầy người. Thị tộc gồm vài chục gia đình, có quan hệ huyết thống với nhau (cùng dòng máu), có sự phân công lao động, có người đứng đầu (là một tộc trưởng)

+ Ban đầu là chế độ thị tộc và bào tộc sống cạnh nhau trên một vùng đất đai thuận lợi, có họ hàng với nhau vì cùng chung một nguồn gốc tổ tiên, cùng tổ chức các lễ hội cùng giúp nhau trong đời sống. Mỗi bộ lạc có ngôn ngữ chung, có tài sản chung. Đứng đầu bộ lạc là một tù trưởng.

– Địa điểm sinh sống của người tinh khôn giai đoạn phát triển được tìm thấy.

10. Ở buổi ban đầu người tinh không sử dụng công cụ lao động bằng gì?

Trả lời:

Ở buổi ban đầu tuy có khá hơn so với người tối cổ, song họ cũng chỉ mới biết dùng đã để chế tạo công cụ lao động.

11. Kim loại đầu tiên được con người phát hiện là kim loại gì? Vào khoảng thời gian nào?

Trả lời:

Kim loại đầu tiên được con người tìm thấy là đồng nguyên chất. Đồng nguyên chất mềm nên họ chủ yếu dùng làm đồ trang sức. Về sau, họ đã biết pha đồng với thiếc và chì cho cứng hơn gọi là đồng thau.

Đồng thau xuất hiện khoảng 4000 TCN.

12. Quan sát hai bức tranh hình 6 và hình 7 (SGK trang 10), em hãy cho biết trong bức ảnh có những công cụ gì?

Trả lời:

– Trong hình 6 là thạp đựng bằng gốm

– Trong hình 7 là những công cụ lao động như dao đồng, búa, lưỡi liềm đồng, mũi lao đồng, vòng đeo cổ, đeo tay bằng đồng,….

13. Việc xuất hiện nhiều công cụ, đồ dùng và đồ trang sức bằng đồng nói lên điều gì?

Trả lời:

Việc xuất hiện nhiều công cụ, đồ dùng và đồ trang sức bằng đồng cho thấy việc sử dụng đồ đồng rất phổ biến, điều đó chứng tỏ kĩ thuật đúc đồng đã đạt đến trình độ khá tinh xảo. Thể hiện rõ nét trong sự đa dạng về loại hình cũng như việc làm đồ trang sức.

14. Đồ sắt xuất hiện khoảng thời gian nào? Từ đồ sắt con người đã chế tạo các loại công cụ lao động nào?

Trả lời:

– Đồ sắt xuất hiện khoảng 1000 năm TCN

– Các công cụ lưỡi cày, cuốc, liềm, kiếm, dao găm,…

15. Công cụ bằng kim loại có tác dụng như thế nào?

Trả lời:

Công cụ kim loại so với công cụ đá sắc hơn, cứng hơn, nó có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích trồng trọt, tăng năng suất lao động, sản phẩm làm ra dư thừa ngày càng nhiều, không chỉ đủ ăn mà còn ngày một dư thừa Nhờ công cụ kim loại con người làm được nhiều ngành nghề khác như gỗ, đóng thuyền, phá đá làm nhà…

16. Vì sao khi công cụ kim loại xuất hiện, sản xuất phát triển nhanh, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều thì xã hội nguyên thủy lại tan rã?

Trả lời:

Nhờ công cụ kim loại con người có thể khai phá đất hoang, tăng diện tích trồng trọt, làm ra sản phẩm không chỉ nuôi sống mình mà còn dư thừa. Do công cụ lao động mới, một số người có khả năng lao động giỏi hơn, hoặc đã lợi dụng uy tín của mình để chiếm đoạt của cải dư thừa của người khác, vì thế càng trở nên giầu có, một số khác lại sống cực khổ, thiếu thốn. Xã hội phân hóa thành giàu nghèo. Chế độ làm chung, ăn chung ở thời kì công xã thị tộc bị phá vỡ, xã hội nguyên thủy tan rã.

Soạn Bài Viết Bài Làm Văn Số 1: Nghị Luận Xã Hội

Bài viết tham khảo khác

Mỗi con người sinh ra trên thế gian này đã là một niềm hạnh phúc vĩ đại. Nhưng sinh ra để sống trong vô nghĩa thì cái diễm phúc lớn lao kia lại trở thành một thứ bi kịch chua xót. Ý nghĩa cuộc sống – điều làm nên hạnh phúc thực sự, để hạnh phúc tồn tại lâu bền nhất lại chỉ vang lên nhịp đập của nó khi được nuôi dưỡng bởi suối nguồn của tình yêu thương. Dường như quy luật ấy đã trở thành muôn thưở và là chân lý của cuộc sống. Cũng bởi lẽ trên, đã có ý kiến cho rằng: “Tình thương là hạnh phúc của con người”. Khi còn ở tuổi thiếu niên, dường như mọi người trong chúng ta thường nhìn nhận khái niệm hạnh phúc rất đơn giản là những điều mình mong muốn. Bước vào cuộc sống, bạn thật sự đặt chân lên cuộc hành trình tự khẳng định mình, tìm kiếm giá trị cuộc sống và ý nghĩa bản thân, bạn sẽ nhận ra rằng “Tình Thương Là Hạnh Phúc của Con Người”. Đó cũng chính là một chân lí vĩnh hằng của cuộc sống.

