Xu Hướng 1/2023 # Tác Phẩm: Tĩnh Dạ Tứ # Top 5 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Tác Phẩm: Tĩnh Dạ Tứ # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Tác Phẩm: Tĩnh Dạ Tứ được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

☆☆☆☆☆

12

2.75

Nội dung

靜夜思 床前明月光, 疑是地上霜。 舉頭望明月, 低頭思故鄉。 Tĩnh dạ tứ Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương. Dịch nghĩa Đầu tường trăng sáng soi, Ngỡ là sương trên mặt đất. Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng, Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà. Dịch thơ (Tương Như) Đầu giường ánh trăng rọi, Mặt đất như phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ cố hương. Dịch thơ (Trúc Khê) Đầu giường ngó bóng trăng soi Mơ màng ngỡ đám sương rơi mặt đường Ngẩng đầu trăng sáng như gương Cúi đầu sao nhớ quê hương ngàn trùng Dịch thơ (Trần Trọng San) Trước giường ngắm ánh trăng sa, Trắng phơi mặt đất, ngỡ là ánh sương. Ngẩng đầu trông ngắm vầng trăng, Cúi đầu lại nhớ xóm làng ngày xưa. Dịch thơ (Trần Trọng Kim) Đầu giường chợt thấy bóng trăng Mập mờ trên đất ngỡ rằng sương sa

Ngẩng đầu trông vẻ gương nga Cúi đầu luống những nhớ nhà băn khoăn

床前明月光,疑是地上霜。舉頭望明月,低頭思故鄉。Sàng tiền minh nguyệt quang,Nghi thị địa thượng sương.Cử đầu vọng minh nguyệt,Đê đầu tư cố hương.Đầu tường trăng sáng soi,Ngỡ là sương trên mặt đất.Ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng,Cúi đầu lại thấy nhớ quê nhà.Đầu giường ánh trăng rọi,Mặt đất như phủ sương.Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,Cúi đầu nhớ cố hương.Đầu giường ngó bóng trăng soiMơ màng ngỡ đám sương rơi mặt đườngNgẩng đầu trăng sáng như gươngCúi đầu sao nhớ quê hương ngàn trùngTrước giường ngắm ánh trăng sa,Trắng phơi mặt đất, ngỡ là ánh sương.Ngẩng đầu trông ngắm vầng trăng,Cúi đầu lại nhớ xóm làng ngày xưa.Đầu giường chợt thấy bóng trăngMập mờ trên đất ngỡ rằng sương saNgẩng đầu trông vẻ gương ngaCúi đầu luống những nhớ nhà băn khoăn

Thuở nhỏ, Lý Bạch thường lên đỉnh núi Nga Mi ở quê nhà ngắm trăng. Từ năm 25 tuổi, ông đã xa quê và xa mãi. Bởi vậy, cứ mỗi lần thấy trăng là nhà thơ lại nhớ tới quê nhà.

Soạn Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh (Tĩnh Dạ Tứ) Siêu Ngắn

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1

Trả lời câu 1 (trang 124, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

Trong bài thơ này, hai câu đầu thiên về tả cảnh, hai câu sau thiên về tả tình.

+ Ở hai câu thơ đầu, dù không trực tiếp tả người, câu thơ vẫn gợi lên trạng thái và tình cảm của con người.

+ Hai câu thơ sau chỉ có ba chữ trực tiếp tả tình ” tư cố hương ” còn lại đều tả cảnh, tả người.

Câu 2 Trả lời câu 2 (trang 124, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

a) Tác giả sử dụng phép đối ở hai câu cuối:

” Ngẩng đầu / nhìn / trăng sáng

Cúi đầu / nhớ / cố hương “.

Hai câu đối rất chuẩn về mặt từ loại:

+ động từ / động từ ( cử đầu – đê đầu), (vọng – tư)

+ tính từ / tính từ ( minh – cố)

+ danh từ / danh từ ( nguyệt – hương)

b) Phép đối có tác dụng làm cho người đọc thấy được rõ hơn nỗi nhớ quê hương, ánh trăng thấm đẫm buồn của nhà thơ.

Câu 3 Trả lời câu 3 (trang 124, SGK Ngữ văn 7, tập 1):

Bốn động từ ” nghi, cử, đê, tư ” có tác dụng liên kết, làm cho mạch cảm xúc thống nhất, liền mạch, diễn tả hành động, tâm trạng của nhân vật trữ tình – nhà thơ.

