Xu Hướng 8/2022 # Soạn Văn Bản Chuyện Tình Người Con Gái Nam Xương Câu Hỏi 12324 # Top View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 8/2022 # Soạn Văn Bản Chuyện Tình Người Con Gái Nam Xương Câu Hỏi 12324 # Top View

Xem 594

Bạn đang xem bài viết Soạn Văn Bản Chuyện Tình Người Con Gái Nam Xương Câu Hỏi 12324 được cập nhật mới nhất ngày 13/08/2022 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 594 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân Lớp 7
  • Soạn Bài Những Câu Hát Than Thân Đầy Đủ Lớp 7 Hay Nhất
  • Bài Soạn Lớp 7: Những Câu Hát Than Thân
  • Đây là gồm cả phần tài liệu của lớp mk ạ

    1.Tác giả: Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất) ‘ –

    – Quê ở Hải Dương

    – Ông sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng.

    – Tuy học rộng tài cao nhưng Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi cáo quan về sống ẩn dật như nhiều trí thức đương thời khác.

    – Là truyện thứ 16 trong số 20 truyện của “Truyền kì mạn lục”

    – Nguồn gốc: có nguồn gốc từ truyện cổ dân gian ” Vợ chàng Trương”

    2, Hoàn cảnh sáng tác : Thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê – Mạc – Trịnh tranh giành quyền lực gây ra các cuộc nội chiến kéo dài, gây ra bi kịch cho bao nhiêu gia đình, làm đời sống nhân dân vô cùng cực khổ

    5, Chủ đề: Qua câu chuyện về cụộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, tác giả Nguyễn Dữ thể hiện niêm thương cảm đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến đồng thời ca ngợi, khẳng định vẻ đẹp truyền thống của họ.

    – Vũ Nương – Vũ Thị Thiết, quê ờ Nam Xương là người phụ nữ xuất thân từ tầng lóp bình dân, nàng là “con nhà kẻ khó”.

    – Vũ Nương có vẻ đẹp hoàn thiện cả về phẩm chất và nhan sắc : “Tính đã thùy mị nết na lại thêm tư dùng tốt đẹp”. Vũ Nương mang vẻ đẹp chuẩn mực của người phụ nữ theo quan niệm Nho giáo xưa, gồm đủ cả công, dung, ngôn, hạnh.

    – Tuy nhiên cuộc đời nàng là một tấn bi kịch.

    – Tác giả Nguyễn Dữ đã đặt VN vào nhiều hoàn cảnh khác nhau, trong những mối quan hệ khác nhau để làm nổi bật vẻ đep phẩm chất và cả số phận đau thương của nàng.

    1/ Trước khi Trương Sinh đi lính:

    Trong cuộc sống vợ chồng, VN hiểu tính tình TS ” đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức” nên nàng đã cư xử khéo léo “giữ gìn khuôn phép”, chưa tùng để dẫn đến thất hòa, hạnh phúc gia đình được nàng nâng niu vun đắp. ‘

    + VN không trông mong vinh hiển mà chỉ mong chồng trở về bình yên: “Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”‘

    + VN thấy trước những khó khăn mà TS phải đối mặt. Nàng bộc lộ nỗi lo lắng và cả niềm cảm thông trước bao gian lao, hiểm nguy mà người chồng sẽ phải trải qua nơi chiến trận: “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường…”

    + Lời nói của VN trong giây phút-chia xa thấm nỗi nhớ nhung khắc khoải, đợi chờ: “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa…”. Những lời nói rất mực ân tình, cảm động, nghẹn ngào, thổn thức trong hàng lệ nhớ thương. Không chỉ VN khóc mà “mọi người đêu ứa hai hàng lệ” xót xa.

