Xu Hướng 1/2023 # Thiết Kế Một Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học # Top 4 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Thiết Kế Một Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Thiết Kế Một Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đổi mới chương trình giáo dục và cùng với nó là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và đổi mới đánh giá là những phương diện thể hiện sự quyết tâm cách tân, đem lại những thay đổi về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Và ở khía cạnh hoạt động, tất cả những đổi mới này đều được biểu hiện sinh động trong mỗi giờ học qua hoạt động của người dạy và người học. Chính vì thế những câu hỏi như: Làm thế nào để có một giờ học tốt? Đánh giá một giờ học tốt như thế nào cho chính xác, khách quan, công bằng? luôn có tính chất thời sự và thu hút sự quan tâm của tất cả các giáo viên (GV) và cán bộ quản lí giáo dục.

Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc GV tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động và thái độ tự tin; được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV với HS, giữa HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học). Về bản chất, đó là giờ học có sự kết hợp giữa học tập cá thể (hình thức học cá nhân) với học tập hợp tác (hình thức học theo nhóm, theo lớp); chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các KN, gắn với thực tiễn cuộc sống; phát huy thế mạnh của các PPDH tiên tiến, hiện đại; các phương tiện, thiết bị dạy học và những ứng dụng của công nghệ thông tin…; chú trọng cả hoạt động đánh giá của GV và tự đánh giá của HS.

Ngoài việc nắm vững những định hướng đổi mới PPDH như trên, để có được những giờ dạy học tốt, người GV cần phải nắm vững các kĩ thuật dạy học. Chuẩn bị và thiết kế một giờ học cũng là một hoạt động cần có những kĩ thuật riêng. Bài viết xin đề cập đến vấn đề này trên góc nhìn một giờ học tốt theo định hướng đổi mới PPDH.

1. Quy trình chuẩn bị một giờ học

Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học đối với GV thường được thể hiện qua việc chuẩn bị giáo án. Đây là hoạt động xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học.

Căn cứ trên giáo án, có thể vừa đánh giá được trình độ chuyên môn và tay nghề sư phạm của GV vừa thấy rõ quan niệm, nhận thức của họ về các vấn đề giáo dục như: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, cách sử dụng PPDH, thiết bị DH, hình thức tổ chức dạy học và cách đánh giá kết quả học tập của HS trong mối quan hệ với các yếu tố có tính chất tương đối ổn định như: kế hoạch, thời gian, cơ sở vật chất và đối tượng HS. Chính vì thế, hoạt động chuẩn bị cho một giờ học có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, quyết định nhiều tới chất lượng và hiệu quả giờ dạy học.

Từ thực tế dạy học, có thể tổng kết thành quy trình chuẩn bị một giờ học với các bước thiết kế một giáo án và khung cấu trúc của một giáo án cụ thể như sau:

– Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức (KT), kĩ năng (KN) và yêu cầu về thái độ trong chương trình. Bước này được đặt ra bởi việc xác định mục tiêu của bài học là một khâu rất quan trọng, đóng vai trò thứ nhất, không thể thiếu của mỗi giáo án. Mục tiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học; hay nói khác đi đó là thước đo kết quả quá trình dạy học. Nó giúp GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng những KT, KN nào; phạm vi, mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì).

Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm vi, mức độ KT, KN của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của HS và điều kiện dạy học. Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưa tới hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về KT, KN. Nếu nắm vững nội dung bài học, GVsẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung của bài giảng phù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch KT, KN của SGK, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá, vận dụng các KT, KN trong bài một cách thích hợp.

– Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS, gồm: xác định những KT, KN mà HS đã có và cần có; dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết.

Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp. Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phải lường trước các tình huống, các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của HS. Nói cách khác, tính khả thi của giáo án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của HS, được xuất phát từ : những KT, KN mà HS đã có một cách chắc chắn, vững bền; những KT, KN mà HS chưa có hoặc có thể quên; những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình học tập của HS. Bước này chỉ là sự dự kiến; nhưng trong thực tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiến trước, GV đã lúng túng trước những ý kiến không đồng nhất của HS với những biểu hiện rất đa dạng. Do vậy, dù mất công nhưng mỗi GV nên dành thời gian để xem qua bài soạn của HS trước giờ học kết hợp với kiểm tra đánh giá thường xuyên để có thể dự kiến trước khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức cũng như phát huy tích cực vốn KT, KN đã có của HS.

– Bước 4: Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.

Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, KN vận dụng KT vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tác động đến tư tưởng và tình cảm để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho HS. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, các GV vẫn quen với lối dạy học đồng loạt với những nhiệm vụ học tập không có tính phân hoá, ít chú ý tới năng lực học tập của từng đối tượng HS. Đổi mới PPDH sẽ chú trọng cải tiến thực tiễn này, phát huy thế mạnh tổng hợp của các PPDH, PTDH, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá nhằm tăng cường sự tích cực học tập của các đối tượng HS trong giờ học.

– Bước 5: Thiết kế giáo án.

Đây là bước người GV bắt tay vào soạn giáo án – thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của HS.

– Mục tiêu bài học:

+ Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ;

+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được.

– Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:

+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất…), các phương tiện dạy học (máy chiếu, TV, đầu video, máy tính, máy projector…) và tài liệu dạy học cần thiết;

+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết).

– Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy- học cụ thể. Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:

+ Tên hoạt động;

+ Mục tiêu của hoạt động;

+ Cách tiến hành hoạt động;

+ Thời lượng để thực hiện hoạt động;

+ Kết luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;…

– Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới.

2. Thực hiện giờ dạy học

Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau:

– Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết))

Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có thể đan xen trong quá trình dạy bài mới.

– GV giới thiệu bài mới: nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu bài học; tạo động cơ học tập cho HS.

– GV tổ chức, hướng dẫn HS suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụng PPDH phù hợp.

GV hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu những KT, KN, thái độ đã có thông qua hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những hình thức khác nhau.

– Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập và tổ chức cho HS tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của bạn.

– GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học.

– GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làm bài tập, thực hành, thí nghiệm,…).

– GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài học mới.

Lưu ý: Tùy theo đặc trưng môn học, nội dung dạy học, đặc điểm và trình độ HS, điều kiện cơ sở vật chất… GV có thể vận dụng các bước thực hiện một giờ dạy học như trên một cách linh hoạt và sáng tạo, tránh đơn điệu, cứng nhắc.

TS. Nguyễn Thúy Hồng, Viện CL và CTGD

Quá Trình Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Tiếng Anh Ở Trường Thcs

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành quản lí giáo dục với đề tài: Quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh

1. BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ PHẠM THỊ THANH BÌNH QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HÀ NỘI – 2013

2. BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ PHẠM THỊ THANH BÌNH QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Quản lý giáo dục Mã số: 60 14 01 14 Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS. TRẦN ĐÌNH TUẤN

3. HÀ NỘI – 2013 3

4. MỤC LỤC Tran g MỞ ĐẦU 4 Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 16 1.1 Khái niệm công cụ của đề tài 16 1.2 Nội dung quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở 23 1.3 Những yếu tố tác động quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở 32 Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÍ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40 2.1 Đặc điểm của dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 40 2.2 Thực trạng quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 45 2.3 Thực trạng quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 49 2.4 Đánh giá ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân 60 Chương 3 YÊU CẦU VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 68 3.1 Yêu cầu xây dựng biện pháp 68 3.2 Biện pháp quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 69

5. 3.3 Khảo nghiệm sự cần thiết và khả thi của các biện pháp 87 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC 100 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã, đang không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ thông qua việc đổi mới toàn diện. Trên cơ sở đó, thông qua đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2006 – 2015 và kế hoạch 855/KH-BGDĐT về tham gia thực hiện đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020 của chương trình phát triển giáo dục trung học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 8/12/2010 đã được trình chính phủ. Chính phủ sẽ đổi mới toàn bộ hệ thống giảng dạy ngoại ngữ từ trước tới nay, từ chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá đến việc bảo đảm đủ đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất phục vụ dạy và học ngoại ngữ… Để đáp ứng cho việc đổi mới này và thực hiện đúng ý nghĩa mà đề án đổi mới dạy học ngoại ngữ của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra đòi hỏi mỗi giáo viên cần có sự đổi mới phương pháp dạy học của chính mình cùng với việc đáp ứng nhu cầu học tập, khả năng lĩnh hội và tâm lí của học sinh. 1.2. Đổi mới phương pháp dạy học song hành cùng đổi mới chương trình – sách giáo khoa đã được tiến hành hơn chục năm qua một cách kiên trì, bền bỉ và rộng khắp. Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học. Mục tiêu trong giáo dục nói chung và trong dạy học tiếng Anh nói riêng tập trung vào việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên: học sinh chủ động tìm 4 4

6. tòi, phát hiện, giải quyết nhiệm vụ nhận thức và có ý thức vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức kĩ năng đã thu nhận được. Phương pháp dạy học tiếng Anh chọn giao tiếp là phương pháp chủ đạo, năng lực giao tiếp là đơn vị dạy học cơ bản, coi giao tiếp vừa là mục đích vừa là phương tiện dạy học. 1.3. Những nghiên cứu lí luận về quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh hiện nay còn ít và chưa thống nhất. 1.4. Quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học các bộ môn nói chung, bộ môn tiếng Anh nói riêng ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh đã có những cải tiến đáng kể, chất lượng học tập bộ môn đang chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Song trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, công tác quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở các trường trung học cơ sở vẫn còn một số hạn chế. Thực tế dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 10, thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còn bộc lộ những yếu, kém về phương pháp dạy học và về quản lí đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh. Việc dạy và học tiếng Anh đang tồn tại một hiện tượng là học sinh học xong không thể sử dụng tiếng Anh để giao tiếp. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở các trường trung học cơ sở từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lí quá trình này trong nhà trường là vấn đề cấp thiết hiện nay. Bản thân đang là giáo viên giảng dạy bộ môn tiếng Anh nhiều năm tại trường trung học cơ sở bên cạnh việc làm công tác quản lí, chỉ đạo bộ môn tiếng Anh của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 10 nên tôi có một số kinh nghiệm và điều kiện nghiên cứu đề tài này. Với lí do trên, tôi chọn đề tài Quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp một phần nhỏ của 5 5