Luyện tập

Có người dịch Tĩnh dạ tứ thành hai câu:

Đêm thu trăng sáng như sươngBố cục Bố cục: 2 phần Lý Bạch ngắm cảnh nhớ thương quê nhà

Dựa vào điều đã phân tích ở trên, em hãy nhận xét về hai câu thơ dịch ấy. Nếu có thể, thử dịch thành bốn câu theo nguyên thể hoặc theo thể thơ lục bát.

ND chính

– Phần 1 (hai câu đầu): Cảnh đêm thanh tĩnh.

chúng tôi

– Phần 2 (hai câu tiếp): Cảm nghĩ của tác giả.

Bài thơ thể hiện một cách nhẹ nhàng mà thấm thía tình yêu quê hương của Lí Bạch khi ông phải sống xa nhà trong đêm trăng thanh tĩnh.

Phân Tích Nhân Vật Bà Cụ Tứ Trong Tác Phẩm Vợ Nhặt

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt

Hướng dẫn

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt

Truyện ngắn ” Vợ nhặt ” của nhà văn Kim Lân được viết trong khoảng thời gian xảy ra nạn đói khủng khiếp (1945),ông đã lấy chất liệu của cuộc sống để tái hiện hình ảnh thê thảm của nhân dân trong cảnh bần cùng. Qua đó khắc họa rõ nét các nhân vật. Đặc biệt nhân vật bà cụ Tứ.

Bà cụ Tứ xuất hiện trong tác phẩm là hình ảnh một người mẹ già, nghèo với nhiều lo toan,tính toán để kiếm ăn qua ngày:Bà xuất hiện với dáng đi lọng khọng,vừa đi vừa lẩm nhẩm, tính toán. Nhưng là người mẹ nhân từ, hiền hậu.

Tràng dẫn người “vợ nhặt” về giữa ngày đói khiến cho mẹ anh ban đầu hết sức ngạc nhiên,bất ngờ: Bà lão ngạc nhiên vì có người đàn bà nào lại đứng ngay ở đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Bà nghĩ mãi không phải con cái Đục, tự nhiên bà thấy mắt mình hình như nhoèn đi thì phải. Bà hết ngạc nhiên thì lại băn khoăn không biết người đàn bà kia là ai? Sao lại chào mình bằng u?

Khi Tràng giải thích rõ với bà:” Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau…”. Nói đến đây thì bà hiểu, bà cúi đầu nín lặng, lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán,xót thương,ngậm ngùi,vừa lo lắng, xen lẫn cả mừng vui,nhưng có lẽ vui thì ít mà buồn tủi,xót xa,lo lắng thì nhiều. Bà nhìn người đàn bà một lần nữa. Bà là một người hiểu biết, có sự cảm thông,bao dung, độ lượng, bà hiểu con mình, bà hiểu hoàn cảnh của Thị. Bà biết rằng người ta có gặp bước khó khăn,đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, rồi thằng con mình mới có vợ được. Bà mừng vui vì bổn phận bà làm mẹ đã không lo nổi cho con,nay đã có được vợ nhưng bà cũng lo lắng không biết chúng có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không? Bà tủi thân tủi phận vì người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc gia đình ăn nên làm ra những mong sinh con đẻ cái sau này còn mình thì…

Bà không chỉ là người mẹ già, nghèo, hiểu con mà còn có tấm lòng nhân từ, cưu mang, đùm bọc, lấy niềm vui, hạnh phúc của con làm lẽ sống của mình. Bà sống vì con cái. Bà thổi lên ngọn lửa, niềm tin trong hoàn cảnh đói khát tăm tối ấy.

Bà nói với người dâu mới:” Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng “. Chỉ mấy từ giản dị: ” u cũng mừng lòng ” làm cho Thị như được an ủi, Tràng thì thở đánh phào một cái, ngực nhẹ hẳn đi. Bà còn an ủi: ” Nhà ta thì nghèo con ạ “, rồi bà đưa ra triết lý:” Ai giàu ba họ, ai khó ba đời “. Điểm ấn tượng của người mẹ già này đối với người đọc là bà đã tạo ra một không khí vui vẻ cho gia đình. Bà thổi lên ngọn lửa ấm áp trong hoàn cảnh đói khát, tăm tối. Người ta thường nói: ” trẻ tương lai – già hoài niệm ” ” người mẹ già gần đất xa trời này khi có nàng dâu mới lại toàn nói chuyện vui vẻ, bàn tính chuyện làm ăn ngày mai: sửa nhà, nuôi gà,… Bà tạo ra một không khí vui vẻ như muốn làm át đi không khí thê thảm của nạn đói khủng khiếp; những tiếng khóc hờ hững của những gia đình có người chết. Bà tiếp thêm sức mạnh, niềm tin để con cái vượt qua nạn đó, hướng đến một ngày mai tươi đẹp. Đặc biệt là bữa cơm mời nàng dâu mới, thật đạm bạc chỉ có một nồi cháo loãng, ít rau chuối thái rối, mỗi người hai lưng đã hết nhẵn, nhưng bà vẫn vui vẻ đon đả mời hai con niêu cháo cám: ” chè khoán đây ngon đáo để cơ. ” Ngay cả khi Thị bưng bát cháo cám lên mắt tối sầm lại thì mẹ già ấy vẫn đon đả tươi cười: Cám đấy mày ạ! Hì. Đúng là một người mẹ đã thắp sáng niềm tin cho các con vượt qua đói khổ, đó cũng chính là tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Kim Lân là niềm tin là sự lạc quan yêu đời của người nông dân nói chung.