    VN luôn khát khao hạnh phúc gia đình, khát khao sum họp, đoàn tụ. Nàng không muốn xa cách nhưng buộc phải cách xa. Bởi vậy buổi chia tay này, lòng người trĩu nặng “nhuộm mối tình muôn dặm quan san”

    a. VN là người vợ thủy chung:

    – Suốt thời gian dài xa cách, VN luôn mang trong lòng một nỗi nhớ, niềm thương trĩu nặng

    – Nàng không nguôi nhớ đến TS, nỗi nhớ thương cứ khắc khoải dài theo năm tháng: ” Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Tác giả đã dùng những hình ảnh ước lệ để diễn tả dòng chảy của thời gian:

    + Bướm lượn đầy vườn – mùa xuân tươi vui + Mây che kín núi – mùa đông ảm đạm

    – Dẫu cách xa, cô đơn nhưng nàng luôn giữ gìn đức hạnh, luôn một lòng chung thủy sắt son.

    b. VN là người con dâu đảm đang, hiếu thảo:

    – Trương Sinh vắng nhà, mọi việc trong gia đình chỉ một mình VN gánh vác, lo liệu

    – Khi mẹ chồng lâm bệnh, nàng hết lòng thuốc thang chạy chữa, cầu .trời khấn phật, lấy lời ngọt ngào động viên, an ủi. Nàng là chỗ dựa tinh thần của người mẹ già ốm đau, bệnh nặng.

    – Lời trăng trối của bà mẹ là minh chứng khách quan nhất ghi nhận và đánh giá cao công lao đức độ của

    VN đối với gia đình nhà chồng. Bà mong cho nàng được hưởng phúc: “Sau này trời xét lòng lành, ban

    cho phúc đức, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn; xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

    – Khi mẹ chồng mất: nàng hết lời thương xót, ma chay tế lễ như đối với cha mẹ đẻ của mình

    – Những hành động, việc làm của VN xuất phát từ tình cảm sâu sắc, chân thành. Nàng là một nàng dâu

    c. VN là người mẹ yêu thương con.

    – Xa chồng vừa đầy tuần (10 ngày), VN sinh con . Nàng vừa dành cho con tình cảm ấm áp bao dung của người mẹ, lại vừa bù đắp cho con sự thiếu thốn tình cha.

    – Thương con, VN thường trỏ vào cái bóng của minh trên vách mà bảo rằng đó là cha bé Đản. Nàng muốn dỗ dành con, mang niềm vui đến cho con trẻ, nàng muốn bù đắp cho con, muốn đứa con nhỏ thơ ngây được sống trong tình thương yêu của mẹ và bên cả bóng hình người cha

    – Chiến tranh kết thúc, TS trở về, tưởng rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với người phụ nữ đức hạnh ấy. Nhưng đau đớn thay, ngày chồng trở về lại là ngày bão tố dữ dội nổi lên trong tổ ấm bé nhỏ, mong m anh của nàng. Từ lời con trẻ ngây thơ, Vũ Nương bị chồng nghi ngờ là không chung thủy. Chính trong hoàn cảnh này, vẻ đẹp phẩm chât và số phận đau thương của VN càng được bộc lộ rõ:

    a. Lời thoại 1:

    – Vũ Nương phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình. Nàng giãi bày thân phận, nàng nói đến tình nghĩa vợ chồng: “Thiếp vốn con nhà kẻ khó được nương tựa nhà giàu”.

    – VN khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng, cầu xin chồng đừng nghi oan “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết…Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”.

    – Lời nói của VN nghẹn ngào trong dòng nước mắt với bao thiết tha, hi vọng. VN mong chồng hiểu được tấm lòng mình. Nàng cố hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ tan vỡ.

    b. Lời thoại 2:

    – VN nói đến nỗi đau đớn, thất vọng khi không hiểu vì sao nàng bị đối xử bất công, bị TS mắng nhiếc, đánh đuổi đi; nàng không có quyền được tự bảo vệ; thậm chí không có quyền được bảo vệ bởi lời biện

    bạch, thanh minh của họ hàng làng xóm. Hạnh phúc gia đình, cái thú vui “nghi gia nghi thất”, niềm khát khao của cả cuộc đời nàng nay đã tan vỡ, tình nghĩa không còn.