9. phải lựa chọn những phương pháp dạy học đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học . Trên cơ sở lí luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục Việt Nam nghiên cứu về quá trình đổi mới phương pháp dạy học như Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng, Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Văn Lê, Hoàng Tâm Sơn, Nguyễn Văn Tường,. . . Mặc dù mỗi tác giả đi sâu vào những bình diện khác nhau của quá trình đổi mới phương pháp dạy học nhưng tất cả đều hướng đến việc giải quyết mối quan hệ giữa giáo viên và nhà quản lí, những nội dung quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Trong những năm gần đây, phong trào đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh đã có những kết quả đáng ghi nhận. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức chương trình nghiên cứu “Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”. Một số đề tài nghiên cứu đã bước đầu xác định được quan niệm, qui trình và điều kiện đổi mới phương pháp dạy học. Thực tế có không ít giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp, hiểu biết sâu sắc về phương pháp dạy học bộ môn nói chung, bộ môn tiếng Anh nói riêng, có kiến thức vững vàng, có tay nghề khá và nhạy cảm với những đòi hỏi mới của xã hội đã có nhiều giờ dạy tốt. Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên ở các trường trung học cơ sở vẫn dạy học theo phương pháp truyền thống “Ngữ pháp – phiên dịch” hoặc vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình, phân tích ngữ pháp có kết hợp với đàm thoại . Tác giả Đặng Thành Hưng (2001) trong tài liệu tổng thuật về “Quan niệm và xu thế phát triển phương pháp dạy học trên thế giới” có đề cập đến những đặc điểm nổi bật trong nghiên cứu và phát triển phương pháp dạy học. Ông trình bày bốn hướng nghiên cứu đã tồn tại và đang phát triển từ trước đến nay: 8 8

10. Một là, nghiên cứu lí thuyết khái quát: các nghiên cứu thực nghiệm tìm kiếm phương pháp tiếp cận tổng quát đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học, tạo ra những giai đoạn sáng tạo các phương pháp dạy học cụ thể, hình thành các mô hình, kiểu dạy học cụ thể. Hai là, nghiên cứu phương pháp dạy học theo môn học: nét chung của xu thế này là nghiên cứu, phát triển phương pháp dạy học cụ thể với mục đích thích ứng các tư tưởng, các mô hình lí thuyết với thực tiễn dạy học. Ba là, kĩ thuật truyền thống trong quá trình sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực: dùng kĩ thuật truyền thống để tạo ra các phương pháp dạy học mới, tích cực. Đây là một xu thế phổ biến hiện nay. Bốn là, kĩ thuật hiện đại hóa trong quá trình sáng tạo các phương pháp dạy học mới: đây là xu thế tích hợp máy vi tính, công nghệ thông tin trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, cũng là xu thế thịnh hành và gây nhiều tranh cãi. Gần đây có các nghiên cứu về thực trạng và đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đổi mới phương pháp dạy học. Tác giả Ngô Tứ Thành (2008) có bài nghiên cứu về giải pháp đổi mới phương pháp dạy học. Tác giả chứng minh sự phát triển của công nghệ thông tin trên toàn thế giới khiến triết lí giáo dục Việt Nam cần phải thay đổi, từ đó đưa ra một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy học. Ông đề xuất đổi mới phương pháp dạy học cần lấy xu hướng lấy học sinh làm trung tâm chủ đạo, được cụ thể hoá thành phương pháp 3C (Cách – Chủ động của người học – Công nghệ thông tin và truyền thông) rất cần thiết trong vấn đề cải thiện chất lượng dạy và học hiện nay. Nghiên cứu đề xuất ba tiêu chí giáo viên cần xem xét là ưu tiên hàng đầu trong đổi mới phương pháp dạy học. Đó là: dạy học phải là dạy cách học, cách nghiên cứu; cần phát huy mạnh mẽ 9 9

11. tính chủ động của học sinh; công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và truyền thông. Có rất ít nghiên cứu trong lĩnh vực nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở Việt Nam. Consortium for Global Education (CGE) (2006), một tập đoàn giáo dục toàn cầu, đưa ra sáu bài học cho giáo viên Việt Nam dựa trên những nghiên cứu về đổi mới phương pháp dạy học ngôn ngữ. Bài học đầu tiên khuyến cáo giảng dạy tiếng Anh phải tôn trọng những khía cạnh văn hoá của người học. Bài học thứ hai đề cập đến việc học sinh học bằng nhiều cách khác nhau. Giáo viên nên tôn trọng các phong cách học tập ngoại ngữ khác nhau. Bài học thứ ba nói về đổi mới phương pháp dạy học ngoại ngữ. CGE khuyên giáo viên nên chú ý đến những yếu tố mà họ có thể thúc đẩy động lực và nỗ lực học của người học như cung cấp phản hồi thường xuyên cho học sinh, luôn khuyến khích học sinh, cho học sinh tự do lựa chọn, quan tâm và hiểu rõ hoàn cảnh xuất thân và khả năng của học sinh… giúp học sinh tự chịu trách nhiệm với việc học ngoại ngữ của mình bằng cách nhấn mạnh các yếu tố ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp, ngôn ngữ cần phải được thực hành, phải nói, cho học sinh thấy từng thành tựu, tiến bộ dù rất nhỏ. Bài học thứ tư nói về sự kết hợp các kĩ năng và giảng dạy kĩ năng nghe. CGE trình bày các kĩ năng không nên dạy riêng lẽ mà kết hợp với nhau. Bài học thứ năm nhấn mạnh về giảng dạy kĩ năng viết cho người học. Tác giả Nguyễn Thị Thuý Hồng (2009) nêu lên một số suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh. Tác giả trình bày hai vấn đề trung tâm tại sao phải đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh và nên thay đổi như thế nào. Bà đưa ra những nhận xét về tình hình học tập tiếng Anh của học sinh không đồng đều và có những phẩm chất gây trở ngại cho việc học ngôn ngữ như thụ động, không thích cộng tác. Tác giả giới thiệu một số xu 10 10

13. Nhiệm vụ nghiên cứu Một là, nghiên cứu cơ sở lí luận của quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh trong ở các trường trung học cơ sở. Hai là, đánh giá thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân ưu điểm, hạn chế trong quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Ba là, đề xuất và khảo nghiệm tính cần thiết, khả thi của các biện pháp tăng cường quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. 4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khách thể nghiên cứu Quá trình đổi mới phương pháp dạy học ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng nghiên cứu Quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Phạm vi nghiên cứu Về phạm vi nội dung, đề tài giới hạn nội dung nghiên cứu vào quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học bộ tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở theo chương trình và sách giáo khoa qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Về phạm vi không gian, thực hiện nghiên cứu trên địa bàn quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Thực nghiệm trên 12 trường trung học cơ sở – bao gồm 8 trường công lập và 4 trường dân lập. Về phạm vi thời gian, thực hiện khảo sát thực trạng cán bộ quản lí, giáo viên và học sinh trung học cơ sở trong thời gian 5 năm, từ năm 2008 trở lại đây. 12 12

15. Tổ chức họp rút kinh nghiệm các chuyên đề, các tiết dạy cấp quận về đổi mới phương pháp dạy học trong các buổi sinh hoạt chuyên môn nhằm xác định rõ các biện pháp chỉ đạo phù hợp quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp điều tra: Khảo sát bằng phiếu ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh nhằm thu thập số liệu để đánh giá thực trạng công tác quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh và đề xuất các giải pháp thông qua việc thiết lập bảng hệ thống các câu hỏi, phiếu thăm dò và lấy ý kiến của nhiều đối tượng: lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo; cộng tác viên thanh tra và cán bộ bồi dưỡng bộ môn tiếng Anh; hiệu trưởng, hiệu phó chuyên môn; tổ trưởng chuyên môn, giáo viên tiếng Anh và học sinh ở 12 trường trên địa bàn quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Trò truyện và trưng cầu ý kiến các đối tượng khảo sát bằng phiếu thông qua các loại hình thức: phỏng vấn có chuẩn bị trước; phỏng vấn không chuẩn bị trước; trao đổi trực tiếp; trao đổi qua điện thoại hoặc qua thư điện tử. Phương pháp thống kê toán học: Sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tác giả xử lí số liệu, tính tần số xuất hiện và tỉ lệ phần trăm các nội dung trong phiếu hỏi nhằm đánh giá thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả công tác quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp khảo nghiệm: Khảo nghiệm sự cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. 7. Ý nghĩa của đề tài Luận văn hoàn thành sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở khoa học về quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở. 14 14

17. Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦAQUẢN LÍ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.1. Khái niệm công cụ của đề tài 1.1.1. Phương pháp dạy học tiếng Anh Nói đến phương pháp dạy học có rất nhiều quan điểm khác nhau. Nếu quan niệm dạy học là truyền thụ và thu nhận kiến thức thì phương pháp dạy học là cách thức truyền đạt và thu nhận kiến thức. Nếu quan niệm dạy học là quá trình trợ giúp người học chiếm lĩnh nội dung học thì phương pháp dạy học gắn liền với qui trình, cách thức tổ chức quá trình nhận thức cho người học. Phương pháp không có mục đích tự thân mà “Phương pháp là con đường dõi theo sau một đối tượng”. Theo GS, TS Thái Duy Tuyên thì phương pháp dạy học là một khái niệm được hiểu ở các bình diện khác nhau không thống nhất với nhau. Mặc dù chưa có ý kiến thống nhất về định nghĩa phương pháp dạy học, các tác giả đều thừa nhận rằng phương pháp dạy học có những dấu hiệu đặc trung sau đây: Một là, nó phản ảnh sự vận động của quá trình nhận thức của học sinh nhằm đạt được mục đích đặt ra. Hai là, phản ảnh sự vận động của nội dung đã được nhà trường qui định. Ba là, phản ảnh cách thức thông tin giáo viên và học sinh. Bốn là, phản ảnh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức: kích thích và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động. 16 16

