Xu Hướng 3/2024 # Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lá Cuối Cùng # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lá Cuối Cùng được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn bài Chiếc lá cuối cùng nhanh nhất chỉ với 10 phút??? Trọn bộ các câu hỏi giáo viên đặt ra cho học sinh trên lớp về tác phẩm Chiếc lá cuối cùng??? Đúng vậy, tất cả sẽ có tại bài viết này của Toploigiai, mời các bạn cùng tham khảo

Soạn bài: Chiếc lá cuối cùng (trong 10 phút)

– Phần 1 (từ đầu…Hà Lan): Cảnh Giôn xi nằm trên giường bệnh chờ đợi cái chết

– Phần 2 (tiếp…vịnh Naplơ): Giôn-xi vượt qua cái chết

– Phần 3 (còn lại): Chiếc lá diệu kỳ

– Nhà văn đã không lựa chọn việc kể sự việc kẽ chiếc lá một cách cụ thể nhằm gây bất ngờ cho cả nhân vật và người đọc, làm cho câu chuyện thêm phần hứng thú và hấp dẫn cũng như khắc sâu hình ảnh đẹp đẽ của cụ Bơ – men.

Câu 2

– Xiu không hề biết ý định của cụ Bơ -men, vì:

+ Hai người trước đó đã chẳng hề nói năng gì, cụ Bơ – men chỉ lặng lẽ làm mẫu cho Xiu vẽ

+ Khi Giôn – xi bảo kéo tấm mành lên thì Xiu làm việc đó một cách đầy chán nản

+ Xiu cũng thật bất ngờ khi nhìn thấy chiếc lá vẫn còn đó sau đêm mưa gió bão bùng

+ Xiu biết tin cụ Bơ – men bị ốm qua lời bác sĩ

– Nếu Xiu biết trước thì câu chuyện sẽ kém đi sự bất ngờ và hấp dẫn hơn cũng như ta không thể thấy được tình cảm sâu sắc của hai người bạn dành cho nhau như vậy.

Câu 3

– Giôn-xi là cô gái không may bị bệnh nặng, với cô lúc đó xem chiếc lá như số phận mình, khi chiếc lá cuối cùng lìa cành cũng là lúc cô không còn nữa.

Sau trận mưa tuyết, chiếc lá vẫn còn đó, sự gan góc và can trường của chiếc lá đã thúc đẩy cô, khiến cô hồi sinh và yêu cuộc sống, tin tưởng hơn vào cuộc sống.

– Truyện kết thúc bằng lời của Xiu mà không có hành động hay phản ứng gì từ cô bạn Giôn – xi nhằm làm cho câu chuyện thêm phần dư âm, người đọc có thêm những suy nghĩ, dự đoán về cảm xúc của nhân vật.

Câu 4

Đoạn trích có hai lần đảo ngược tình huống:

Nghệ thuật đảo ngược tình huống truyện góp phần gây bất ngờ và hứng thú cho người đọc khi thưởng thức tác phẩm

Gợi ý Câu hỏi giáo viên đặt ra trên lớp bài Chiếc lá cuối cùng

Văn bản “Chiếc lá cuối cùng” thuộc thể loại gì?

Trả lời:

– Thể loại: truyện ngắn

Ngôi kể của văn bản “Chiếc lá cuối cùng” là ngôi thứ mấy?

Trả lời:

– Ngôi kể: ngôi thứ 3

Ý nghĩa của văn bản “Chiếc lá cuối cùng” mang lại là gì?

Giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của văn bản “Chiếc lá cuối cùng” .

Trả lời:

– Nội dung: Truyện ca ngợi tình yêu thương cao cả giữa những con người nghèo khổ. Tôn vinh giá trị, sức mạnh của nghệ thuật chân chính mang đến niềm vui và hạnh phúc cho con người..

– Nghệ thuật:

+ Cốt truyện dàn dựng chu đáo, tình tiết sắp xếp khéo léo, hấp dẫn

+ Nghệ thuật đảo ngược tình huống truyện hai lần đã tạo ra hứng thú với người đọc

Nhan đề của văn bản “Chiếc lá cuối cùng” có ý nghĩa như thế nào?

Trả lời:

– Đó là chiếc lá thường xuân do cụ Bơ-men đã vẽ với mong muốn truyền thêm niềm tin và hi vọng để Giôn-xi chiến thắng bệnh tật. Chiếc lá sinh động giống như thật, được vẽ bởi một ngươi nghệ sĩ tâm huyết, ông đã vẽ bằng cả tấm lòng.

– Chiếc lá cuối cùng là hình tượng nghệ thuật, xuyên suốt tác phẩm. Đó chính là biểu tượng của lòng nhân ái, vị tha cao cả. Đó còn là biểu tượng của nghệ thuật chân chính- nghệ thuật vì con người.

Vì sao các nhân vật trong truyện sợ sệt, lo lắng khi nhìn cây thường xuân trong văn bản “Chiếc lá cuối cùng” ?

Trả lời:

– Các nhân vật trong truyện sợ sệt lo lắng khi nhìn cây thường xuân vì: Mọi người lo sợ chiếc lá cuối cùng sẽ rụng và Giôn-xi sẽ chết

Nguyên nhân sâu xa nào quyết định tâm trạng hồi sinh của Giôn-xi trong văn bản “Chiếc lá cuối cùng”?

Trả lời:

– Nguyên nhân sâu xa quyết định tâm trạng hồi sinh của Giôn-xi là: Do chiếc lá cuối cùng đã chống chọi với mưa bão nên Giôn-xi đã quyết định phải sống mạnh mẽ như chiếc lá đó

Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lược Ngà

Soạn bài: Chiếc lược ngà (trong 10 phút)

Tóm tắt:

Xa gia đình của mình ra chiến trường đã tám năm ròng, ông Sáu được đơn vị cấp phép trở về thăm nhà. Niềm háo hức được gặp con luôn trào dâng trong lòng ông, nhưng khi hai cha con gặp nhau Thu đã không nhận ra cha mình, ông Sáu hụt hẫng vô cùng. Những ngày sau đó dù đã cố gắng quan tâm con, yêu thương con nhưng bé Thu vẫn một mực từ chối đi tình yêu thương ấy, với em lúc đó, ông Sáu là người xa lạ. Khi được bà giải thích về nguyên nhân của vết thẹo dài trên má ba, Thu hiểu và thương ba nhiều hơn, trước lúc ông Sáu vào lại chiến trường em nhận ba, chạy đến ôm hôn ba. Tại nơi căn cứ, ông Sáu dồn hết tình yêu thương của mình tỉ mẩn làm chiếc lược ngà cho con gái, nhưng trong một trận đấu, ông Sáu đã hy sinh. Trước lúc ra đi, ông gửi gắm chiếc lược ngà bấy lâu cho người đồng đội nhờ trao tận tay cho bé Thu.