Nhà văn Kim Lân đã đồng cảm sâu sắc với hoàn cảnh khốn cùng của các nhân vật, trái tim nhà văn đã thực sự đập cùng nhịp đập với trái tim người mẹ già, nghèo để nói lên những nỗi niềm, thể hiện lẽ sống vì tình thương của mình.

Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả , Tác Phẩm

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

II. Tác phẩm 1. Tìm hiểu chung a. Đề tài

– Thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi đang còn sống càng hiếm hoi hơn. Thơ Trần Tế Xương lại khác. Trong sáng tác của ông, có hẳn một đề tài về bà Tú bao gồm cả thơ, văn tế, câu đối.

– Bà Tú từng chịu nhiều vất vả gia truân trong cuộc đời, nhưng bà lại có niềm hạnh phúc là ngay lúc còn sống đã được đi vào thơ ông Tú với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng.

– Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tế Xương viết về bà Tú.

b. Bố cục

– Có thể chia thành: Đề, thực, luận, kết

– Hoặc chia như sau:

+ Sáu câu thơ đầu: Hình ảnh của bà Tú

+ Hai câu thơ cuối: Nỗi lòng của tác giả

2. Tìm hiểu chi tiết a. Hình ảnh bà Tú * Hai câu thực:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

– Công việc: buôn bán

– “Nuôi đủ năm con với một chồng”: Gánh nặng gia đình đang đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ.

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông”

– Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tế Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà Tú: thân cò lầm lũi gợi liên tưởng về thân phận vất vả, cực khổ, của bà Tú cũng như những người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ

– Ba từ “khi quãng vắng” đã nói lên không gian heo hút, vắng lặng chứa đầy những lo âu, nguy hiểm.

– Câu thơ dùng phép đảo ngữ (đưa từ “lặn lội” lên đầu câu) và dùng từ “thân cò” thay cho từ “con cò” càng làm tăng thêm nỗi vất vả gian truân của bà Tú. Không những thế, từ “thân cò” còn gợi nỗi ngậm ngùi về thân phận nữa. Lời thơ, vì thế, mà cũng sâu sắc hơn, thấm thìa hơn.

– Câu thứ tư làm rõ sự vật lộn với cuộc sống đầy gian nan của bà Tú: “Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

+ Câu thơ gợi tả cảnh chen chúc, bươn trải trên sông nước của những người làm nghề buôn bán nhỏ.

+ “Buổi đò đông” hàm chứa không phải ít những lo âu, nguy hiểm “khi quãng vắng”.

+ Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được để “nuôi đủ năm con với một chồng” phải lặn lội trong nắng mưa, phải giành giật, phải trả giá bằng mồ hôi, nước mắt trong thời buổi khó khăn.

* Hai câu luận

“Một duyên hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa dám quản công.”

– Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:

+ “Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng.

+ “Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực.

+ Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình.

+ “Âu đành phận”, … “dám quản công” … giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.

b. Nỗi lòng của tác giả

– Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

Có chồng hờ hững cũng như không.”

+ Ý nghĩa của lời chửi là tác giả thầm trách bản thân mình một cách thẳng thắn, nhận ra sự vô dụng của bản thân mình. Nhưng đó lại là một lẽ thường tình trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ. Tú Xương dám thừa nhận mình là “quan ăn lương vợ”, dám tự nhận khuyết điểm của mình. Từ đó cho thấy ông là một người có nhân cách đẹp.

c. Giá trị nội dung

– “Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.

d. Giá trị nghệ thuật

– Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú.

– Ngôn ngữ thơ bình dị như lời ăn tiếng nói thường ngày.

– Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa).

– Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm

Cập nhật thông tin chi tiết về Tác Phẩm: Tĩnh Dạ Tứ trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!