18. Nhìn chung, phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong sự phối hợp, thống nhất dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện được những nhiệm vụ dạy học. Phương pháp dạy học tiếng Anh là cách thức phối hợp hoạt động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học bộ môn tiếng Anh, nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ dạy học đã xác định. Phương pháp dạy học tiếng Anh là phương pháp dạy học bộ môn, là phạm trù cơ bản trong giáo học pháp. Chủ thể sử dụng phương pháp dạy học tiếng Anh là giáo viên và học sinh. Giáo viên sử dụng phương pháp dạy trong hoạt động dạy. Học sinh sử dụng phương pháp học trong hoạt động học. Theo quy luật dạy học thì cả hoạt động dạy và hoạt động học phải thống nhất với nhau, phối hợp cùng nhau, hỗ trợ cho nhau. Đối tượng tác động chung của phương pháp dạy và phương pháp học tiếng Anh là nội dung, chương trình môn học. Ngoài đối tượng tác động chung, mỗi loại hoạt động lại có đối tượng tác động riêng. Hoạt động dạy có đối tượng tác động riêng là quá trình nhận thức của học sinh. Hoạt động học có đối tượng tác động riêng là quá trình nhận thức của chính bản thân mình. Phương pháp dạy học tiếng Anh có nghĩa hẹp hơn: là mô hình tổng hợp hóa quá trình dạy học dựa trên một trong các hướng tiếp cận cụ thể, điển hình cho các phương hướng cụ thể, có thể là việc sử dụng tài liệu giảng dạy, lựa chọn thủ pháp giảng dạy, phương thức tương tác giữa giáo viên và học sinh. Dựa trên khái niệm của Anthony (1963) Richards và Rodgers (1986) nhìn nhận phương pháp như một cái ô bao trùm ba cấp độ: lí thuyết (approach – lối tiếp cận), xử lí (design – thiết kế) và ứng dụng thực tế (procedure – qui trình). Các tác giả trên đã giúp chúng ta định hình được cấu trúc của phương pháp dạy học tiếng Anh bao gồm vai trò giáo viên và học sinh, loại hình chương trình, đặc trưng tổ chức quá trình dạy học và các ngữ liệu giảng dạy. 17 17

19. Khi đề cập về phương pháp dạy học tiếng Anh, ắt hẳn mỗi giáo viên đều biết đến nhiều phương pháp dạy học khác nhau như phương pháp ngữ pháp – dịch, phương pháp trực tiếp, phương pháp nghe – nói, phương pháp nghe – nhìn, phương pháp gợi mở… Mỗi phương pháp ra đời sau đều được coi như một cố gắng kế thừa những thành tựu và khắc phục nhược điểm của phương pháp ra đời trước nó. Nếu như với phương pháp dạy ngoại ngữ truyền thống (phương pháp ngữ pháp – dịch) chú trọng nhiều vào việc học và rèn luyện thành thạo các cấu trúc ngữ pháp, thì với cách tiếp cận giao tiếp tức dạy ngoại ngữ theo phương pháp thực hành giao tiếp việc hình thành ở học sinh năng lực sử dụng ngôn ngữ thành thạo lại là trọng tâm của quá trình dạy học. Khác với phương pháp nghe nói (Audio-lingual) với sự nhấn mạnh đến vai trò của luyện tập thành thục các mẫu cấu trúc có sẵn, cách giảng dạy theo phương pháp thực hành giao tiếp nhấn mạnh đến khả năng tương tác của học sinh trong bối cảnh giao tiếp, trong đó mỗi hành vi ngôn ngữ của học sinh sẽ thay đổi tùy thuộc vào những phản ứng và câu trả lời trước đó của những người cùng tham gia. 1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh Trong xu thế nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trở thành một trong những vấn đề trọng tâm hàng đầu. Giáo viên vừa là người hướng dẫn, người định hướng, người trọng tài cố vấn cho học sinh đồng thời phải là người nghiên cứu, tìm tòi phát hiện cái mới trong đó, mở rộng và làm phong phú sâu sắc hơn những tri thức khoa học mà bộ môn giảng dạy để không ngừng tự biến đổi mình. Quá trình đó không chỉ bó hẹp ở một khía cạnh tích luỹ kiến thức, tìm tòi kiến thức mới mà rộng hơn là cả về phương pháp dạy học. Phương pháp dạy học là một phạm trù của khoa học giáo dục. Quá trình đổi mới phương pháp dạy học cần dựa trên những cơ sở khoa học giáo 18 18

20. dục và thực tiễn. Khoa học giáo dục là lĩnh vực rất rộng lớn và phức hợp, có nhiều chuyên ngành khác nhau. Vì vậy quá trình đổi mới phương pháp dạy học cũng được tiếp cận dưới rất nhiều cách tiếp cận khác nhau. Một phương pháp dạy học tiếng Anh cố định không thể là chìa khoá chung cho mọi giáo viên mà phải tùy thuộc từng hoàn cảnh lớp học, đối tượng học, nội dung học để mỗi giáo viên cần điều chỉnh quá trình dạy học hợp lí như nhà bác học Newton đã từng nói “Những điều ta biết chỉ là giọt nước, những điều chưa biết đó là đại dương. Trên con đường chiếm lĩnh tri thức thì không có đâu là bến bờ. Và trên con đường chiếm lĩnh đỉnh cao của tri thức thì mỗi người lại có những phương pháp khác nhau”. Chúng ta không thể có một phương pháp cụ thể cứng nhắc áp dụng cho tất cả các đối tượng mà phải phụ thuộc vào trình độ nhận thức, năng khiếu, sở thích, niềm say mê với môn học mà giáo viên và học sinh chọn cho mình phương pháp riêng để học tập và giảng dạy. Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là một nhu cầu tất yếu khách quan. Đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh phải dựa trên cơ sở của lý luận giáo dục hiện đại và lý luận phương pháp dạy học bộ môn ngoại ngữ. Đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng chung quy là phải phát huy cao độ tính tích cực chủ động của học sinh, đưa họ vào vị trí trung tâm của hoạt động nhận thức. Đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là quá trình chuyển đổi từ phương pháp dạy học truyền thống, theo kiểu truyền thụ và lĩnh hội kiến thức sang phương pháp dạy học hiện đại, theo kiểu tổ chức cho người học tự tìm kiếm kiến thức. Theo phương pháp dạy học tiếng Anh truyền thống, quá trình học thường được coi như một quá trình truyền thụ kiến thức từ giáo viên sang học sinh. Theo quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh, việc sử dụng 19 19

21. phương pháp thực hành giao tiếp trong quá trình dạy và học giờ đây được nhìn nhận như một quá trình khám phá, trong đó học sinh dần sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh phù hợp với những mục đích giao tiếp cụ thể. Đây là mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm, trong đó cả giáo viên và học sinh đều cùng chia sẻ trách nhiệm dạy và học. Song song với việc nhấn mạnh vào mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp ở học sinh, việc lựa chọn các hoạt động học tập sao cho có ích, phù hợp với nhu cầu của học sinh và phải đặt vào trong những bối cảnh thật mà học sinh có nhiều khả năng sẽ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày luôn được đề cao. Muốn tạo được một môi trường học tập năng động và hấp dẫn trong đó có sự phối hợp tích cực của giáo viên và học sinh. Với vai trò là người điều khiển trong quá trình dạy học, giáo viên phải tạo ra mọi tình huống, mọi khả năng để hướng dẫn các hoạt động của học sinh trong giờ học. Giáo viên cần vận dụng mọi thao tác và phương tiện, cử chỉ điệu bộ để tăng cường thúc đẩy các hoạt động giao tiếp. Các phương tiện dạy học được phát huy triệt để. Học tiếng Anh là quá trình nhận biết các kiến thức và rèn luyện các kĩ năng, vì vậy trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh, giáo viên cần thiết kế, phân bố thời gian hợp lí giữa các khâu giảng, giữa thời lượng truyền đạt kiến thức mới và thời lượng cho học sinh thực hành. Tăng cường thực hành theo nhóm, theo cặp nhằm tạo điều kiện cho học sinh phát triển các kĩ năng ngôn ngữ, giảm được tâm lí ngại ngùng, tăng tính chủ động, tính hợp tác giữa học sinh với nhau; học sinh học tập lẫn nhau và luyện được cách học tập, làm việc đồng đội, tập thể. Giáo viên với vai trò là người đạo diễn đồng thời là diễn viên, tham gia như một thành viên của quá trình dạy học. Cần thiết kế các dạng bài tập theo hướng tạo tính chủ động sáng tạo cho học sinh và tùy theo trình độ của học sinh. Đối với học sinh có trình độ thấp thì tăng cường đưa bài tập thực hành theo hướng ” nhận biết – bắt chước – tư 20 20

22. duy sáng tạo”. Đối với học sinh có trình độ cao thì áp dụng thực hành theo hướng “nhận biết – liên hệ – tư duy sáng tạo”. Nên đa dạng hóa các hoạt động dạy học bằng cách xen kẽ các trò chơi nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh, mỗi giáo viên cần có những thủ thuật động viên khích lệ tính chủ động suy nghĩ của học sinh. Cần theo dõi quá trình học tập của học sinh và có những phản hồi kịp thời nhằm giúp học sinh phát huy những điểm mạnh và hạn chế, sửa chữa những điểm yếu, giúp học sinh cảm thấy tự tin muốn học và không cảm thấy tiếng Anh là một môn học khó. Giáo viên phải biết kết hợp uyển chuyển trong vai trò là người truyền tải kiến thức mới, là người giúp đỡ giảm độ khó cho học sinh, là người hướng dẫn và củng cố kiến thức toàn bài. Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh chính là đổi mới cách thức tổ chức giảng dạy, là phải lấy học sinh làm trung tâm, cách dạy mới phải phù hợp với khả năng tiếp thu và nhu cầu của học sinh, làm cho học sinh yêu thích môn học nhằm đảm bảo hiệu quả truyền đạt cao nhất cho học sinh. 1.1.3. Quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh Quản lí là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí bằng việc vận dụng các chức năng quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và có cơ hội tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra. Đối với giáo dục nhà trường, quản lí thực chất là sự tác động một cách khoa học của chủ thể quản lí đến hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành đến một trạng thái mới có chất lượng cao hơn. Quản lí phương pháp dạy học ở trường trung học cơ sở chính là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của cán bộ quản lí nhà trường đến cách thức làm việc của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Phương pháp dạy học luôn được đặt trong mối quan hệ giữa Mục tiêu – Nội dung – Phương pháp – Phương tiện – Hình thức – Kết quả, đặc biệt là mối 21 21

23. quan hệ của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Vì vậy, quản lí phương pháp dạy học cần quản lí đồng bộ các thành tố trong quá trình dạy học, tạo được động lực của quá trình dạy học. Quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là hệ thống những tác động có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lí đến quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh, nhằm đảm bảo cho quá trình đổi mới diễn ra đúng qui trình và đạt được kết quả cao nhất. – Mục đích của quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức, điều khiển các hoạt đông đổi của giáo viên và học sinh diễn ra theo qui luật. Quản lí sự thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức ngôn ngữ vào các tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn giao tiếp tiếng Anh, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. – Chủ thể quản lí của quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là cán bộ quản lí nhà trường và giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng Anh. Đối tượng quản lí là quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở. Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh của giáo viên trực tiếp giảng dạy đóng vai trò hết sức quan trọng và cần thiết. Nói tóm lại, quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là một trong những nội dung cốt lõi trong hệ thống quản lí của nhà trường. Nói đến quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là nói đến việc thực hiện đồng bộ các hoạt động quản lí mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, đội ngũ sư phạm; quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; quản lí điều kiện và môi trường sử dụng tiếng Anh; quản lí cơ chế hoạt động chuyên 22 22