– Phần 1 (từ đầu…từ từ tuột xuống): Cảnh hai cha con gặp nhau sau bao ngày xa cách và tình cảm của bé Thu với cha trong những ngày ông Sáu ở lại nhà.

– Phần 2 (còn lại): Chiếc lược ngà yêu thương và sự hy sinh của ông Sáu.

– Tình huống 1: hai cha con ông Sáu gặp nhau sau nhiều năm xa cách, những tưởng sẽ vui mừng khôn xiết và nghe tiếng gọi cha từ bé Thu nhưng trớ trêu thay em lại không nhận ra ba mình.

– Tình huống 2: Thu nhận ra ba và cuộc chia tay đầy xúc động

– Tình huống 3: Nhớ lời hứa tặng cho con cây lược ngà, ông Sáu nỗi mong nhớ và yêu thương con bấy lâu ông dồn hết vào làm cây lược ấy để tặng con. Đau đớn thay anh lại hy sinh nơi chiến trận, đành gửi lại cây lược ngà nhờ người đồng đội trao tận tay cho bé Thu.

** Diễn biến tâm lí, hành động của bé Thu trong lần gặp cha khi ông Sáu được về phép:

+ Những ngày chưa gặp ba: Bé Thu chỉ được nhìn thấy ba qua bức hình ba chụp với má, hình ảnh người ba trong hình luôn in sâu vào trong tâm trí em

+ Ngày gặp lại ông Sáu:

– Khi nghe gọi tên, bé giật mình và tròn mắt nhìn, chớp mắt, mặt bỗng tái đi

– Vụt chạy và kêu thét lên với má

+ Những ngày ông Sáu ở nhà:

– Em từ chối sự yêu thương, những quan tâm mà ông Sáu dành cho mình bởi với em lúc đấy, em không chấp nhận một ai khác ngoài người cha trong bức ảnh.

– Không chịu gọi “ba”

– Chạy sang nhà ngoại.

+ Khi nhận ra cha qua lời ngoại

– Trở về cùng ngoại chia tay ba trong nỗi buồn rầu, xôn xao

– Cất tiếng goi “Ba…a..a..ba” bằng tất cả tình yêu, niềm ân hận và sự kính trọng

– Dang hai tay ôm lấy cổ ba, hôn lên tóc, lên cổ và cả vết thẹo dài trên má ba

– Dặn ba mua cho Thu cây lược ngà

** Tính cách của bé Thu:

+ Thơ ngây và hồn nhiên

+ Có chút ương ngạnh, bướng bỉnh

+ Sâu thẳm là một cô bé ngoan ngoãn, hiểu chuyện và có một trái tim yêu thương cha vô bờ bến

** Nghệ thuật miêu tả tâm lí của tác giả: Đặt nhân vật vào những hoàn cảnh hoặc tình huống để thể hiện những hành động, dòng cảm xúc, tính cách, tâm lý của nhân vật. Bé Thu từ ngạc nhiên, sợ hãi đến lạnh lùng, bướng bỉnh và cuối cùng cảm xúc yêu thương được dâng trào mãnh liệt.

**Tình cảm sâu đậm của ông Sáu đối với con được thể hiện qua các chi tiết:

+ Ngày trở về gặp con:

– Nôn nao trong lòng, mong được nghe tiếng “ba” từ cô con gái bé bỏng

– Đang ở trên xuồng trông thấy con, liền nhún chân nhảy thót lên đến bên con

– Khi Thu chạy đi, ông đứng sững lại, nỗi đau đớn hiện lên khuôn mặt đáng thương

+ Những ngày bên con:

Luôn cô gắng bù đắp cho bé Thu, dành cho bé Thu sự vỗ về và yêu thương nhất

+ Ngày chia tay:

Ôm Thu vào lòng tha thiết, hứa tặng em chiếc lược ngà.

+ Nơi chiến trận:

– Vui mừng khi nhặt được khúc ngà voi

– Thận trọng, tỉ mẩn khắc từng chiếc răng lược

– Những đêm nhớ con da diết, ông lấy chiếc lược ngà ra ngắm

+ Trước lúc hy sinh, nhớ đến con, gửi chiếc lược ngà để trao cho con

** Nét đẹp trong tâm hồn của người cán bộ cách mạng:

+ Yêu thương gia đình và con cái, ông giành hết tình yêu thương của mình cho con gái

+ Sẵn sàng gác lại những tình cảm riêng tư để làm tròn nghĩa vụ với Tổ quốc, đất nước

+ Là một người trách nhiệm với công việc

+ Sự hy sinh đầy cao quý cho dân tộc

– Truyện được kể qua lời trần thuật của người bạn, người đồng đội của ông Sáu: “tôi”

– Ngôi kể: Ngôi thứ nhất

– Tác dụng của cách chọn vai kể:

+ Câu chuyện được kể chân thực và khách quan hơn bằng điểm nhìn của người ngoài cuộc, người kể chuyện hiểu được những hành động, cảm xúc, thái độ của các nhân vật toàn diện hơn.

+ Đồng thời, thể hiện tình bạn thân nồng đượm của những người lính cách mạng.

Gợi ý Câu hỏi giáo viên đặt ra trên lớp bài Chiếc lược ngà

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được sáng tác trong hoàn cảnh nào?

