Xu Hướng 2/2023 # Soạn Văn Lớp 12, Soạn Ngữ Văn 12, Văn Mẫu Lớp 12, Học Tốt Văn 12 Đầy Đ # Top 10 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Soạn Văn Lớp 12, Soạn Ngữ Văn 12, Văn Mẫu Lớp 12, Học Tốt Văn 12 Đầy Đ # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Văn Lớp 12, Soạn Ngữ Văn 12, Văn Mẫu Lớp 12, Học Tốt Văn 12 Đầy Đ được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tài liệu soạn văn lớp 12 ngắn gọn và đầy đủ, đây được coi là một trong số những tài liệu hữu ích hỗ trợ cho quá trình ôn luyện, củng cố kiến thức và chuẩn bị bài ở nhà dành cho các em học sinh lớp 12 dễ dàng và hiệu quả hơn. Với tài liệu Soạn văn lớp 12 chi tiết dễ hiểu này chắc chắn các em có thể ứng dụng và soạn các bài học theo đúng chương trình giảng dạy và đạt được kết quả học tập tốt hơn.

Soạn văn lớp 12 hay bao gồm đầy đủ những nội dung bài soạn ngữ văn 12 tập 1 đến tập 2, với đầy đủ những nội dung bài học theo đúng với chương trình sách giáo khoa ngữ văn 12. Các bài soạn văn 12 được cập nhật chi tiết với những nội dung bài học có trong sách giáo khoa và trả lời những câu hỏi trong sách bài tập. Chính vì thế việc soạn bài và nắm vững kiến thức cốt lõi bài học của các em học sih lớp 12 trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.

Tài liệu soạn văn lớp 12, văn mẫu lớp 12 hay

Tài liệu soạn văn lớp 12 hay có những bài soạn ngữ văn từ văn bản đến tiếng việt cùng với các bài tập làm văn hay và hiệu quả nhất. Bài soạn ngữ văn 12 Việt Bắc, Cadasa, soạn văn 12 Tuyên ngôn độc lập, soạn văn 12 việt bắc hay soạn văn 12 bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí các bạn học sinh hoàn toàn có thể tham khảo và tiến hành soạn bài theo đúng với nội dung bài học mà sách giáo khoa ngữ văn 12 đưa ra. Trong tài liệu soạn văn lớp 12 còn có cụ thể từng hướng dẫn và những bài văn mẫu khá hay, các bạn có thể ứng dụng làm tài liệu tham khảo để bài văn của mình hay và đạt kết quả tốt hơn.

Không chỉ hỗ trợ cho việc học tập của các em học sinh soạn văn lớp 12 hay còn là tài liệu giúp các thầy cô giáo dễ dàng hơn cho việc soạn giáo án ngữ văn 12 theo từng bài cũng như đưa ra những phương pháp giảng dạy hợp lý nhất. Thông qua tài liệu này chắc chắc các em học sinh sẽ có kiến thức cơ bản về môn ngữ văn cũng như học tốt văn lớp 12 không còn là vấn đề khó khăn.

Đặc biệt để học tốt ngữ văn 12 các bạn cần chuẩn bị cho bản thân những suy nghĩ tích cực, tinh thần hứng khởi và sự thoải mái nhất đối với môn học. Đặc biệt trong những bài viết văn các em học sinh cần có sự sáng tạo, có ý kiến riêng của mình để bài văn sinh động và hấp dẫn hơn. Đặc biệt không nên quá phụ thuộc vào tài liệu tham khảo, hãy sử dụng chúng theo đúng với nghĩa tham khảo để có kết quả học tập tốt nhất.

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Vợ Nhặt

Soạn bài Ngữ văn lớp 12: Vợ nhặt của tác giả Kim Lân

I. Tiểu dẫn 1. Kim Lân (1920 – 2007) – Tên khai sinh: Nguyễn Văn Tài. – Quê: làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. – Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2001. – Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962). Kim Lân là cây bút truyên ngắn Thế giới nghệ thuật của ông thường là khung cảnh nông thônhình tượng người nông dân. Đặc biệt ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống thôn quê Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với “đất”với “người”với “thuần hậu nguyên thuỷ” của cuộc sống nông thôn.