24. môn, kiểm tra và đánh giá, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. 1.2. Nội dung quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở 1.2.1. Quản lí mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh trung học cơ sở Mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh trung học cơ sở phải cung cấp nhận thức (Cognitive), tác động thái độ (Affective) và hình thành kĩ năng (Psychomotor). Học sinh có thể sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết; có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi; có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hóa của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hóa và ngôn ngữ của các nước đó, biết tự hào, yêu quí và tôn trọng nền văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc mình. Điều này có nghĩa, sau khi hoàn thành chương trình, học sinh phải có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh, sử dụng được vốn từ được học để hỗ trợ cho việc học tập các môn học khác, phát triển trí tuệ cần thiết để tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động nghề nghiệp sau này. Để quản lí tốt hoạt động này, ban giám hiệu nhà trường cần căn cứ vào mục tiêu chung của ngành, vào tình hình cụ thể của nhà trường, đặc điểm học sinh và địa phương mà định hướng và chỉ đạo giáo viên xây dựng mục tiêu dạy học theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học. Cần kiểm tra việc xây dựng mục tiêu dạy học theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên, thể hiện qua kế hoạch giảng dạy năm học và kế hoạch bài học (Lesson plan). Cần quản lí nội dung bài dạy của giáo viên để kiểm tra sự chính xác, khoa học của nội dung dạy học. Đồng thời phải đối chiếu mục tiêu đổi mới 23 23

25. phương pháp dạy học mà giáo viên xây dựng với mục tiêu được yêu cầu của bộ môn tiếng Anh và nội dung từng bài học để có sự điều chỉnh hợp lí. 1.2.2. Quản lí việc thực hiện chương trình và sách giáo khoa tiếng Anh trung học cơ sở Chương trình môn tiếng Anh bậc trung học cơ sở được xây dựng theo sáu chủ điểm, lặp lại có mở rộng từ lớp 6 đến lớp 9. Kĩ năng giao tiếp là mục tiêu của quá trình học, kiến thức ngôn ngữ là phương tiện để hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp. Học sinh là chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của quá trình dạy học, còn giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình dạy học. Nội dung dạy học được lựa chọn và trình bày theo hệ thống chủ điểm, vừa đảm bảo tính giao tiếp cao, vừa đảm bảo tính cơ bản, chính xác và hiện đại của ngôn ngữ. Chương trình là cơ sở cho việc biên soạn sách giáo khoa, quản lí quá trình dạy học, kiểm tra kiến thức ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp, đánh giá kết quả học tập và chất lượng giảng dạy. Để quản lí tốt việc thực hiện chương trình tiếng Anh trung học cơ sở, ban giám hiệu nhà trường cần căn cứ vào tình hình cụ thể của nhà trường để định hướng cho giáo viên xây dựng chương trình theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp nhưng phải đảm bảo tiến độ giảng dạy và kế hoạch giảng dạy chung. Quản lí việc thực hiện chương trình theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học là quản lí việc thực hiện đúng, đủ các bài, đủ số giờ qui định của môn học (theo kế hoạch của nhà trường); dạy học đúng tiến độ, kiểm tra đánh giá đúng thời gian qui định của giáo viên. Vì vậy, ban giám hiệu nhà trường phải thường xuyên theo dõi việc soạn bài, lên lớp, tiến độ thực hiện chương trình dạy học của giáo viên để có sự điều tiết phù hợp. 1.2.3. Quản lí việc sử dụng phương pháp dạy dạy học tiếng Anh trung học cơ sở 24 24

26. Để hình thành và phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua luyện tập các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng… cần quán triệt các nguyên tắc về phương pháp dạy học cơ bản. Trước hết, giáo viên tổ chức và hướng dẫn học sinh tham gia tích cực vào quá trình học tập thông qua các hoạt động cá nhân, theo cặp và nhóm. Giáo viên cần kết hợp hài hòa các phương pháp và kĩ thuật dạy học, sử dụng hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy học và các tài liệu hỗ trợ nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh. Giáo viên cần sử dụng tiếng Việt một cách hợp lí và có hiệu quả trong quá trình dạy học. Với tư cách là người cố vấn, giáo viên phải tạo điều kiện tối đa cho quá trình giao tiếp giữa học sinhvới nhau; giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho học sinh. Dạy học theo phương pháp gợi mở, nghĩa là giáo viên chỉ gợi mở và dẫn dắt để học sinh tự tìm ra lời giải đáp hoặc con đường đi của mình. Học sinh là chủ thể của hoạt động học tập. Học sinh tham gia học tập và hoạt động giao tiếp tích cực, chủ động, sáng tạo và với tinh thần hợp tác cao. Vận dụng tất cả kiến thức có sẵn về văn hóa, xã hội cũng như ngôn ngữ của học sinh trong quá trình luyện tập. Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (Product) mà còn chú trọng cả quá trình (Process) luyện tập và phương pháp học tập của học sinh. Để quản lí tốt việc sử dụng hiệu quả các phương pháp dạy học tiếng Anh theo đổi mới phương pháp dạy học, người cán bộ quản lí nhà trường cần phải định hướng đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên, đồng thời tạo môi trường cho giáo viên có điều kiện tiếp cận và sử dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là các phương pháp dạy học có đi kèm với ứng dụng công nghệ thông tin. Phải quán triệt tinh thần dạy học tích cực, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong mỗi tiết học, lấy đó làm một trong những tiêu chí đánh giá, phân loại giáo viên. Thường xuyên dự giờ, thăm lớp 25 25

27. để kiểm tra việc sử dụng các phương pháp dạy trong đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh của giáo viên để có sự điều chỉnh kịp thời. 1.2.4. Quản lí đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh Giáo viên là chủ thể của quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh. Xét đến cùng, người dạy là nhân tố quyết định chất lượng của mọi quá trình dạy học trong các nhà trường. Người dạy mới có khả năng liên kết và phát huy các nhân tố của quá trình dạy học. Cho dù mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp và phương tiện dạy học có phát triển tốt đến đâu chăng nữa nhưng người dạy không bắt nhập được sự phát triển đó, không thay đổi gì mới thì chất lượng dạy học vẫn dẫm chân tại chỗ. Quản lí đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là phải nắm giữ, điều khiển được đội ngũ giáo viên tiếng Anh cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu, cả về thông tin và tính chất, đặc điểm hoạt động chuyên môn của từng giáo viên. Mục đích của quản lí giáo viên trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của giáo viên trong việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học, cụ thể như: tác động vào nhận thức, thái độ; tạo động lực; tạo điều kiện; khẳng định giá trị. Công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Để bồi dưỡng giáo viên nòng cốt của môn tiếng Anh ở từng khối lớp, ban giám hiệu nhà trường phải có kế hoạch tạo điều kiện cho giáo viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, theo các lớp bồi dưỡng theo chuyên đề của Phòng giáo dục và đào tạo, Sở giáo dục và đào tạo hoặc qua trao đổi kinh nghiệm giảng dạy với các chuyên viên, giáo viên giỏi ở trường bạn. Để nâng cao năng lực chuyên môn cho đối tượng giáo viên còn hạn chế trong giảng dạy, ban giám hiệu nhà trường cần phân công những giáo viên có 26 26

28. trình độ tay nghề giỏi trực tiếp giúp đỡ và tạo cho họ có thời gian và tài liệu để tự học, tự bồi dưỡng. Nhà trường cần phải thường xuyên tổ chức kiểm tra trình độ tay nghề của giáo viên, kịp thời phát hiện những giáo viên có năng lực tốt để bồi dưỡng họ trở thành những giáo viên nòng cốt, đồng thời nắm bắt được những mặt còn thiếu sót của giáo viên để đề ra biện pháp khắc phục thích hợp. Hạt nhân của quản lí đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học là quản lí hoạt động phương pháp của giáo viên. Nhà trường cần có kế hoạch tổ chức cho học viên tham gia các hoạt động phương pháp, hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp mới vào dạy học, kĩ năng sử dụng phương tiện công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Tổ chức dự giờ thăm lớp và rút kinh nghiệm giảng dạy nhằm giúp giáo viên có cơ hội trao đổi chuyên môn, học hỏi lẫn nhau. Thực hiện chuyên đề, hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học cũng như các lớp tập huấn kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin. Tổ chức thi viết sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp hữu ích nhằm giúp giáo viên tổng kết rút kinh nghiệm quá trình giảng dạy của mình, đồng thời giúp cho các giáo viên khác tham khảo, học hỏi, đóng góp ý kiến. Đây cũng là bước đầu để giáo viên quen dần với công tác nghiên cứu khoa học. 1.2.5. Quản lí hoạt động học của học sinh trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Vì vậy, quản lí học sinh trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn tiếng Anh trong nhà trường. 27 27

29. Thay đổi nhận thức về việc học, dạy cách học, xây dựng tập thể lớp học, tổ chức và quản lí hoạt động học, tạo điều kiện cho việc học, phối hợp quản lí quá trình học. Vấn đề quản lí hoạt động học của học sinh trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh đặt ra với ban giám hiệu nhà trường không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của người cán bộ quản lí giáo dục đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ. Quản lí hoạt động học của học sinh trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh cần tập trung quán triệt tinh thần dạy học tích cực cho giáo viên. Phải coi học sinh vừa là chủ thể của hoạt động học và là khách thể của của quá trình dạy, từ đó phát huy sự đa dạng về phương pháp học tập của học sinh để học sinh một mặt vừa rèn luyện kĩ năng theo sự hướng dẫn của thầy, một mặt tự tìm ra các cách thức rèn luyện riêng. Cần phải định hướng phương pháp học tập đặc thù của môn tiếng Anh cho học sinh để tránh sự tự phát, lệch hướng, thiếu tính hệ thống trong việc rèn luyện kĩ năng. Phải tổ chức xây dựng và thực hiện nội qui học tập của học sinh. Tổ chức phát động phong trào thi đua học tập. Ban Giám hiệu nhà trường Phải chỉ đạo công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường để quản lí quá trình học của học sinh. Phải đổi mới tổ chức kiểm tra, đánh giá quá trình học tập tiếng Anh của học sinh. Áp dụng công nghệ thông tin trong quản lí học sinh nhằm đảm bảo tính khách quan, công khai, toàn diện, thường xuyên, có hệ thống và đảm bảo tính phát triển của học sinh, đáp ứng được nhu cầu của mục tiêu giáo dục. 1.2.6. Quản lí môi trường thực hành tiếng Anh và cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy và học tiếng Anh Nhiều công trình nghiên cứu về học ngoại ngữ nhận thấy rằng, để học ngoại ngữ hiệu quả phải đáp ứng ba điều kiện: tiếp xúc, sử dụng và động cơ. 28 28