Trả lời:

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” được viết năm 1966 – khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ những năm kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

Văn bản trong sách giáo khoa là đoạn trích phần giữa của truyện.

Nêu bố cục của văn bản “Chiếc lược ngà”.

Trả lời:

Bố cục: 2 đoạn:

Đoạn 1: Từ đến…đến…”Nó nói trong tiếng nấc, vừa nói vừa từ từ tuột xuống”: Tình cảm cha con của bé Thu và ông Sáu trong ba ngày ông được nghỉ phép.

Đoạn 2: Còn lại: Ở khu căn cứ, ông Sáu làm chiếc lược ngà tặng con.

Truyện “Chiếc lược ngà” có mấy tình huống được xây dựng?

Trả lời:

Truyện được xây dựng trên hai tình huống cơ bản:

Tình huống 1: Đó là cuộc gặp gỡ của hai cha con ông Sáu sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận cha, đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải lên đường.

Tình huống 2: Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và lòng mong nhớ đứa con vào việc làm cây lược ngà để tặng con, nhưng ông đã hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái.

⇒ Như vậy, nếu ở tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha, thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc, thắm thiết của ông Sáu với con. Tình huống truyện ở đây mang đầy kịch tính chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ. Đó là những tình huống ngẫu nhiên song lại rất phổ biến, những tình huống đầy éo le mà chúng ta thường gặp trong chiến tranh. Song đặt các nhân vật của mình vào các tình huống ấy, nhà văn muốn khẳng định và ngợi ca: tình cha con thiêng liêng, sâu nặng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy càng cao đẹp trong hoàn cảnh chiến tranh.

Truyện “Chiếc lược ngà” có mấy nhân vật chính?

Trả lời:

– Truyện có 3 nhân vật chính: bé Thu, ông Sáu và bác Ba.

Truyện “Chiếc lược ngà” được kể theo ngôi thứ mấy? Cách chọn vai kể như vậy có tác dụng gì trong việc xây dựng nhân vật và thể hiện nội dung tư tưởng của truyện?

Trả lời:

Truyện được kể theo ngôi thứ nhất, nhân vật xưng “tôi” là người bạn thân của ông Sáu.

Câu chuyện về hai cha con thông qua lời kể của người bạn ông Sáu, đã tạo cho câu chuyện tính khách quan chân thực và thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa những người đồng chí trong chiến đấu.

Chủ đề của truyện “Chiếc lược ngà” là gì?

Trả lời:

– Chủ đề: Diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết, sâu nặng của cha con ông Sáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.

Nêu nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện “Chiếc lược ngà”.

Trả lời:

+ Xây dựng tình huống truyện bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí

+ Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế và sâu sắc, nhất là đối với nhân vật bé Thu.

+ Ngôn ngữ truyện mang đậm chất địa phương Nam Bộ.

Nêu ý nghĩa nhan đề của truyện “Chiếc lược ngà”.

Trả lời:

Chiếc lược ngà là hình tượng nghệ thuật chứa đựng tình cảm cha con sâu nặng, thiêng liêng. Đây là một đồ dùng thân thuộc, giản dị với mỗi người con gái nhưng ở đây, chiếc lược ngà trở thành kỉ vật thiêng liêng của tình cha con sâu nặng.

Với bé Thu: chiếc lược ngà là kỷ vật, là tình cảm yêu mến nhớ thương của người cha chiến sĩ. Ban đầu là ước mơ của một cô bé 8 tuổi, một ước ao rất giản dị, trong sáng, rất con gái. Có lẽ đó cũng là món quà đầu tiên nhưng cũng lại là món quà cuối cùng người cha tặng cho cô con gái bé bỏng. Nó là tất cả tình yêu thương, kỉ niệm của ba dành cho Thu khi ba hi sinh. Với bé Thu, chiếc lược ấy chính là hình ảnh người cha (trong tâm khảm).

Với ông Sáu: Chiếc lược ngà là bao tâm tư tình cảm, yêu thương ông dành cho cô con gái bé bỏng. Những ngày xa con ở chiến khu, bao nhiêu nhớ thương, day dứt, ân hận và cả cái niềm khát khao được gặp con, ông dồn cả vào việc làm chiếc lược ngà rất tỉ mẩn, rất cẩn thận (giũa từng chiếc răng lược chau chuốt). Dường như khi giũa từng chiếc răng như vậy, ông cũng bớt áy náy vì đã đánh con, đã không phải với con. Cây lược làm xong, mỗi khi thương nhớ con, ông lại ngắm nhìn cây lược. Phải chăng với người cha, chiếc lược nhỏ xinh xắn ấy cũng là hình ảnh cô con gái bé bỏng. Và trước khi anh Sáu hi sinh, chiếc lược ngà chính là lời trăn trối ông gửi lại, là tất cả tình cảm của người cha dành cho con, cho gia đình.

Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” đau đớn. Vì sao vậy?

Trả lời:

– Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” đau đớn. Bởi vì, ông Sáu xa nhà từ khi con gái chưa đầy một tuổi. Sau tám năm, bây giờ ông mới được trở về để gặp con. Ông hồi hộp, phấp phỏng, hi vọng được ôm con vào lòng. Nhưng trái với những gì ông mong đợi, bé Thu không nhận cha, thậm chí còn sợ hãi, hoảng sợ trước sự có mặt của ông.

Qua truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, thái độ và hành động của nhân vật bé Thu đối với ba rất trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật. Em hãy giải thích điều đó. Trả lời:

Hành động trái ngược của bé Thu trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi được thể hiện:

Khi ông Sáu bồi hồi nhận con thì bé Thu lại tròn mắt ngơ ngác lạ lùng. Bé ngạc nhiên, sợ hãi vì người đàn ông lạ mặt ôm và tự nhận là ba của bé. Vết sẹo dài trên mặt ông Sáu vì xúc động mà đỏ ứng, giật giật khiến cho bé Thu sợ hãi, khóc và chạy về nhà. Khi nhận ra ba thì tình cảm trào dâng, Thu nhất quyết không cho ba đi.