Dù mơ hồ hay rõ ràng, ai cũng có thể nhận ra rằng tình thương là những tình cảm đẹp đẽ và nồng nhiệt của con người, gắn kết những trái tim đồng cảm. Nó có thể là tình cảm lứa đôi, tình cảm gia đình, bè bạn và cao hơn cả là tình người nói chung. Đó có thể là những tình cảm bình dị nhất, gần gũi nhất từ sự quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống đến những tình cảm lớn lao hơn mang tính giai cấp, cộng đồng. Tình thương – đó là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng – là tình cảm chỉ trao đi mà ko cần nhận lại, ko vụ lợi,không toan tính. Có thể nói, tình thương là 1 thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người. Và kết quả của sự yêu thương đó là sự thỏa mãn của con tim – cái được goi là niềm hạnh phúc.

Hạnh phúc là gì ?

Tự bao đời nay, con người luôn khao khát yêu thương, luôn kiếm tìm hạnh phúc. Người ta có thể cảm nhận được hạnh phúc nhưng để mô tả nó một cách rõ ràng thì không phải là một điều đơn giản. Chỉ có thể nói về hạnh phúc như là một trạng thái sung sướng vì cảm thấy thỏa mãn ý nguyện. Nhưng đó ko chỉ đơn thuần là ước muốn vật chất hay sự thành công, mà là cả một tổng thể bao gồm những khái niềm hết sức trừu tượng, nhưng cũng thật đơn giản biết bao. Có đôi lúc, hạnh phúc chỉ đơn giản là giọt nước mắt nóng hổi của mẹ và tiếng cười ấm áp của cha khi nhìn con ra đời khỏe mạnh. Hạnh phúc có khi chỉ đơn giản là niềm xúc động khi nhận được sự giúp đỡ hay một lời chia sẻ chân thành. Đối với nhiều người, hạnh phúc bắt đầu từ điều đơn giản nhất, khi mỗi sớm mai thức dậy, thấy mình sống có ích trên cõi đời.

Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy Ta có những ngày nữa để yêu thương

(Trịnh công Sơn)

Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản và bình dị thế thôi.

Sự thật là có một mối liên hệ không thể tách rời giữa hạnh phúc và tình thương. Con người không thể sống hạnh phúc mà ko có tình thương.

Tình thương mang lại hạnh phúc cho người nhận nó, giúp họ có thêm nghị lực để vượt qua mọi thử thách, khó khăn; là động lực giúp họ ngày càng hoàn thiện hơn. Trong “Những người khốn khổ” (V.Huy-gô ), triết lí tình thương của nhân vật Giăng-Van-Giăng đã có ý nghĩa lớn lao,thay đổi số phận và giáo hóa con người. Giăng-Van-Giăng đã thay lời Huy-gô để nói lên một triết lí: “Trong đời chỉ có một điều, ấy là yêu thương nhau”.

Không chỉ với người nhận, sự trao đi tình thương cũng là điều mang lại hạnh phúc. Khi bạn giúp đỡ một bà cụ đi qua đường thì bạn cảm thấy thế nào? Câu trả lời nằm trong tim bạn. Có phải bạn đang vui…?!?. Thế có nghĩa là bạn đang hạnh phúc đấy. Trao đi yêu thương một cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau dc san sẻ sẽ vơi nữa, còn hạnh phúc dc san sẻ sẽ nhân đôi. Thomas Merton đã từng nhận xét: “Nếu chúng ta chỉ biết tìm hạnh phúc cho riêng mình thì có thể chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm thấy. Hạnh phúc đích thực là biết sống vì người khác – một tình yêu không vị kỉ, không đòi hỏi phải được đền đáp”.

Đúng vậy, được yêu thương là một hạnh phúc, nhưng yêu thương người khác còn là một hạnh phúc lớn hơn.

Tình thương mang lại hạnh phúc cho con người. Đó chính là lí do tại sao mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ chúng ta phảu biết rèn luyện bản thân, để tạo nên hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và xã hội. “Cái đẹp cứu vớt thế giới” (Đốtx-tôi-ép-xki). Tình thương là nét đẹp tiềm ẩn sức mạnh vĩ đại, là niềm hạnh phúc quý giá của con người. Cần biết trân trọng những gì ta đang có, yêu thương và san sẻ để cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn.

Ngày nào ta còn sống, tức là ta còn có cơ hội để cảm nhận hạnh phúc của cuộc đời. Một câu ngạn ngữ của Scotland nói rằng: “Hãy sống thật hạnh phúc khi bạn còn đang sống – bởi vì bạn chỉ có một lần sống duy nhất mà thôi!”. Thế còn bạn thì sao? Tôi thì sao? Liệu chúng ta có biết nhận ra những điều tương tự? Mỗi ngày chúng ta có 24 giờ để sống, để yêu thương, để phát hiện những điều tuyệt vời nhất trong cuộc sống. Hãy cho đi tình thương để có thể cảm nhận cuộc sống một cách đầy đủ nhất.