30. Chính vì vậy, nhà trường phổ thông, nơi thiếu điều kiện tự nhiên để cho học sinh tiếp xúc, phải có môi trường sử dụng tiếng Anh để tạo cơ hội cho học sinh rèn lyện kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Anh. Thiết nghĩ, tổ chức thường xuyên các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho môn tiếng Anh sẽ giúp học sinh có cơ hội sử dụng tiếng Anh hiệu quả hơn, thiết thực hơn. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Anh, ban giám hiệu nhà trường phải thay đổi sự mất cân đối giữa sự lĩnh hội và sử dụng ngôn ngữ bằng các phương pháp sau: Một là, khuyến khích giáo viện dạy tiếng Anh tăng cường tổ chức các trò chơi sử dụng ngôn ngữ trong giờ dạy của mình. Việc này đòi hỏi phải có sự đồng thuận và nhất trí trong nhà trường vì nó có thể sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình dạy học của những giáo viên khác. Hai là, chỉ đạo tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khóa, chuyên đề với mục đích tạo cơ hội sử dụng tiếng Anh cho học sinh (như tổ chức thi hùng biện bằng tiếng Anh, diễn kịch, trò chơi…). Ba là, định hướng tổ chức các hoạt động ngoại khóa môn tiếng Anh. Quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh chỉ phát huy hiệu quả khi giáo viên có kiến thức chuyên môn vững vàng và được trang bị các phương tiện trợ giảng như thiết bị dạy học, thiết bị nghe nhìn. Cơ sở vật chất phục vụ cho quá trình dạy và học tiếng Anh bao gồm nhiều loại như: phòng học, lớp học, bàn ghế, bảng, các trang thiết bị kĩ thuật, sách báo tư liệu, đồ dùng dạy học… Nếu được sử dụng hiệu quả, chúng sẽ giúp học sinh có hứng thú, dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ qua đó giúp giáo viên chuyển tải được nội dung dạy học đến học sinh một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, cần tránh tư tưởng sử dụng chúng chỉ để thay cho phương pháp dạy học truyền thống nhằm tiết kiệm thời gian và công sức giảng bài. 29 29

32. chất. Qui định rõ trách nhiệm của từng người đối với tài sản mà họ phụ trách hoặc mượn. Mỗi khi có hư hỏng, mất mát phải qui rõ trách nhiệm và xử lý minh bạch. Hằng năm, nhà trường tiến hành kịp thời những yêu cầu bổ sung, sửa chữa thay thế những thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết. Trong đó định rõ vật dụng mua sắm, bổ sung, dự trù đề xuất kinh phí ngân sách, hoặc dựa vào nhân dân, hội cha mẹ học sinh cùng đóng góp. 1.2.7. Quản lí việc kiểm tra đánh giá kết quả dạy học tiếng Anh Những nghiên cứu về lí luận dạy học đã chỉ ra rằng: muốn nâng cao chất lượng dạy học thì cần thiết phải quan tâm đến quá trình học tập của học sinh, phải thông qua việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Do đó, một trong những cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện chương trình dạy học chính là việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập bộ môn của học sinh. Chương trình mới thực hiện việc đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng: kế thừa các ưu điểm của cách đánh giá truyền thống và đặt việc đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan đúng với vị trí của nó; phối hợp đánh giá thường xuyên và định kì giữa các hình thức đánh gia khác nhau bằng viết và vấn đáp…; đặc biệt, việc kiểm tra, thi đều thực hiện theo trình độ chuẩn của chương trình mới. Trong phạm vi quản lí dạy học, ban giám hiệu nhà trường quản lí quá trình học của học sinh thông qua phản ánh của đội ngũ giáo viên về kết quả học tập rèn luyện của học sinh. Ban giám hiệu nhà trường cần phải quản lí việc kiểm tra của giáo viên đối với học sinh để đánh giá kết quả học tập của học sinh và kết quả dạy học của giáo viên tránh chỉ dừng lại ở mức độ đo lường bằng điểm số. Cụ thể là: quản lí kế hoạch kiểm tra của giáo viên; có kế hoạch kiểm tra giữa học kì, cuối học kì và hết năm học; yêu cầu chấm, trả bài đúng thời hạn, có sửa chữa 31 31

33. hướng dẫn cho học sinh; phân công bộ máy quản lí tổng hợp tình hình kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định kì. Thông qua việc tổ chức các kì thi để đánh giá đúng thực chất kết quả học tập của học sinh, từ đó có kế hoạch phụ đạo cho học sinh yếu kém về học lực, phát hiện và bồi dưỡng kịp thời những học sinh có năng khiếu. Mặt khác, thông qua việc kiểm tra nghiêm túc, đánh giá công bằng và khách quan giúp giáo viên điều chỉnh quá trình dạy của mình, kích thích tính tự giác học tập của học sinh. 1.3. Những yếu tố tác động quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở 1.3.1. Những nhân tố tác động từ bên ngoài của quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở Một là, điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh bao gồm các nguồn lực về con người, tài chính, cơ sở vật chất, thông tin, tài liệu và đồ dùng dạy học… trên địa bàn quận. Hai là, chủ trương, biện pháp của ngành giáo dục về đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau: Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh nhằm hướng tới giải quyết nhiệm vụ gì, vấn đề gì. Mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh đáp ứng yêu cầu gì của quản li giáo dục trong nhà trường. Phương hướng, tư tưởng chỉ đạo; con đường, bước đi của toàn bộ quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh. Ba là, thực trạng về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục trên địa bàn quận. 32 32

34. 1.3.2. Những nhân tố tác động từ bên trong của quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở Môn tiếng Anh ở trường trung học cơ sở cung cấp cho học sinh một công cụ giao tiếp mới để tiếp thu tri thức khoa học, kĩ thuật tiên tiến, tìm hiểu các nền văn hoá đa dạng và phong phú trên thế giới, dễ dàng hội nhập quốc tế. Môn tiếng Anh ở trường trung học cơ sở góp phần phát triển tư duy (trước hết là tư duy ngôn ngữ) và bổ trợ cho việc học tiếng Việt. Với đặc trưng riêng, môn tiếng Anh góp phần đổi mới phương pháp dạy học, lồng ghép và chuyển tải nội dung của nhiều môn học khác ở trường trung học cơ sở. Cùng với các môn học và hoạt động giáo dục khác, môn tiếng Anh giúp cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở trường trung học cơ sở. Với mục tiêu dạy học của bộ môn là giúp học sinh sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết; có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi; có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói tiếng Anh, từ đó có tình cảm và thái độ tốt đệp đối với đất nước, con người, nền văn hoá và ngôn ngữ của các nước nói tiếng Anh, biết tự hào, yêu quí và tôn trọng nền văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc mình. Mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở trong giai đoạn hiện nay là tập trung vào việc phát huy tính tích cực, năng động và sáng tạo của học sinh, nhằm hình thành năng lực nhận biệt và giải quyết vấn đề cho học sinh. Để đạt được mục tiêu này phương pháp dạy học tiếng Anh mới theo định hướng lấy học sinh làm chủ thể quá trình dạy học, khuyến khích quá` trình học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. 33 33

36. Những biểu hiện đặc trưng của tính tích cực học tập của học sinh bao gồm: khát khao hoạt động tìm hiểu, khám phá, thử nghiệm; hay nêu câu hỏi thắc mắc với giáo viên và bạn; chủ động thực hiện các nhiệm vụ học tập; tập trung chú ý, kiên trì thực hiện nhiệm vụ học tập. Tính tích cực hoạt động học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Những biểu hiện tích cực của một giờ học đối với học sinh bao gồm: học sinh hứng thú học tập; học sinh chủ động huy động các chức năng tâm lí ở mức cao trong việc chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng; học sinh thích thể hiện và biết cách thể hiện những hiểu biết của mình trong các hoạt động học tập; học sinh biết tự đánh giá kết quả học tập của mình và của bạn. Những biểu hiện tích cực của một giờ học đối với giáo viên tập trung vào các nội dung: là người dẫn dắt học sinh giải quyết các tình huống, biết khơi dậy và kích thích trí tò mò, lòng ham muốn tìm hiểu các kiến thức của học sinh; là người chỉ đạo, biết tạo điều kiện và biết cách tổ chức những hoạt động học tập của học sinh; là người hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các phương tiện học tập khác nhau như tranh ảnh, băng hình, phần mềm dạy học; là người biết khuyến khích, động viên thành tích học tập của học sinh. Nội dung của dạy học tiếng Anh theo quan điểm giao tiếp ở các trường trung học cơ sở Quan điểm giao tiếp qui định “tính giao tiếp” của quá trình dạy học tiếng Anh. Dạy học tiếng Anh thực chất là quá trình rèn luyện năng lực giao tiếp (các mẫu lời nói) dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết. Muốn rèn luyện được năng lực giao tiếp cần có môi trường với những tình huống đa dạng của cuộc sống. Môi trường này chủ yếu do giáo viên tạo ra dưới dạng những tình huống giao tiếp và học sinh phải tìm cách ứng xử bằng tiếng Anh cho phù hợp với tình huống giao tiếp cụ thể. 35 35

37. Mục đích của việc dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở không nhằm hướng học sinh vào nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ tiếng Anh mà nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, nghĩa là nhằm rèn luyện cho học sinh năng lực giao tiếp. Năng lực giao tiếp này được thể hiện bằng khả năng sử dụng sáng tạo những qui tắc trong tiếng Anh để thực hiện giao tiếp tình huống. Như vậy, nắm chắc hệ thống ngôn ngữ tiếng Anh không phải là đích cuối cùng mà còn là phương tiện để đạt được các mục đích giao tiếp. 1.3.5. Những nhân tố tác động từ việc đảm bảo và sử dụng các phương tiện và công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh, nhằm tăng cường tính trực quan, nhận biết trong quá trình dạy học. Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự tạo của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong qúa trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở. Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều khả năng ứng dụng trong đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning, E-study). Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới. Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện tử, trong đó học sinh khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng. 36 36