    – Để thể hiện nỗi đau đớn tuyệt vọng đó, tác giả đã sử dụng 1 loạt hình ảnh ước lệ diễn tả sự chia lìa lứa đôi: “Bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió, khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cánh én lìa đàn…”.

    Lời nói cùa VN lúc này có cả tiếng than nức nở bởi ngay cả nỗi đau khổ chờ chồng thành hóa đá trước đây cũng không còn có thể làm lại. Đó là những lời tuyệt vọng đành cam chịu hoàn cảnh, số p hận. .

    – Các tình tiết truyện ngày một kịch tính. VN bị dồn đẩy đến bước đường cùng.

    – Nàng thất vọng đến tột cùng khi nhân phẩm, danh dự bị chà đạp, hạnh phúc gia đình không thể nào hàn gắn nổi.VN đã chọn cái chết để tự minh oan, tự giãi bày tấm lòng trong trắng. Nàng quyết gieo mình xuống sóng nước Hoàng Giang tự vẫn, giữa lúc đầu xanh tuổi trẻ bởi nàng coi trọng việc giữ gìn nhân phẩm, danh dự

    – Nếu cái chết của VN trong truyện cổ là kết quả của sự nóng giận thì cái chết của nàng VN trong CNCGNX là một sự lựa chọn, có chuẩn bị: “Nàng tắm gội chay sạch…”, nàng than với đất trời về thân phận mình, nàng thề. nguyền, khẳng định tấm lòng trong trắng…

    – Đương nhiên ở đây có nỗi tuyệt vọng đắng cay nhưng có cả sự chỉ đạo của lí trí bởi hành động tự vẫn của nàng là hành động quyết liệt cuối cùng để bảo toàn danh dự sau bao nhiêu cố gắng không thành. VN đã chọn cái chết để minh chứng cho lòng chung thủy.

    – Tiếng than như một lời nguyền xin thần sông chúng giám cho nỗi oan khuất và tiết giá sạch trong của nàng.

    5/ Khi sống dưới thủy cung:

    – Vũ Nương vẫn được miêu tả với vẻ đẹp dung nhan. Trong số những mĩ nhân, quần áo thướt tha dự tiệc dưới thủy cung, có cả VN

    a. VN nhân hậu, vị tha, bao dung, tình nghĩa :

    – Sống ở chốn thủy cung xa hoa, lộng lẫy nhưng VN vẫn một lòng thương nhớ chồng con, nhớ phần mộ tổ tiên, vẫn nặng tình với quê hương. Nghe Phan Lang nhắc đến chồng con, đến phạn mộ tổ tiên nàng ứa nước mắt.

    – Gặp lại TS sau bao oan khổ chất chồng, VN không một lời oán hờn, trách móc. Nàng vẫn xung hô : “thiếp – chàng” dịu dàng, đúng mực: “Đa tạ tình chàng…”. Nàng bao dung, độ lượng.

    – VN giữ lời hứa với Linh Phi, trọng tình, nghĩa: “Cảm ơn đức của Linh Phi thề sống chết cũng không bỏ…” và nàng nguyện mãi ở lại chốn thủy cung.

    b. VN trọng danh dự:

    Ở chốn thủy cung, nàng vẫn khát khao được phục hồi danh dự, khát khao được minh oan. VN nhờ Phan Lang nói hộ với chàng Trương Sinh lập đàn giải oan bên bến sông: “Có lẽ không thể gửi hình ẩn bóng ở đây được mãi để mang tiếng xấu xa…Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày”

    c. VN bất hạnh, đau thương ( sự trở về ở màn kết tác)

    VN hiện về uy nghi lộng lẫy với cờ tán võng lọng nhựng vẫn xa cách. Nàng vẫn chỉ là cái bóng mờ nhạt, ẩn hiện loang loáng trên sông cùng lời tạ từ rồi biến mất: “Đa tạ tình chàng, thiếp chẳng thểtrở về nhân gian được nữa”.