2. Xuất xứ truyện Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc in trong tập truyện Con chó xấu xí (1962).

3. Bối cảnh xã hội của truyện Phát xít Nhật bắt nhân dân ta nhổ lúa trồng đay nên tháng 3 năm 1945 nạn đói khủng khiếp đã xảy ra. Chỉ trong vòng vài tháng, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói.

II. Đọc hiểu văn bản tác phẩm. 1. Đọc – tóm tắt: SGK. 2. Tìm hiểu văn bản: SGK. a. Ý nghĩa nhan đề Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm “Nhặt” đi với những thứ không ra gì. Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh. b. Tình huống truyện Tràng là một nhân vật có ngoại hình xấu. Đã thế còn dở người. Lời ăn tiếng nói của Tràng cũng cộc cằn, thô kệch như chính ngoại hình của anh ta. Gia đình của Tràng cũng rất ái ngại, Nguy cơ “ế vợ” đã rõ. Đã vậy lại gặp nạn đói khủng khiếp, cái chết luôn luôn đeo bám. Trong lúc không một ai (kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện vợ con của anh ta thì đột nhiên Tràng có vợ. Trong hoàn cảnh đó, Tràng “nhặt” được vợ là nhặt thêm một miệng ăn cũng đồng thời là nhặt thêm tai hoạ cho mình, đẩy mình đến gần hơn với cái chết. Vì vậyviệc tràng có vợ là một nghịch cảnh éo le, vui buồn lẫ lộn, cười ra nước mắt.

III. Tổng kết. – Vợ nhặt tạo được một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, đối thoại sinh động. – Truyện thể hiện được thảm cảnh của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945. Đặc biệt thể hiện được tấm lòng nhân ái, sức sống kì diệu của con người ngay trên bờ vực của cái chết vẫn hướng về sự sống và khát khao tổ ấm gia đình.

Soạn Văn Lớp 12: Việt Bắc

Nội dung bài giảng

Câu 1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ và trữ tình trong đoạn trích

Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10 năm 1954, ông viết bài thơ nhân một sự kiện quân ta đã đánh tan chiến dịch Điện Biện Phủ của Pháp.các chiến sĩ rời chiến khi về thủ đô, thấy được tình cảm quyến luyến, yêu quý của nhân dân Việt Bắc dành cho chiến sĩ, Tố Hữu đã sáng tác ra bài thơ Việt Bắc này.

Sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn trích

Tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình:

– Tâm trạng: lưu luyến, bịn rịn giữa người đi – kẻ ở. Không khí ân tình của hồi tưởng, hoài niệm, của ước vọng và tin tưởng.

– Lối đối đáp: kết cấu quen thuộc của ca dao, cách xưng hô mình – ta thể hiện tình cảm, sự hô ứng.

Câu 2. Qua hồi tưởng của Tố Hữu, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

a. Cảnh Việt Bắc mang vẻ đẹp đa dạng, đầy ấn tượng khiến người về xuôi nhớ “như nhớ người yêu”.

– Thiên nhiên có vẻ khắc nghiệt ” Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù” nhưng đó là vẻ riêng của núi rừng Tây Bắc. Có những khoảnh khắc gợi cảm: ” Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương“; những hình ảnh khó quên: Khói bếp nhà sàn hòa cùng sương núi, cảm giác bản mường bồng bềnh, mờ ảo trong sương khói, những âm thanh gợi lên cảnh thanh bình, yên ả: tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối, …

– Cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc bốn mùa tuyệt đẹp: hoa lá đủ màu sắc tươi thắm.

– Cảnh Việt Bắc đẹp hơn trong sự hòa quyện với không khí kháng chiến: Vất vả, gian khổ, thiếu thốn, nhưng hào hùng lạc quan:

Nhớ sao lớp học i tờ ... Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

– Hình ảnh người dân Việt Bắc đã khắc tạc vào lòng người kháng chiến những nét khó quên. Đó là hình ảnh người mẹ ” địu con lên rẫy” trong cái nắng cháy lưng, người lao động tự tin chủ động với hình ảnh ” dao gài thắt lưng“; những người đan nón, cần mẫn, khéo léo ” chuốt từng sợ giang“; gợi cảm nhất là hình ảnh ” cô gái hái măng một mình” giữa rừng hoa vàng.