38. Sử dụng các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo ở các trường trung học cơ sở Kĩ thuật dạy học tiếng Anh là những cách thức tổ chức của giáo viên và học sinh trong các tình huống tổ chức nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học tiếng Anh là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học tiếng Anh. Có những kĩ thuật dạy học chung, có những kĩ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở theo nội dung dạy học cụ thể, ví dụ kĩ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học. Vì vậy bên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng phương pháp dạy học đặc thù bộ môn tiếng Anh có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn tiếng Anh được xây dựng trên cơ sở lí luận dạy học bộ môn. 1.3.6. Những nhân tố tác động từ việc bồi dưỡng phương pháp học tập cho học sinh ở các trường trung học cơ sở Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp làm việc nhóm, phương pháp thuyết trình. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập tiếng Anh. 1.3.7. Những nhân tố tác động từ việc đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá ở các trường trung học cơ sở 37 37

40. trình có hai chủ thể: giáo viên và học sinh. Cả hai chủ thể này đều chủ động, tích cực, bằng quá trình hoạt động của mình hướng tới tri thức. Giáo viên thì hoạt động truyền đạt tri thức, còn trò thì hoạt động chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành vốn hiểu biết của mình để tiếp tục hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn… Đây là quan điểm dạy học được đa số các nước có nền giáo dục tiên tiến quan tâm. Quản lí quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở là rất khó khăn và phức tạp, đòi hỏi người cán bộ quản lí phải có sự hiểu biết cơ bản về bộ môn tiếng Anh, phải nắm được định hướng đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở trường trung học cơ sở. Bên cạnh đó, đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh theo quan điểm giao tiếp, đòi hỏi nhà quản lí còn phải biết dự kiến và hoạch định công việc, có trình độ kĩ năng và nghiệp vụ quản lí, tổ chức tốt các hoạt động nhằm hướng vào quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh giúp cho nhà trường thực hiện được mục tiêu giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức và quản lí. 39 39

41. Chương 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ THỰC TRẠNG QUẢN LÍ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁPDẠY HỌC TIẾNGANH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1. Đặc điểm của dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 2.1.1. Mục tiêu của dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Mục tiêu dạy học tiếng Anh hiện nay ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 10 vẫn là tập trung vào phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề về kĩ năng ngôn ngữ tiếng Anh cho các em. Bên cạnh đó, tăng cường vận dụng ngôn ngữ trong thực hành và giao tiếp tiếng Anh. 2.1.2. Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Ưu điểm Về số lượng: đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở có nhiều biến động theo chiều hướng tốt. Giáo viên tiếng Anh liên tục tăng cả về số lượng lẫn loại hình (Xem bảng phụ lục 2.2). Tỉ lệ giáo viên tiếng Anh đạt chuẩn đào tạo từ cao đẳng sư phạm trở lên là 99,1% (trong đó: trình độ đại học 93.8%, trình độ thạc sĩ: 5.3%) Đã có đủ giáo viên tiếng Anh để dạy ở tất cả các trường trung học cơ sở trong toàn Quận – tỉ lệ 3.3 lớp/ giáo viên tiếng Anh. Đa số đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở có tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy với nghề nghiệp, một bộ phận có tay nghề vững vàng và chuyên môn giỏi đã và đang đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của ngành. 40 40

42. Số lượng giáo viên tiếng Anh ở các trường học tăng, đáp ứng được phần nào nhu cầu phục vụ đổi mới phương pháp dạy và học. Về trình độ đào tạo giáo viên tiếng Anh: được nâng dần qua hàng năm, trình độ đào tạo trên chuẩn tăng, có sáu giáo viên có học vị Thạc sĩ. Về độ tuổi: tỉ lệ cán bộ quản lí, giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh dưới 35 tuổi tăng dần, tỉ lệ trên 45 tuổi (đối với nữ), trên 50 tuổi (đối với nam) giảm dần. Nhược điểm Về số lượng: đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở tuy tăng nhiều, tăng liên tục qua hàng năm nhưng vẫn chưa đáp ứng được tỉ lệ cần thiết theo yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Về trình độ đào tạo: vẫn còn một giáo viên tiếngAnh chưa đạt chuẩn. Về trình độ chính trị: số cán bộ quản lí, giáo viên có trình độ chính trị trung cấp chưa nhiều. Về độ tuổi: giáo viên tiếng Anh ở độ tuổi dưới 35 chiếm tỉ lệ cao, nhưng lại ít kinh nghiệm trong công tác quản lí. 2.1.3. Cách thức tổ chức dạy học và môi trường thực hành tiếng Anh cho học sinh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Môi trường thực hành tiếng Anh cho học sinh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh nhìn chung cũng còn hạn chế. Chủ yếu chỉ thông qua hình thức thực hành những nội dung trong sách giáo khoa ở các tiết học với giáo viên tiếng Anh trên lớp. Ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 10 đã áp dụng hình thức tổ chức cho học sinh hoạt động theo cặp nhóm trong giờ dạy và học môn tiếng Anh nhằm mang lại hiệu quả tốt trong giảng dạy và học tập bộ môn. 2.1.3.1. Hoạt động theo cặp (pair work ) Cặp giữa thầy và một trò (Teacher and a student) 41 41

43. Thường được sử dụng làm mẫu trước khi cho học sinh luyện tập ngữ liệu mới theo cặp mở hoặc đóng . Cặp mở (open pair): giữa hai học sinh không ngồi gần nhau Cách này thường được tổ chức cho học sinh hoạt động thực hành bài khoá hoặc luyện ngữ liệu mới trước khi các em thực hành theo cặp đóng. Cặp đóng (close pair): giữa hai học sinh ngồi cạnh nhau Nhóm này thường được tổ chức cho học sinh hoạt động khi giáo viên giao việc cho học sinh chấm, chữa bài cho nhau (qua phiếu học tập hoặc qua các bài tập trong sách ), hoặc trong trường hợp sau khi giao việc cá nhân, học sinh phải huy động kinh nghiệm đã có để suy nghĩ, cuối cùng trao đổi kinh nghiệm với người bên cạnh mình nhằm cách giải quyết tình huống đề ra, hoặc cho học sinh luyện tập ngữ liệu mới sau khi được giới thiệu, hoặc cho học sinh luyện kĩ năng giao tiếp đối thoại theo nội dung bài khoá … 2.1.3.2. Hoạt động theo nhóm ( group work ) Chia nhóm theo vị trí bàn học của học sinh để huy động khả năng của học sinh trong nhóm vào giải quyết các bài tập tình huống nhận thức, thực hành nói . Chia nhóm thành dãy bàn học có trong lớp. Nhóm này thường được sử dụng trong các trò chơi học tập, hoặc giải một bài tập nhận thức có tính thi đua giữa các nhóm với nhau. Thực tế, mỗi tiết học giáo viên chỉ có thể tổ chức từ một đến hai hoạt động nhóm, và các nhóm sử dụng các phiếu hoạt động (activity sheet) hay phiếu làm việc (work sheet), trong hoạt động nhóm tư duy tích cực của học sinh phát huy và đặc biệt là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Bên cạnh đó, giáo viên cũng chú trọng hoạt động cặp giữa: giáo viên – học sinh, học sinh – học sinh nhằm để phát huy tính giao tiếp, đặc biệt để giúp cho tiết học sinh động hơn giáo viên cũng tổ chức các trò chơi, bài hát 42 42

45. 2.1.5. Đặc điểm về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và các nguồn vật lực, tài lực cho phát triển giáo dục phục vụ dạy và học ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh 2.1.5.1. Về cơ sở vật chất Từ khi tái lập quận (năm học 2006 – 2007) đến nay, dưới ánh sáng Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phong trào xã hội hóa giáo dục phát triển mạnh, cơ sở vật chất trường học được quan tâm xây dựng, cải tạo, tu bổ. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế như: Một số phòng học ở trường công lập được xây dựng từ 1999 trở về trước, nhiều phòng đã hết niên hạn sử dụng, nhiều phòng khác đang xuống cấp cần phải tu bổ, nâng cấp hàng năm. Số phòng học chức năng còn thiếu vế số lượng, chưa đảm bảo về qui cách, chưa đủ trang thiết bị dạy học, gây nhiều trở ngại cho giáo viên trong việc khai thác trang thiết bị và triển khai các hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Cơ sở vật chất các trường trung học cơ sở công lập (Xem bảng phụ lục 2.3). 2.1.5.2. Về nguồn tài lực cho giáo dục Quận 10 là một quận được đầu tư có nhiều thay đổi về giáo dục trong thành phố, song nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, biết kết hợp lồng ghép các chương trình, dự án (chương trình kiên cố hóa trường học, chương trình 135, kế hoạch phát triển giáo dục đối với quận phường có nhiều học sinh dân tộc… của thành phố) nên nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục ngày càng tăng. Các nguồn lực tài lực đầu tư cho giáo dục được sử dụng một cách hợp lí, đúng mục đích, có hiệu quả do vậy một mặt tạo nên chất lượng cho những nội dung đầu tư, mặt khác tạo nên được niềm tin của cộng đồng, của các cơ quan chức năng, tạo nên sự bền vững của nguồn tài lực. Tuy nhiên, các nguồn lực này phân bố chưa thật đều giữa các vùng, các phường khó khăn nguồn lực đầu tư cho giáo dục, nhất là nguồn tài lực huy động từ cộng đồng còn rất hạn chế (Xem bảng phụ lục 2. 4). 44 44

46. 2.1.6. Đặc điểm về tình hình học tập bộ môn tiếng Anh của học sinh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Tình hình học tập bộ môn tiếng Anh, chất lượng giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 10 có những chuyển biến tích cực kể từ năm học 2008 – 2009 (Xem các bảng phụ lục 2.5 và 2.6). Kết quả bộ môn có sự chuyển biến tích cực khi hai trường trung học phổ thông có học sinh trung học cơ sở – Sương Nguyệt Anh và Diên Hồng được chuyển từ mô hình công lập tự chủ tài chính sang mô hình công lập. Đây cũng là một trong những nhân tố tích cực để việc phân bổ đều nguồn học sinh đầu cấp vào các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận và góp phần nâng cao chất lượng dạy và học nói chung cũng như bộ môn tiếng Anh nói riêng. Chất lượng giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn tiếng Anh đạt kết quả khả quan bắt nguồn từ việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở, chiến lược tập trung bồi dưỡng học sinh giỏi của phòng giáo dục, bên cạnh sự nỗ lực của cả giáo viên giảng dạy và thái độ tích cực học tập bộ môn của học sinh. Thành tích nổi bật về kết quả thi học sinh giỏi cấp thành phố bộ môn tiếng Anh với nhiều giải nhất đã góp phần không nhỏ cho phong trào dạy và học của quận 10 luôn ở vị trí cao trong toàn thành phố Hồ Chí Minh. 2.2. Thực trạng quá trình đổi mới phương pháp dạy học tiếng Anh ở các trường trung học cơ sở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh Hiện nay việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo chủ trương của bộ giáo dục và đào tạo đã trở thành một đòn bẩy mạnh mẽ làm thay đổi đáng kể chất lượng học tập; học sinh tích cực, chủ động hơn trong việc học. Nhìn chung, sau bốn năm thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn quận 10, bước đầu đem lại những 45 45