Hai hành động trái ngược đó thể hiện sự yêu ghét rạch ròi phân minh, một tính cách bản lĩnh vững vàng của cô bé dù chỉ mới tám tuổi. Điều nhất quán trong tính cách nhân vật đó là tình yêu dành cho ba của Thu, cô bé yêu ba, tự hào về ba, khắc ghi hình ảnh của ba trong bức tranh khi chụp chung với má. Em chỉ yêu người ba trong ảnh. Vì vậy, khi nhìn thấy ông Sáu ngoài đời thực khác xa bức ảnh, em đã kiên quyết không nhận. Khi bà ngoại nói cho Thu biết vì thằng Mỹ mà ba có vết thẹo trên má, em yêu thương ba hơn và trong tình yêu mãnh liệt, gấp gáp ấy co cả sự ân hận day dứt.

Các dạng đề tác phẩm: Chiếc lược ngà

Đề 1: Vì sao câu chuyện về tình cha con cảm động trong chiến tranh lại được Nguyễn Quang Sáng đặt tên là “Chiếc lược ngà” ?

– Chiếc lược ngà là kỉ vật thiêng liêng của tình cha con sâu nặng. Với bé Thu : ban đầu là ước mơ của một cô bé 8 tuổi, một ước ao rất giản dị, trong sáng, rất con gái. Có lẽ đó cũng là món quà đầu tiên nhưng cũng lại là món quà cuối cùng người cha tặng cho cô con gái bé bỏng. Nó là tất cả tình yêu thương, kỉ niệm của ba dành cho Thu khi ba hi sinh. Với bé Thu, chiếc lược ấy chính là hình ảnh người cha (trong tâm khảm)

– Với ông Sáu : Những ngày xa con ở chiến khu, bao nhiêu nhớ thương, day dứt, ân hận và cải cái niềm khát khao được gặp con, anh dồn cả vào việc làm chiếc lược ngà rất tỉ mẩn, rất cẩn thận (dũa từng chiếc răng lược chau chuốt). Dường như khi dũa từng chiếc răng như vậy, anh cũng bớt áy náy vì đã đánh con, đã không phải với con. Cây lược làm xong, mỗi khi thương nhớ con, anh lại ngắm nhìn cây lược. Phải chăng với người cha, chiếc lược nhỏ xinh xắn ấy cũng là hình ảnh cô con gái bé bỏng. Và trước khi anh Sáu hi sinh, chiếc lược ngà chính là lời trăn trối anh gửi lại, là tất cả tình cảm của người cha dành cho con, cho gia đình.

Đề 2 : Trong tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, đoạn ghi lại cảnh chia tay của cha con ông Sáu có đoạn viết : “Nhìn cảnh ấy…. Trái tim mình”.

a. Vì sao khi chứng kiến cảnh này, bà con xung quanh và nhân vật “tôi” lại có cảm xúc đó ?

Trả lời:

– Ông Sáu phải chịu đựng quá nhiều sự hi sinh, mất mát : chiến tranh khiến cho ông mang một nỗi đau về thể xác và trong những ngày phép ngắn ngủi ở nhà, ông lại phải chịu thêm nỗi đau tinh thần do bé Thu nhất quyết không chịu nhận ông là cha, không gọi một tiếng “ba” mà ông hằng khao khát suốt 8 năm trời.

– Trong buổi sáng trước giờ phút ông Sáu lên đường, thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột thay đổi hoàn toàn. Lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi “ba” và tiếng kêu như tiếng xé, rồi “nó vừa kêu vừa chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó”, “Nó hôn ba nó cùng khắp. Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”, “hai tay nó siết chặt lấy cổ, chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi cấu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run”. Như vậy, cho đến lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một cuộc chiến đấu mới, ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc quá ngắn ngủi. Trước cử chỉ của bé Thu, “anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt sung sướng, hạnh phúc của một người cha cảm nhận được tình ruột thịt từ con mình.

– Thì ra trong đêm về nhà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó. Sự nghi ngờ bấy lâu được giải toả và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận, hối tiếc. Vì thế trong giờ phút chia tay với cha, tình yêu và nỗi nhớ mong với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu, nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối hả, cuống quýt, có xen lẫn cả sự hối hận.

⇒ Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình.

b. Người kể chuyện ở đây là ai ? Cách chọn vai kể đã góp phần như thế nào vào sự thành công của tác phẩm ?

Trả lời:

Truyện được trần thuật theo lời của ông Ba – người bạn ông Sáu, nhân vật “Tôi”, người đã chứng kiến những cảnh ngộ éo le của cha con ông. Cảnh ngộ ấy đã gợi lên bao nhiêu xúc động ở nhân vật kể chuyện : “tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa. Đó là tiếng “ba” mà nó cố đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó”. Lòng trắc ẩn, sự thấu hiểu những hi sinh mà bạn mình phải chịu đựng khiến cho ông “bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm lấy trái tim”.

c. Kể tên hai tác phẩm khác viết về đề tài chống Mĩ, ghi rõ tên tác giả ?

Trả lời:

Kể tên hai tác phẩm:

1. Bài thơ về tiểu đội xe không kính của nhà thơ Phạm Tiến Duật.

2. Truyện “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê.

Đề 3: Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Trả lời:

Mở bài :

– Truyện “Chiếc lược ngà” được Nguyễn Quang Sáng viết năm 1966, tại chiến trường Nam Bộ trong thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. Truyện viết trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt nhưng lại tập trung nói về tình người – cụ thể ở đây là tình cha con trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Đặc biệt tình là tình cảm của ông Sáu – người cha cán bộ cách mạng đối với đứa con gái nhỏ – Bé Thu thật sâu sắc và cảm động.