– Đẹp nhất và đáng nhớ nhất ở người Việt Bắc là cái nghĩa, cái tình. Kháng chiến thiếu thốn ” miếng cơm chấm muối” nhưng ” đắng cay ngọt bùi” cùng chia sẻ, gánh vác.

Tóm lại: Việt Bắc chính là cội nguồn của nghĩa tình, cội nguồn của chiến thắng.

Câu 3. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến được khắc họa thật sinh động mang âm hưởng của những khúc tráng ca.

– Cả dân tộc chất chứa căm thù thực dân đế quốc:

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

– Thiếu thốn gian khổ nhưng vẫn đầy lạc quan:

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

– Không khí chuẩn bị cho các chiến dịch thật khẩn trương, sôi nổi, thể hiện sức mạnh tổng hợp của quân và dân. Chiến thắng vang dội ” khắp trăm miền” khẳng định sức mạnh và bản lĩnh kiên cường quyết thắng của dân tộc.

– Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến: Việt Bắc là quê hương cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hi vọng của con người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những nơi còn ” u ám quân thù“.

Câu 4. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của bài thơ (qua trích đoạn này).

Được thể hiện qua các mặt sau đây:

– Thể thơ dân tộc: Thể thơ lục bát được Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn, uyển chuyển và sáng tạo.

– Hình ảnh dân tộc: Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; Nhớ người mẹ nắng cháy lưng…

– Lối phô diễn dân tộc: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu; Mình về mình có nhớ ta…

– Ngôn ngữ dân tộc: Tiêu biểu là cặp đại từ xưng hô ta – mình dùng rất sáng tạo trong bài thơ.

LUYỆN TẬP Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô ta – mình ở bài thơ Việt Bắc Cách sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta:

– Nhịp điệu, nhạc điệu dân tộc: khi nhẹ nhàng, thơ mộng, khi đằm thắm, ân tình; khi mạnh mẽ, hùng tráng.

– Trong đoạn trích bài thơ ” Việt Bắc“, từ mình được dùng để chỉ bản thân người nói – ngôi thứ nhất, nhưng cũng còn dùng ở ngôi thứ hai. Từ ta là ngôi thứ nhất, chỉ người phát ngôn, nhưng có khi ta chỉ chúng ta.

– Cặp đại từ này được sử dụng rất sáng tạo, biến hóa linh hoạt:

+ Có trường hợp: mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc ( Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng).

+ Có trường hợp: mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ ( Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người).

Ý nghĩa của cách sử dụng cặp đại từ ¬mình – ta:

+ Có trường hợp: mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (như chữ mình thứ ba trong câu: Mình đi mình lại nhớ mình).

– Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đậm đà và một giọng điệu tâm tình ngọt ngào, sâu lắng.

– Góp phần làm cho tình cảm giữa người ra đi và người ở lại, giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc thêm thân mật, gần gũi, tự nhiên, gắn bó khăng khít tuy hai mà một.

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Dọn Về Làng

* Tác giả Nông Quốc Chấn (1923 – 2002) là nhà thơ dân tộc Tày có nhiều đóng góp cho văn học các dân tộc thiểu số cũng như nền văn học Việt Nam hiện đại, được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 2000). Nhà thơ từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong công tác văn hóa, văn nghệ ở nước ta. (Xem Tiểu dẫn về tác giả trong SGK).

* Tác phẩm: Dọn về làng (gợi ý tìm hiểu bài thơ)

Dọn về làng được sáng tác năm 1950, là bài thơ viết về quê hương tác giả trong những năm kháng chiến chông thực dân Pháp nhiều đau thương mà anh dũng. Bài thơ được trao giải nhì tại Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới ở Béc-lin, sau đó được dịch đăng trên Tạp chí Châu Âu. Bài thơ viết bằng tiếng Tày, do tác giả dịch sang tiếng Việt.