Tổ Chức Hội Thảo Đổi Mới Ktđg Thúc Đẩy Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Các Môn Nv, Ls, Đl, Gdcd

Tổ chức hội thảo đổi mới KTĐG thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo dục công dân THPT, THCS

Kính gửi: Các Sở Giáo dục và Đào tạo

Thực hiện Chỉ thị số 47/2008/CT ngày 13/8/2008 của Bộ trưởng về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp năm học 2008-2009 và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học tại văn bản số 7475/BGDĐT-GDTrH ngày 15/8/2008, để chuẩn bị các cuộc Hội thảo toàn quốc, Bộ GDĐT hướng dẫn các Sở GDĐT tổ chức hội thảo về đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo dục công dân cấp THCS và cấp THPT như sau:

1. Đánh giá đúng tình hình và trao đổi kinh nghiệm về công tác chỉ đạo, thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo dục công dân.

2. Phát hiện những kinh nghiệm tốt của tập thể và các nhân về công tác chỉ đạo, thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói trên.

3. Xác định trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói trên trong thời gian tới cho phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương, trường học.

4. Định hướng cho GV về thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói trên.

5. Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về giải pháp thực hiện.

2. Đại diện lãnh đạo tất cả các trường THPT và một số trường THCS.

3. Một số giáo viên (GV) đang trực tiếp giảng dạy các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo dục công dân cấp THCS, THPT có thành tích trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.

b) Tham luận về công tác chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học của Phòng GDTrH (thuộc Sở GDĐT), một số Phòng GDĐT và một số trường THCS, THPT có thành tích tiêu biểu;

c) Tham luận của GV trực tiếp giảng dạy các môn học nói trên;

đ) Kết luận của Lãnh đạo Sở GDĐT:

– Định hướng chỉ đạo, trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cơ quan quản lý giáo dục, nhà trường và GV;

– Kiến nghị với Bộ GDĐT về công tác quản lý thực hiện chương trình; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh và tổ chức các kỳ thi.

2. Phương pháp hội thảo

a) Cần thông báo để các trường THPT, các Phòng GDĐT cấp huyện chuẩn bị chu đáo cho Hội thảo:

– Sở GDĐT chỉ đạo các trường THPT lựa chọn GV, các Phòng GDĐT lựa chọn các trường, GV THCS có thành tích tiêu biểu để chỉ định chuẩn bị báo cáo tham luận và duyệt các báo cáo tham luận đã được chuẩn bị;

– Sở GDĐT tiến hành kiểm tra chuyên môn (có dự một số giờ dạy, nghiên cứu đề kiểm tra các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Giáo dục công dân) ở một số trường THPT và một số Phòng GDĐT, trường THCS với mục đích chuẩn bị cho Hội thảo và có thêm cơ sở chuẩn bị bản Báo cáo đề dẫn.

b) Bám sát yêu cầu đánh giá đúng thực trạng công tác chỉ đạo và tình hình thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân.

Từ đó, xác định phương hướng chỉ đạo phù hợp với thực tế mỗi địa phương, mỗi trường học; phát hiện được một số điển hình tiên tiến về công tác này; kiến nghị được các giải pháp; không biến báo cáo tham luận thành bản báo cáo thành tích.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các Sở GDĐT tổ chức Hội thảo xong trước ngày 28/2/2009 và gửi báo cáo về Bộ GDĐT trước ngày 05/3/2009 (Báo cáo kết quả tổ chức Hội thảo và các báo cáo tham luận điển hình).

2. Bộ GDĐT sẽ tổ chức 2 cuộc Hội thảo toàn quốc trong tháng 3/2009 (sẽ có thông báo sau về thời gian cụ thể và địa điểm):

a) Về đổi mới đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí cấp THCS, cấp THPT;

b) Về đổi mới đổi mới kiểm tra, đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá hiệu quả giáo dục đối với môn Giáo dục công dân cấp THCS, cấp THPT.

Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn vướng mắc, các Sở GDĐT cần báo cáo với Bộ GDĐT ( qua Vụ Giáo dục Trung học) để hướng dẫn giải quyết.

Một Số Phương Pháp Dạy Và Học Từ Vựng Tiếng Anh

1. Quan điểm thứ nhất theo trường phái Ngữ pháp-Dịch : Có tên gọi “Grammar – Translation Method” hay còn gọi là phương pháp Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 cho đến tận những năm 1990. Phương pháp này coi mục đích chủ yếu của dạy và học tiếng Anh là cung cấp cho người học hệ thống từ vựng ngữ pháp tiếng Anh để phát triển kỹ năng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng, dịch văn bản, đọc các tác phẩm văn học, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ) chứ không tập trung vào kỹ năng giao tiếp. Để đọc hiểu các văn bản bằng tiếng Anh, người học được trang bị một lượng từ vựng và hệ thống ngữ pháp văn bản tương đối lớn dưới dạng bảng liệt kê kèm theo nghĩa bằng tiếng mẹ đẻ của người học. Phương pháp này yêu cầu học sinh học bất kì từ mới nào miễn làm sao hiểu và dịch được nội dung bài đọc. Giáo viên khuyến khích người học sử dụng từ điển khi đọc với mục đích nhớ từ. Trên lớp, giáo viên đóng vai trò trung tâm. Việc dạy từ vựng chỉ tập trung vào nghĩa của từ. Quy trình thực hiện: Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn. Việc giảng giải quy tắc ngôn ngữ là cơ bản. Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và các quy tắc ngôn ngữ, người học bắt buộc phải dịch các bài khóa sang tiếng mẹ đẻ. Người học không được phép mắc lỗi ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay.

Phương pháp Ngữ pháp – Dịch đã được sử dụng phổ biến ở nước ta trong một thời gian khá dài và nó đã có những ưu điểm không thể phủ nhận. Đó là:

– Người học được rèn luyện rất kỹ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.

– Người học nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc bài khóa mẫu.

– Người học có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.

Tuy nhiên, với xu hướng phát triển của đất nước và thời đại, mục đích của người học tiếng Anh cũng có thay đổi đòi hỏi phương pháp dạy và học tiếng Anh nói chung và từ vựng nói riêng cũng không thể mãi như cũ.

Người ta dần dần nhận ra những hạn chế của phương pháp Ngữ pháp-Dịch là:

– Không giúp người học “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy; nghĩa là người thầy giảng giải, nói nhiều, học sinh thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè.

– Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều – người học hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của người học bị hạn chế nhiều.

2. Phương pháp Nghe -Nói (Audiolingual Method or Audio-Oral Method) nhấn mạnh vào việc dạy kỹ năng nói và kỹ năng nghe trước kỹ năng đọc và kỹ năng viết. Khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch, phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình thành và phát triển cả bốn kỹ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết. Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nói không cho phép việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học. Khi thực hiện, người ta nhấn mạnh việc phát triển hai kỹ năng nói và nghe là chủ yếu. Việc dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu (structures) và qua các bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giống nhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn ngữ. Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/mẩu đối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữ cần truyền đạt. Người học luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quen ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi …). Đôi khi người học tập trung vào phát triển kỹ năng nghe và nói thông qua các bài hội thoại có sử dụng từ và cấu trúc ngữ pháp trong giao tiếp hàng ngày. Giáo viên dùng các đồ vật thật, hình vẽ, cử chỉ hay cách giải thích bằng chính tiếng Anh để giới thiệu từ mới. Phương pháp này cũng nhấn mạnh tới phát âm chính xác từ với hi vọng người học nói tiếng Anh như người bản ngữ. Việc dạy từ vựng trực tiếp không qua tiếng mẹ đẻ và chỉ chú trọng vào các tình huống giao tiếp cụ thể là cơ sở giúp người học mở rộng nhanh vốn từ.

Nói tóm lại, phương pháp Nghe – Nói có những ưu điểm là:

– Có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là học sinh tiểu học hoặc học sinh ở đầu cấp THCS. Người học cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: Người học làm theo lệnh của giáo viên hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản.

Tuy nhiên phương pháp này lại có những hạn chế như sau:

– Đối với người học có trình độ ngoại ngữ cao thì rất dễ nhàm chán với phương pháp này nếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết.

– Người học áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Người học không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy học sinh có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song các em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực. Điều này nói lên rằng mặc dù người học có thể nhắc lại từ một cách hoàn hảo xong họ không hiểu rõ nghĩa của từ và không có khả năng sử dụng từ trong những ngữ cảnh khác với điều đã được học; tức là thực tế không diễn đạt được những gì định nói mặc dù sau một thời gian dài học tập.

3. Phương pháp Giao tiếp

Phương pháp Giao tiếp (Communicative Approach) được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình, sách giáo khoa phổ thông tiếng Anh trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đều được biên soạn dựa theo quan điểm của phương pháp này. Qua đó, coi mục tiêu cuối cùng của dạy học ngoại ngữ là phát triển kỹ năng giao tiếp/kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills), năng lực giao tiếp (communicative competence). Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xã hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of communication). Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ (language function). Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp. Mục đích cuối cùng của người học từ vựng không chỉ biết được cách đọc, cách viết và nghĩa của từ mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được từ vựng đó để giao tiếp. Vì vậy, các tài liệu dạy học hiện đều hướng đến giúp người học có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau …. Hơn nữa, để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các từ vựng thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).

Với quan điểm lấy năng lực giao tiếp của người học làm trung tâm thì từ vựng được coi là một trong ba thành tố làm thành công cụ hay phương tiện để hình thành và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ. Nói cách khác là từ vựng được dạy lồng gộp với ngữ pháp và ngữ âm, thông qua và bằng luyện tập các kỹ năng giao tiếp và theo nhu cầu giao tiếp nghe, nói, đọc, viết nghĩa là quá trình giao tiếp cần những từ gì và số lượng là bao nhiêu thì dạy cho người học từng đó.