Thân bài :

1. Tóm tắt qua về cuộc đời của ông Sáu:

Ông Sáu là một nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia hai cuộc kháng chiến (đánh Pháp và đánh Mĩ), và đã anh dũng hi sinh. Ông Sáu là một người cha hi sinh cả cuộc đời để gìn giữ tình cha con bất diệt.Vì cuộc chiến đấu chung của dân tộc, ông Sáu đã mang vế sẹo trên mặt, đã hi sinh cả vẻ đẹp của một thời trai trẻ. Đấy là nỗi đau thể xác. Mấy ngày về thăm nhà, ông lại phải trải qua nỗi đau về tinh thần : đứa con gái duy nhất ông hằng mong nhớ, không chịu nhận ông cha, không một lời gọi “ba”. Cho đến phút cuối cùng trước lúc chia tay, ông mới được hưởng hạnh phúc của người cha. Nhưng phút ấy ngắn ngủi quá. Để rồi cuối cùng ông vĩnh viễn phải xa con. Ông đã ngã xuống lặng thầm mà không một lời trăng trối, không một nấm mồ, không bia mộ…

2. Trong những ngày về phép thăm nhà.

– Ra đi đánh giặc từ năm 1946, mãi đến năm 1954 hoà bình lập lại, ông mới được về phép thăm nhà và quê hương một vài ngày. Ngày ra đi bộ đội, đứa con gái bé bỏng thân yêu của ông mới lên một tuổi, ngày về thì con bé đã tám, chín tuổi. Cái khao khát của một người lính sau những năm dài vào sinh ra tử trở lại quê hương, được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không được trọn vẹn. Đó là bi kịch thời chiến tranh.

+ Gặp lại con sau nhiều năm xa cách với bao nỗi nhớ thương nên ông Sáu không kìm được nỗi vui mừng trong phút đầu nhìn thấy đứa con. Ông vừa bước, vừa khom người đưa tay chờ đón con”, có lẽ ông rất vui, rất xúc động và hạnh phúc, tin rằng đứa con sẽ đến với mình. Nhưng bé Thu đã từ chối, chạy và kêu thét lên gọi má. Ông Sáu vô cùng buồn bã, thất vọng, đau đớn.

+ Trong hai ngày phép ngắn ngủi, ông Sáu không đi đâu chỉ quanh quẩn ở nhà với con, chăm sóc con nhưng bé Thu không nhận cha khiến ông vô cùng buồn. …..nhưng ông sẵn lòng tha thứ cho con. Tình yêu thương của người cha dành cho con trở nên bất lực khi ông Sáu đánh con bé một cái vào mông vì nó đã hất miếng trứng cá mà ông gắp ra khỏi bát cơm làm cơm văng tung toé…..Bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Vết thẹo dài trên má phải – vết thương của chiến tranh – đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé bỏng không nhận ra bóng dáng người cha nữa !

– Cho đến lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một cuộc chiến đấu mới, ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ chợt nhận ra ba mình và kêu thét lên: “Ba…………. Ba!”. Trước cử chỉ của bé Thu, “anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con”. Đó là giọt nước mắt sung sướng, hạnh phúc của một người cha cảm nhận được tình ruột thịt từ con mình.Và ông Sáu đã ra đi với nỗi thương nhớ vợ con không thể nào kể xiết.

3. Tình cảm của ông Sáu với con đã được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà, nhưng biểu hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện, khi ông Sáu ở trong rừng tại khu căn cứ.

– Trước hết là nỗi nhớ thương xen lẫn sự day dứt, ân hận ám ảnh ông suốt nhiều ngày vì ông đã đánh con khi nóng giận. Ông Sáu đúng là một người cha hiền lành, nhân hậu, biết nâng niu tình cảm cha con. Mang lời hẹn ước của con gái ra đi : “Ba về, ba mua cho con một cây lược ngà nghe ba!” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con. Ông quả là một người cha chiều con và luôn biết giữ lời hứa với con, đó là biểu hiện tình cảm trong sáng và rất sâu nặng

– Kiếm được khúc ngà, anh vui sướng như đứa trẻ được quà, rồi để hết tâm trí, công sức vào việc làm cây lược, cưa răng, chuốt bóng, khắc chữ… tỉ mỉ, cần mẫn, công phu. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tạo một tác phẩm duy nhất trong cuộc đời. Cho nên nó không chỉ là chiếc lược xinh xắn và quý giá mà đó là chiếc lược kết tụ tất cả tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm, sâu xa, đơn sơ mà kì diệu làm sao! Cây lược ngà ấy chưa trải được mái tóc của con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng ông. Nó trở thành vật thiêng, an ủi ông, nuôi dưỡng trong ông tình cha con và sức mạnh chiến đấu. Hằng đêm, ông đã nhìn ngắm chiếc lược, cố mài lên mái tóc, cho chiếc lược thêm bóng, thêm mượt. Tác giả không miêu tả rõ song người đọc vẫn hình dung cái kỉ vật nhỏ bé mà thân thương ấy, mỗi ngày một đẹp lên, trắng ngà, toả sáng lung linh. Đó là biểu tượng trắng trong, quý giá, bất diệt của tình cha con giữa ông Sáu và bé Thu. Chiếc lược nhỏ bé mà thiêng liêng đã làm dịu nỗi ân hận và ánh lên niềm hi vọng khắc khoải sẽ có ngày anh Sáu được gặp lại con, trao tận tay nó món quà kỉ niệm này.

– Nhưng tình cảnh thật đáng thương, anh không kịp đưa cây lược ngà đến tận tay cho con, người cha ấy đã hi sinh trong một trận càn. Trước khi vĩnh biệt con, ông Sáu vẫn nhớ chiếc lược, đã chuyển nó cho người bạn như một cử chỉ chuyển giao sự sống, một sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của người bạn thân: ước nguyện của tình phụ tử. Điều đó đúng như ông Ba nói: “chỉ có tình cha con là không thể chết được”. Đó là điều trăng trối không lời, nó rõ ràng và thiêng liêng hơn cả một lời di chúc.

⇒ Hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong chuyện “Chiếc lược ngà” là hình ảnh sâu nặng về tình cha – con. Ông Sáu quả là một người cha chịu nhiều thiệt thòi nhưng vô cùng độ lượng và tận tuỵ vì tình yêu thương con, một người cha để bé Thu suốt đời yêu quý và tự hào. Chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu là người lính của một thế hệ anh hùng mở đường đi trước đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh.