Dọn về làng là bức tranh hiện thực sinh động của nhân dân Cao Bắc Lạng trong những năm kháng chiến chống Pháp. Bức tranh có hai mảng tối và sáng: tối là cuộc sống cơ cực, bị giặc lùng bắt, cướp của, giết người tàn bạo, dã man; sáng là cuộc sống hồi sinh, vui tươi sau ngày hoàn toàn giải phóng. Tứ thơ “dọn về làng” được khơi nguồn từ cảm hứng hồi sinh đó. Bài thơ có một kết cấu khá hiện đại theo trình tự hiện tại – quá khứ – hiện tại. Nhà thơ đứng ở thời điểm hiện tại để viết bài thơ. Mở đầu là những câu thơ tràn đầy niềm vui chiến thắng khi quê hương hoàn toàn giải phóng, mọi người chuẩn bị “dọn về làng” để khôi phục lại cuộc sống:

Mẹ! Cao – Lạng hoàn toàn giải phóngMấy năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảyMày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn Hôm nay Cao – Bắc – Lạng cười vang,Dọn lán, rời rừng, người xuống làng.Người nói cỏ lay trong rừng rậm,Cuốc đất dọn cỏ mẹ khuyên con Đường cái kêu vang tiếng ô tô,Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ. Bằm xương thịt mày tan mới hả. Chạy hết núi lại khe, cay đắng đủ mùi. Tây bị chết bị bắt sống hàng đàn Vệ quốc quân chiếm lại các đồn Người đông như kiến, súng dầy như củi Sáng mai về làng sửa nhà phát cỏ Cày ruộng vườn trồng lúa ngô khoai.

Từ niềm vui giải phóng, nhà thơ nhớ lại những năm cơ cực, khổ đau khi quê hương bị kẻ thù xâm lược giày xéo tàn bạo, đồng bào bị bắt giết dã man:

Đoạn hồi ức khá dài này là sự đan xen giữa khổ đau và căm thù mà hình ảnh cái chết đầy uất hận của người cha đã nói rõ. Cái chết đau thương (“Không ván, không người đưa cha đi cất – Mẹ tháo khăn phủ mặt cho chồng – Con cởi áo liệm thân cho bố”) đã tố cáo tội ác tày trời của quân cướp nước, và căm thù của tác giả (cũng là của nhân dân) đã thành lời nguyền phẫn nộ:

Rồi từ hồi ức đau thương, cảm hứng thơ lại trở về với niềm vui giải phóng, với công việc “dọn về làng” tấp nập, vui vẻ trong cuộc sống hồi sinh của mọi người:

Đoạn thơ là một bức tranh đẹp của ngày “dọn về làng”. Dọn về làng là trở về với cuộc sống, là chiến thắng quân thù, là niềm vui giải phóng; bởi thế sự trở về với cuộc sống ở đây mang một ý nghĩa mới cao hơn, tốt đẹp hơn: nó có được là nhờ bao chiến đấu hi sinh gian khổ của bộ đội và nhân dân, nó là minh chứng hùng hồn cho mục đích chính nghĩa và sức sống mạnh mẽ của một cuộc kháng chiến của dân tộc. Cuộc sống ấy đẹp lắm, quí lắm, phải giữ lấy nó trong tay. Và người con đã lên đường vì lẽ đó:

Mặt trời lên! Sáng rõ rồi mẹ ạ! Con đi bộ đội, mẹ ở lại nhà, Giặc Pháp, giặc Mĩ còn giết người, cướp của trên đất ta Đuổi hết nó đi, con sẽ về trông mẹ.

Mở đầu bài thơ, tác giả gọi “mẹ” để báo tin Cao – Lạng giải phóng, kết thúc bài thơ lại từ giã “mẹ” để đi bộ đội giữ yên cho niềm vui đó. “Mẹ” ở đây vừa là người mẹ cụ thể, vừa được khái quát thành người mẹ chung, thành quê hương đất nước.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Văn Lớp 12, Soạn Ngữ Văn 12, Văn Mẫu Lớp 12, Học Tốt Văn 12 Đầy Đ trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!