Ở đây, chúng ta cần hiểu rõ một số khái niệm về từ vựng trong việc dạy và học tiếng Anh nói chung.

a/Dùng trực quan như: đồ vật thật trên lớp, tranh ảnh, hình vẽ phác hoạ (hình que), hình cắt dán từ tạp chí, cử chỉ điệu bộ v.v.

b/Dùng ngôn ngữ đã học:

– Định nghĩa, miêu tả;

– Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa;

– Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ;

– Tạo tình huống;

– Đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh

c)Dịch sang tiếng mẹ đẻ.

thông thường trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ mới nào cũng cần đưa vào dạy như nhau. Do đó việc lựa chọn từ để dạy là nhiệm vụ quan trọng đối với giáo viên. Việc lựa chọn từ trước hết phụ thuộc vào tần suất từ đó được sử dụng trong giao tiếp, phụ thuộc vào khả năng từ đó thay thế các từ khác hay phụ thuộc vào nhu cầu và mục tiêu của người học. Người giáo viên phải biết lựa chọn, xác định từ tích cực, chủ động trong quá trình để giảng dạy và cố gắng phát huy hết khả năng tự học hỏi của học sinh đối với những loại từ không tích cực. Bên cạnh đó giáo viên còn phải biết sắp xếp các từ vựng sẽ dạy trong bài theo một trình tự hợp lý, hoặc tạo các lời dẫn gợi mở theo chủ điểm bài học.

Khi lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét các câu hỏi sau:

a) Từ chủ động hay từ bị động?

– Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ người học hiểu, nhận biết và sử dụng được trong giao tiếp nói và viết.

– Từ bị động (passive/ receptive vocabulary) là những từ người học chỉ hiểu và nhận biết được khi nghe và đọc.

b) Người học đã biết từ này chưa?

Giáo viên cần xác định rõ từ mình định dạy có thực sự là từ cần dạy hay không. Vốn từ của người học luôn luôn được mở rộng bằng nhiều con đường, và cũng có thể bị quên bằng nhiều lý do khác nhau. Để tránh tình trạng giới thiệu những từ không cần thiết và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những thủ thuật nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ đó chưa và biết đến đâu. Giáo viên có thể dùng các thủ thuật như eliciting; brainstorming; hoặc có thể hỏi trực tiếp học sinh những từ nào là từ mới và khó trong bài.

Việc dạy và học từ vựng theo phương pháp giao tiếp được tuân theo những nguyên tắc sau:

– Dạy và học từ thông qua luyện tập các kĩ năng giao tiếp

Việc học từ thông qua qua các kĩ năng giao tiếp giúp người học hiểu nghĩa từ dễ dàng hơn vì các kĩ năng giao tiếp luôn mang ngữ cảnh giao tiếp cụ thể và sinh động. Mặt khác việc học từ thông qua các kĩ năng giao tiếp kích thích nhu cầu sử dụng từ mới như một công cụ phát triển các kĩ năng.

Ngoài ra, giáo viên cần tạo điều kiện cho người học phát triển vốn từ vựng ngẫu nhiên (incidental learning) thông qua đọc rộng (extensive reading) và nghe rộng (extensive listening). Điều này giúp người học từ mới vì các từ này được đặt trong ngữ cảnh cụ thể.

– Dạy và học từ có tần suất sử dụng cao

Tiếng Anh cũng giống bất kì ngôn ngữ nào đều có một số từ được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau (high-frequency word), một số từ khác có mức độ sử dụng hạn chế hơn (low-frequency word). Việc chọn các từ có tần suất sử dụng cao để dạy sẽ giúp việc học từ đạt hiệu quả cao hơn vì những từ đó được người học sử dụng thường xuyên trong nhiều tình huống giao tiếp khác nhau.

– Dạy và học từ một cách tổng thể

Chúng ta đều biết học từ mà chỉ chú ý đến nghĩa sẽ không đặt được mục đích giao tiếp cao. Do đó khi dạy và học từ cần chú ý đến các khía cạnh khác của từ như: hình thái chữ viết (spelling), cách phát âm ( pronunciation), hình thái ngữ nghĩa (lexical meaning), hình thái ngữ pháp (grammatical form) và cách sử dụng (use).

– Dạy và học từ thông qua nhiều thủ thuật khác nhau

Như đã nói ở trên, giáo viên cần sử dụng các thủ thuật khác nhau để giới thiệu từ mới hoặc kết hợp nhiều thủ thuật để giới thiệu một từ mới. Việc làm này giúp dạy từ vựng có hiệu quả hơn và giúp người học nhớ từ lâu hơn. Một điều cần lưu ý là dịch từ mới sang tiếng mẹ đẻ là một thủ thuật dạy từ có kết quả, song giáo viên nên hạn chế sử dụng thủ thuật này vì việc phụ thuộc quá nhiều vào dịch sẽ làm giảm khả năng giao tiếp của người học.

– Dạy và học từ thông qua luyện tập thực hành

Giáo viên cần tổ chức các hoạt động thực hành và ôn luyện củng cố từ thông qua nghe, nói, đọc và viết để tăng độ trôi chảy khi sử dụng từ. Các hoạt động này sẽ giúp người học tập trung vào việc nhận biết và sử dụng từ đã học thành thạo trong từng ngữ cảnh.

– Chú trọng đến vai trò của người học trong việc dạy và học từ vựng

Giáo viên cần khuyến khích người học tham gia tích cực vào việc học từ thông qua một quá trình lâu dài và liên tục. Mặc dù giáo viên có thể cung cấp cho người học các thông tin về từ vựng và hỗ trợ người học trong quá trình học từ.

– Dạy và học từ thông qua sử dụng từ điển

Giáo viên cần hướng dẫn và khuyến khích người học sử dụng từ điển vì từ điển là phương tiện tra cứu đắc lực cho việc học từ. Việc hướng dẫn sử dụng từ điển sẽ giúp người học nâng cao khả năng tự học đồng thời góp phần làm cho việc dạy từ đạt hiệu quả cao.

Nói tóm lại, phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó bao trùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và phát triển bốn kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học. Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp. Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho người học có khả năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp.

Tuy nhiên vẫn có một số hạn chế đó là: Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kỹ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm một cách thích đáng. Kết quả là một số người học cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì họ làm sao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi không nắm chắc hệ thống qui tắc ngôn ngữ. Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này, quan hệ giữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là các chức năng ngôn ngữ học được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng. Nói cách khác, người ta khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức năng phù hợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức tạp.

Trong quá trình dạy học, giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thực hiện; người học đóng vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của học viên trong luyện tập thực hành. Muốn thực hiện được, cá nhân người học phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu ý rằng độ lưu loát/trôi chảy (fluency) trong giai đoạn này là rất quan trọng. Điều kiện tối thiểu để người học thực hành kỹ năng ngôn ngữ là mỗi lớp học không quá đông (khoảng 35 HS/lớp); có đầy đủ thiết bị nghe nhìn, băng/đĩa CD, tranh tình huống. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nên nhấn mạnh vào 4 kỹ năng, và một phần nhỏ kiến thức ngôn ngữ. Kiểm tra kỹ năng ngôn ngữ luôn luôn được ưu tiên trong bất kỳ hình thức nào.

Ở nước ta hiện nay, việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường diễn ra trong môi trường giao tiếp của thầy và trò còn có rất nhiều hạn chế: Dạy học trong một tập thể lớn (thường là đơn vị lớp học có khoảng 40 học sinh hoặc hơn), trình dộ nhận thức có nhiều cấp độ khác nhau, phương tiện hỗ trợ giảng dạy chưa đồng bộ. Những điều này làm phân tán sự tập chung của học sinh, tác động rất lớn đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh, làm chậm quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh và sự phân bố thời gian cho từng phần nội dung bài sao cho phù hợp với từng loại bài giảng (thực hành, kĩ năng) cũng là một tác động tới việc lựa chọn, nghiên cứu và áp dụng kĩ năng dạy từ vựng sao cho thích hợp.

Mỗi phương pháp ra đời sau đều được coi như một cố gắng kế thừa những thành tựu và khắc phục nhược điểm của phương pháp ra đời trước nó. Nếu như với phương pháp dạy tiếng Anh truyền thống (phương pháp ngữ pháp – dịch) chú trọng nhiều vào việc học và rèn luyện thành thạo các cấu trúc ngữ pháp, thì với cách tiếp cận giao tiếp tức dạy ngoại ngữ theo phương pháp thực hành giao tiếp việc hình thành ở người học năng lực sử dụng ngôn ngữ thành thạo lại là trọng tâm của quá trình dạy học. Khác với phương pháp nghe nói (audio-lingual) với sự nhấn mạnh đến vai trò của luyện tập thuần thục các mẫu cấu trúc có sẵn, cách giảng dạy theo phương pháp thực hành giao tiếp nhấn mạnh đến khả năng tương tác của người học trong bối cảnh giao tiếp, trong đó mỗi hành vi ngôn ngữ của người học sẽ thay đổi tùy thuộc vào những phản ứng và câu trả lời trước đó của những người cùng tham gia. 

Theo phương pháp giáo dục truyền thống, học ngoại ngữ thường được coi như một quá trình truyền thụ kiến thức từ thầy sang trò thì với việc sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp, việc dạy và học ngoại ngữ giờ đây được nhìn nhận như một quá trình khám phá, trong đó người học dần sử dụng ngôn ngữ phù hợp với những mục đích giao tiếp cụ thể. Đây là mô hình dạy học lấy người học làm trung tâm, trong đó cả thầy và trò đều cùng chia sẻ trách nhiệm dạy và học. Song song với việc nhấn mạnh vào mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp ở người học, việc lựa chọn các hoạt động học tập sao cho có ích, phù hợp với nhu cầu của người học và phải được đặt vào trong những bối cảnh thật mà người học có nhiều khả năng sẽ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày./.

Bài: Nguyễn Thanh Huyền – Khoa Ngôn ngữ và văn hóa Quốc tế Admin2. hoc mua bán đàn guitar tai tphcm công ty thiết kế web tai tphcm cong ty may áo thun đồng phục hoc phát âm tiếng anh chuan khoa học thiết kế web tphcm tphcm mua container văn phòng cu dia chi thay man hinh iphone tai tphcm thiet bi bếp công nghiệp bep nha hang dai ly ống nhựa tiền phong ong nuoc du an Căn hộ Scenic Valley ban thuoc kich duc nu chuyen thi cong phong karaoke vip

Cập nhật thông tin chi tiết về Thiết Kế Một Giờ Dạy Học Theo Định Hướng Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!