Kết luận

Câu chuyện về chiếc lược ngà làm người đọc cảm động vì tình cha con thắm thiết, đẹp đẽ. Nhưng cảm động hơn nữa, nó còn khiến cho ta nghĩ đến những đau thương, mất mát, éo le mà con người phải gánh chịu vì cuộc chiến tranh. Ông Sáu đã hi sinh trong những ngày đen tối và gian khổ. Ngôi mộ ông là “ngôi mộ bằng” giữa rừng sâu. Nhưng chỉ có tình cha con là không thể chết được.

Đề 4: Cảm nhận của em về đoạn trích : “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

Trả lời: I. Tìm hiểu đề:

1. Vấn đề nghị luận : Nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Chiếc lược ngà”

2. Cách thức nghị luận : cảm nhận (phải nêu được cảm nhận sâu sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích “Chiếc lược ngà”)

II. Lập dàn ý:

A. Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm

– “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng được viết năm 1966, khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên.

– Văn bản đoạn trích là ở phần giữa câu chuyện, tập trung thể hiện sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu qua những tình huống bất ngờ mà tự nhiên, hợp lí.

– Đó không chỉ là một tình cảm muôn thuở, có tính nhân bản bền vững, mà còn được thể hiện trong hoàn cảnh ngặt nghèo, éo le của chiến tranh và trong cuộc sống nhiều gian khổ, hi sinh của người cán bộ cách mạng. Vì thế, tình cảm ấy càng đáng trân trọng và đồng thời nó cũng cho thấy những nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho cuộc sống bình thường của mọi người.

B. Thân bài: Tình cảm cha con sâu nặng

Luận điểm 1 : Thái độ, tình cảm của bé Thu trước và sau khi nhận ra ông Sáu là cha

– Hoàn cảnh : Ông Sáu đi kháng chiến, xa nhà nhiều năm. Ông chưa được biết mặt đứa con gái – bé Thu. Tám năm sau, một lần về thăm nhà, trước khi nhận công tác mới, ông được gặp con nhưng bé Thu nhất định nhận ông Sáu là cha.

– Thái độ của Thu :

+ Thoạt đầu, khi thấy ông Sáu vui mừng vồ vập nhận bé Thu là con, Thu tỏ ra lảng tránh và lạnh nhạt, xa cách. (D/c : Nhìn anh Sáu với cặp mắt xa lạ và cảnh giác, dứt khoát không chịu kêu tiếng “ba”)

+ Cô bé đã có thái độ ngang ngạnh, thậm chí hỗn xược với ông Sáu :D/c :mặc cho người thân khuyên nhủ, tạo tình thế bắt buộc (chắt nước nồi cơm) để bé Thu phải nhận cha, nhưng đều thất bại. Thu từ chối sự quan tâm của anh Sáu (hất đổ miếng trứng cá khỏi chén cơm, khi cha đ ánh → không khóc, bỏ về nhà ngoại)

+ Được bà ngoại trò chuyện, tìm ra lí do, cô bé đã thay đổi hẳn thái độ.

+ Về nhà để chia tay ba, Thu cảm thấy hối lỗi (chỉ đứng nhìn, đôi mắt trìu mến lẫn buồn rầu, khe khẽ nói. Thu muốn nhận ba nhưng không dám gần Ba vì trót làm ba giận (vẻ mặt nói sầm lại buồn rầu, nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa)

+ Thật bất ngờ, sau lời chào từ biệt của người cha là tiếng kêu “Ba..a…a…ba!” như xé ruột của bé Thu. Em đã thể hiện tình cảm yêu quý cha một cách mãnh liệt (hôn ba cùng khắp, hôn cả vết thẹo dài bên má như muốn níu giữ ba).Thực chất bé Thu rất giàu tình cảm và trong trắng – khi biết ba đánh giặc bị thương thì ân hận vì đã không chị nhận ba và khao khát được kêu ba. Tinh huống ấy tạo xúc động cho mọi người.

Trước khi ba lên đường, cô bé đã cất tiếng gọi ba và thể hiện tình cảm yêu quý một cách mãnh liệt (D/c)

⇒ Qua đoạn trích, người đọc nhận ra vẻ đẹp tâm hồn của bé Thu: yêu thương cha nhưng rạch ròi xấu – tốt, cá tính mạnh mẽ và cũng rất hồn nhiên ngây thơ. Thực chất hai thái độ trái ngược là sự thống nhất trong tính cách nhân vật. Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện, ta thấy tác giả rất am hiểu tâm lí trẻ em và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến, trân trọng.

Luận điểm 2: Tình cảm của ông Sáu dành cho con

– Nỗi khao khát gặp lại con sau ba năm xa cách.

+ Khi gặp lại con, không chờ xuồng cập bến, ông đã “nhún chân nhảy thót lên, xô chiếc xuồng tạt ra, bước vội vàng với những bước dài rồi dừng lại kêu to: Thu! Con” Anh vừa bước vào vừa khom người đưa tay đón chờ con… Anh không ghìm nổi xúc động….

+ Khi bé Thu sợ hãi bỏ chạy, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gẫy.

– Nỗi khổ và niềm vui trong ba ngày về thăm nhà.

+ Trước thái độ lạnh nhạt, ông đã đau khổ, cảm thấy bất lực: Suốt ngày anh chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con. Nhưng càng vỗ về, con bé càng đẩy ra. Anh mong được nghe một tiếng ba của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi. Anh đau khổ lắm nhưng chỉ “nhìn con vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười vì “khổ tâm đến nỗi không khóc được”.

+ Có lúc giận quá, không kìm được, ông đã đánh con và cứ ân hận mãi về việc làm đó (sau này ở chiến khu)

+ Hôm chia tay, nhìn thấy con đứng trong góc nhà, ông muốn ôm con, hôn con nhưng “sợ nó giẫy lên lại bỏ chạy” nên “chỉ đứng nhìn nó” với đôi mắt “trìu mến lẫn buồn rầu”…

+ Cho đến khi nó cất tiếng gọi Ba, ông xúc động đến phát khóc và “không muốn cho con thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc của con”.

– Xa con, ông luôn nhớ con trong nỗi day dứt, ân hận ám ảnh vì mình đã lỡ tay đánh con.