    – VN bất hạnh bời nàng khao khát được trở về nhưng trần gian này – XHPK bất công – đâu có chỗ đứng cho nàng.

    – Khi sương khói giải oan tan đi, chỉ còn lại hiện thực cay đắng: nỗi oan của người phụ nữ ấy không một

    đàn tràng nào giải nổi; sự ân hận muộn màng của TS, đàn cầu siêu của tôn giáo không cứu được người phụ nữ.

    – VN không thể trở về, người chết không thể sống lại, hạnh phúc gia đình mãi mãi như chiếc bóng hư ảo.

    Như vậy, dù ở trong hoàn cảnh nào ta vẫn thấy VN hiện lên là một người phụ nữ với vẻ đep hoàn thiện từ dung nhan tới đức hạnh. Nàng đảm đang, hiếu nghĩa, thủy chung, luôn khát khao hạnh phúc gia đình và coi trọng phẩm giá làm người. Nàng mang những vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ theo quan niệm Nho giáo, gồm đủ cà công, dung, ngôn, hạnh.

    – Tuy nhiên, cuộc đời của người con gái Nam Xương ấy cũng là hình ảnh, thân phận đau thương của những người phụ nữ trong xã hôi phong kiến xưa: Người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương (Bảy nổiba chìm với nước non/ Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn – Bánh trôi nước ); Thúy Kiều, Đạm Tiên – những người con gái hồng nhan bạc mệnh trong truyện Kiều. (Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung)

    – Ta như nghe được tiếng lòng của những trái tim đồng điệu: Nguyễn Dữ – Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương.. .Ta tự hỏi: đó là những nhân vật trong tác phẩm văn chương hay chính là những con người thực hiện hữu trong cuộc đời. trong xã hội phong kiến mấy trăm năm trước?

    *Câu hỏi: Trong câu kết bài thơ: “Lại bài viếng Vũ Thị”, Lê Thánh Tông có viết: “Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”

    Em có đồng ý với tác giả qua lời thơ đó không? Trình bày ý kiến của em?

    Vua Lê Thánh Tông đã nói rất đúng, một trong những nguyên nhân dẫn đến cái chết của VN có bàn tay cùa TS.

    – TS con nhà hào phú nhưng không có học, tính cách đa nghi, hay ghen, “đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Tính cách này ít đảm bảo cho người vợ một cuộc sống hanh phúc

    – Khi TS trở về từ chiến trận? tính cách ấy lại càng bộc lộ rõ. Tác giả Nguyễn Dữ đã đặt nhân vật vào một tình huống để từ đó tính cách nhân vật càng được thể hiện:

    + Bé Đản không nhận TS là cha.

    – TS đã không đủ tỉnh táo để suy xét về lời của đứa bé, chàng đinh ninh là vợ hư hỏng, mối ngờ vực ấy không có cách gì gỡ ra được. Đó là cách suy nghĩ vội vàng, áp đặt của một con người độc đoán, gia trưởng.

    – Từ suy đoán ấy, TS xử sự hồ đồ, vũ phu, thô bạo, cạn tình cạn nghĩa. TS không thẳng thắn hỏi han hoặc chất vấn vợ; cũng không bí mật theo dõi hạnh động của người vợ.

    – Trương Sinh bỏ ngoài tai tất cả những lời phân trần của vợ, không tin cả họ hàng làng xóm, TS chỉ biết mắng nhiếc thậm tệ, đánh đuổi VN đi

    – Một chuỗi những hành động đó cuả TS đã bịt kín mọi ngả đường giải oan của VN, đẩy nàng vào cái chết oan khiên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương Lớp 9 Chi Tiết
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Soạn Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Chi Tiết)
  • Giáo Án Bài Chuyện Người Con Gái Nam Xương (Trích Truyền Kì Mạn Lục) (Tiết 1)
  • Bài Soạn Siêu Ngắn: Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Văn Bản Chuyện Tình Người Con Gái Nam Xương Câu Hỏi 12324 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100