Đề 2: “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”. Ý kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân.

Bài làm tham khảo khác

Những phẩm chất cao quí trong tâm hồn con người luôn là một mục tiêu mà chúng ta vươn tới. Đó chính là đức hạnh. Những phẩm chất đó tô điểm cho tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta luôn hoàn thiện bản thân mình.

Muốn thế, chúng ta phải thể hiện qua hành động, qua hành vi cử chỉ hằng ngày của chúng ta. Và vì vậy, “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”.

Đức hạnh là gì? Đức hạnh là những gì cao quý nhất, trong sáng nhất trong tâm hồn của mỗi con người chúng ta. Hành động là gì? Hành động là những gì biểu hiện ra bên ngoài, qua đó thể hiện những tính cách của mỗi người. Những phẩm chất và hành động của con người là khác nhau, tạo nên sự khác biệt trong tính cách của mỗi thành phần trong xã hội.

Vậy chúng ta phải làm gì để có được những phẩm chất cao quý mà chúng ta gọi là đức hạnh? Thật ra, đức hạnh là một điều không khó để vươn tới. Nó không quá cao siêu, chỉ là những gì nhỏ nhất đủ để đánh giá một con người. Giúp một bà cụ qua đường, tìm mẹ cho một em nhỏ bị lạc, hay đơn giản chỉ là một nụ cười khi ta gặp môt người quen ngoài đường, tất cả đã góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách của mỗi con người chúng ta. Như thế, cuộc sống sẽ dễ dàng hơn với mọi người, làm cho quan hệ giữa người với người càng trở nên tươi đẹp và góp phần biến xã hội chúng ta thành một nơi “tốt hơn cho bạn và cho tôi”.

Đức hạnh chỉ đơn giản, không cầu kì, phức tạp để đạt được. Nhưng chúng ta không nên quá đơn giản nó đi. Đừng chỉ nghĩ mà không làm rồi sau đó ru ngủ bản thân rằng: “những gì mình làm đã là tốt nhất”. Nghĩ phải đi đôi với hành động, và những phẩm chất đó cũng cần hành động để thể hiện chúng ta. Bây giờ, mở lòng mình ra với thế giới bên ngoài, nhìn xung quanh và hãy bắt đầu hành động. Không khó để xây dựng đức hạnh trong mỗi con người chúng ta.

Bây giờ, chúng ta là thanh niên, là thế hệ tương lai và kế cận của xã hội sau này. Hãy xây dựng một hình ảnh, một tính cách bằng những hành động của chúng ta, bắt đầu bằng những hành vi nhỏ nhất, để xã hội ngày càng tươi đẹp và tốt hơn. “Cho bạn và cho tôi, cho tất cả mọi người”. Và hãy nhớ rằng, “mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”.

Đề 3: Hãy phát biểu ý kiến của anh (chị) về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Bài làm tham khảo khác

Học tập là thức vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Nó là hành trang đi theo con người suốt cả cuộc đời. Chính vì thế chúng ta cần xác định rõ mục đích học tập trong mọi hoàn cảnh cảnh, mọi thời đại. Nói về mục đích học tập UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.

Học tập là cả một quá trình dài tiếp thu kiến thức về khoa học kĩ thuật, văn hóa của xã hội và để con người học cách chung sống hòa đồng với nhau. “Học để biết” là như thế nào? Có nghĩa là ta được học những kiến thức trong sách vở, học từ thầy cô, ban bè, nhà trường và xã hội để con người biết về cuộc sống hiện tại đang ra sao và cần những gì. “Học để biết” giúp ta cư xử đúng với chuẩn mực đạo đức xã hội hơn. Chúng ta được học từ chỗ biết ít dần đến chỗ biết nhiều và sẽ hoàn thiện bản hơn khi những thứ mà ta học được đều mang lại lợi ích cho cả bản thân và xã hội. Nhờ đó tâm hồn con người được mở mang hơn và tích lũy được nhiều kiến thức của cuộc sống tạo được vốn sống sâu sắc cho bản thân.

Khi chúng ta đã tiếp thu, tích lũy được nhiều kiến thức từ sách vở và đời sống chúng ta cần phải biết vận dụng nó vào cuộc sống thực tại của bản thân. “Học để làm” có nghĩa như vậy. Bởi đây là mục đích thiết thực nhất của mục đích học tập “học đi đôi với hành”. Để từ đó chúng ta tạo ra những của cải vật chất tinh thần cho bản thân và cho xã hội làm cho xã hội giàu đẹp văn minh hơn. Như một người cố gắng học tập và làm việc để trở thành một bác sĩ sau đó đi chữa bệnh cho mọi người. Đây là hành động đẹp được tất cả mọi người trong xã hội cần. Vì thế để thực hiện được ước mơ thì bên cạnh việc học chúng ta còn phải biết áp dụng kiến thức đó vào cuộc sống thực tại thì mới đem lại hiệu quả cao trong cuộc sống.

(Bài làm của học sinh)