– Ông dồn hết tình yêu thương vào việc làm một cây lược ngà cho con.

+ Tác giả diễn tả tình cảm của ông Sáu xung quanh chuyện ông làm chiếc lược: từ những cảm xúc của ông khi kiếm được khúc ngà: “từ con đường mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Rồi sau đó, anh dồn hết tâm trí và công sức vào công việc: “anh cưa từng chiếc lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như một người thợ bạc”. Trên sống lưng có khắc một hàng chữ nhỏ…….Trong hàng chữ ấy là bao nhiêu trìu mến yêu thương anh dành cho con gái. Chiếc lược trở thành một vật quý giá, thiêng liêng để mỗi khi nhớ con: “anh lấy cây lược ra ngắm nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt”. Cây lược xoa dịu được nỗi ân hận vì đánh con.

+ Nhưng rồi ông đã hi sinh khi chưa kịp trao cho con chiếc lược. Trước khi hi sinh, ông dồn hết sức lực còn lại gửi người bạn mang cây lược về cho con gái

⇒ Câu chuyện về chiếc lược ngà làm người đọc cảm động vì tình cha con thắm thiết, đẹp đẽ. Nhưng cảm động hơn nữa, nó còn khiến cho ta nghĩ đến những đau thương, mất mát, éo le mà con người phải gánh chịu vì cuộc chiến tranh.

Luận điểm 3: Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc của tác phẩm:

– Cốt truyện chặt chẽ với nhiều bất ngờ nhưng hợp lí

+ bé Thu không nhận ra cha khi ông Sáu về thăm nhà

+ bé Thu biểu lộ tình cảm thật mãnh liệt với người cha trước lúc chia tay…

+ Nguyên nhân dẫn đến những sự việc ấy đã được tác giả giải thích một cách giản dị mà xúc động

⇒ Sự bất ngờ càng gây hứng thú cho người đọc.

– Sự gặp gỡ tình cờ nhân vật – người kể chuyện với bé Thu (bấy giờ là cô giao liên dũng cảm) trong một lần ông cùng đoàn cán bộ đi theo đường dây giao liên vượt qua một quãng nguy hiểm ở Đồng Tháp Mười.

– Lựa chọn ngôi kể phù hợp: truyện được kể qua lời của một nhân vật trong tác phẩm: Ông Ba – người bạn thân của ông Sáu. Cách lựa chọn ngôi kể như vậy vừa tạo ra ấn tượng khách quan vừa có sức thuyết phục, bởi người kể chuyện không chỉ là người chứng kiến và kể lại câu chuyện mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật. Những ý nghĩ, cảm xúc của người kể chuyện làm người đọc hiểu rõ hơn các sự việc và đồng cảm với các nhân vật trong truyện, tăng thêm chất trữ tình và sức thuyết phục của truyện.

– Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật (nhất là trẻ thơ) chính xác, hợp lí, tinh tế

– Ngôn ngữ tự nhiên, lời kể hấp dẫn

– Kể xen miêu tả. Giọng kể giàu cảm xúc, chân thực, sinh động, đầy sức thuyết phục.

C. Kết bài:

– Truyện đã thể hiện thật cảm động tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh

– Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình huống bất ngờ, tự nhiên, hợp lí, cách miêu tả tính cách nhân vật đặc sắc, thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả: cảm thông, sẻ chia, trân trọng.

Đề 5 : Suy nghĩ của em về nhân vật bé Thu trong truyện ngắn : “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Trả lời:

A. Mở bài.

Chiến tranh tàn khốc đã cướp đi hạnh phúc của biết bao nhiêu trẻ thơ : niềm vui đến trường, niềm vui sống trong vòng tay êm ấm của cha mẹ, gia đình…. Nhân vật Thu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng là một cô bé đáng thương để lại trong ta nhiều cảm xúc.

B. Thân bài.

1. Hoàn cảnh của Thu :

– Mỗi chúng ta khi sinh ra và lớn lên đều được cha mẹ dậy dỗ, nâng niu và hết mực yêu thương. Vậy mà suốt tám năm trời Thu không được một lần gặp cha, không được thấy cái nhìn âu yếm, trìu mến của cha, một phút vuốt ve đằm thắm tình cha chúng tôi chỉ biết mặt cha qua tấm hình ba chụp với má, chưa bao giờ em được cất tiếng gọi “cha”. Ôi ! Chiến tranh tàn khốc đã khiến gia đình Thu li tán, khiến Thu không được đón nhận tình cảm của cha đến nỗi khi gặp cha, em không nhận ra cha.

– Càng thương Thu, càng thấy Thu thiệt thòi bao nhiêu thì ta càng căm ghét chiến tranh bấy nhiêu. Tạo hoá đã ban tặng cho con người hai thứ tình cảm rất thiêng liêng : tình mẫu tử và tình phụ tử. Vậy mà chiến tranh đã cướp đi tình cha con của Thu. Thật khổ cho bé Thu quá !

2. Diễn biến, thái độ, tình cảm của Thu trong thời gian ông Sáu về phép thăm nhà.

– Thu thương cha như thế. Ta tưởng chừng như khi được gặp cha, nó sẽ bồi hồi, sung sướng và sà vào vòng tay của ba nó nũng nịu với tình cảm mãnh liệt hơn bao giờ hết. Nhưng không Thu đã làm cho người đọc phải bất ngờ qua hành động quyết liệt không chịu nhận ông Sáu là ba. Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn, ngơ ngác, lạ lùng… khi ông Sáu đến gần, lặp đi lặp lại: ba đây con ! Nó lạ quá, mặt bỗng tái đi, chớp chớp mắt nhìn người đàn ông thứ hai (vẫn im lặng) như muốn hỏi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: Má! Má !

– Đáp lại sự vồ vập của người cha, bé Thu lại tỏ ra ngờ vực, lảng tránh. Ông Sáu càng muốn gần con thì đứa con lại càng tỏ ra lạnh nhạt, xa cách. Trong hai ngày đêm tiếp theo, mặc kệ những lời nói, cử chỉ âu yếm, làm thân, vỗ về tình cảm của anh Sáu, bé Thu một mực thờ ơ, lạnh lùng đến mức bướng bỉnh, ngang ngạnh bất cần….Ông càng chiều thương, nó càng lảng tránh. Ông càng khao khát được nghe tiếng “ba” từ lòng con, nó càng cố tình cự nự. ( D/C : lúc cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước, nó sẽ phải cầu cứu người lớn giúp đỡ, người đọc cứ ngỡ rằng nó sẽ phải chịu thua, không thể chiến tranh lạnh được nữa – nó buộc phải gọi ba … Nhưng không. Nó vẫn không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó từng mong mỏi. Nói vãn hành động theo sự bướng bỉnh, bất cần – tự mình làm lấy công việc nguy hiểm và quá sức. Nghĩa là nó không chịu nhượng bộ… )

+ Khi bị ông Sáu tức giận đánh một cái thì nó bỏ về nhà bà ngoại, khi xuống xuồng còn cố ý khua dây cột xuống kêu rổn rảng thật to.

– Nhưng việc Thu không nhận ông Sáu là cha có nguyên nhân của nó. Bởi vì ông Sáu có vết thẹo dài trên má. Với suy nghĩ của một đứa trẻ hồn nhiên và đáng yêu, em luôn mường tượng ra người cha của nó đẹp như trong ảnh chụp chung với má. Trong sâu thẳm tâm hồn Thu, em rất yêu cha vì vậy nên nó không muốn người nào khác thế chỗ của ba mình. Nó muốn giữ mãi hình ảnh người cha đẹp đẽ của nó. Hiểu như vậy, ta thấy sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách mà còn có phần đáng yêu. Đó là phản ứng tâm lí hoàn toàn tự nhiên của một đứa trẻ có cá tính mạnh mẽ. Phản ứng tâm lí của em là hoàn toàn tự nhiên, nó còn chứng tỏ em có cá tính mạnh mẽ, tình cảm của em sâu sắc, chân thật, em chỉ yêu ba khi tin chắc đó đúng là ba. Chính cái thái độ quyết liệt ngang ngạnh đó lại là biểu hiện tuyệt vời của tình cảm người con dành cho cha – người trong tấm hình chụp chung với má em.một tình yêu chân thực, sâu sắc và mãnh liệt .

3. Trong buổi sáng cuối cùng, trước giờ phút ông Sáu phải đi xa thì thái độ và hành động của bé Thu đã đột ngột, thay đổi hoàn toàn.

– Nó đã dành cho ba một tình cảm thật mãnh liệt. Nỗi nhớ mong với người cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu, nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối hả, cuống quýt, có xen lẫn cả sự hối hận. Giờ đây người cha sắp phải đi xa, xa mẹ, xa con và tiếp tục cuộc đời người lính gian khổ, Lần đầu tiên, Thu cất tiếng gọi “Ba” và tiếng kêu như tiếng “xé”, không còn là tiếng kêu biểu lộ sợ hãi mà là tiếng nói của tình yêu thương ruột thịt. Rồi nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, nó hôn lên ba nó cùng khắp, hôn cả vết thẹo dài trên má như để nhận lỗi. Hai tay nó siết chặt lấy cổ , chắc nó nghĩ hai tay không thể giữ được ba nó, nó dang cả hai chân rồi cấu chặt lấy ba nó, và đôi vai nhỏ bé của nó run run. Thu không muốn rời xa cha. Có lẽ Thu đã ân hận, xót xa vì lỗi lầm của mình. Thì ra trong đêm bỏ về nhà bà ngoại, Thu đã được bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt ba nó. Sự nghi ngờ bấy lâu đã được giải toả và ở Thu nảy sinh một trạng thái như là sự ân hận, hối tiếc: “nghe bà kể nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài như người lớn”. Giờ đây cô mới vỡ lẽ ra người cha của cô thật đẹp và thật anh hùng. Cô bé không chỉ yêu cha, thương cha mà còn tự hào về cha. Thu siết chặt cổ ba như sự đền bù cho nỗi niềm hụt hẫng đã qua. Xót thương thay cho Thu bởi cô đâu hiểu rằng cuộc gặp gỡ đầu tiên này cũng là lần cuối cùng. Ba cô đã hi sinh trong một trận càn. Chứng kiến những biểu hiện tình cảm ấy trong cảnh ngộ cha con ông Sáu phải chia tay, có người không cầm được nước mắt và người kể chuyện thì cảm thấy như có bàn tay ai nắm lấy trái tim mình.

4. Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật:

Xây dựng tính cách nhân vật qua tâm lí và hành động.

– Qua biểu hiện tâm lí và thái độ, tình cảm, hành động của bé Thu, ta thấy đó là cô bé có tình cảm thật sâu sắc, mạnh mẽ, nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi. Ở Thu còn có nét cá tính là sự cứng cỏi đến mức tưởng như ương ngạnh, nhưng Thu vẫn là một đứa trẻ với tất cả nét hồn nhiên, ngây thơ của con trẻ.

– Qua những diễn biến tâm lí của bé Thu được miêu tả trong truyện ta thấy tác giả tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ em và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến trân trọng những tình cảm trẻ thơ.

⇒ Hình ảnh bé Thu và tình yêu cha sâu sắc của Thu đã gây xúc động mạnh trong lòng người đọc, để lại những ấn tượng sâu sắc.

C. Kết luận

– Đọc “Chiếc lược ngà”, ta thấy tình cảm cha con trong chiến tranh có những xa cách, trắc trở nhưng rất thiêng liêng, mãnh liệt và cao quý.

– Người đọc thực sự xúc động về tình cảm của họ nhưng không khỏi có những trăn trở suy ngẫm.

Đề 6 : Suy nghĩ về đời sống và tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn “chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

Trả lời:

1. Tình cha con:Chiến tranh là 1 nhân tố thử thách

– Xa cách gần 7 năm, không nhìn thấy mặt nhau

– Ống Sáu chỉ được ở lại nhà 3 ngày vì chiến tranh. Trong 3 ngày ấy, bé Thu nhất quyết không nhận cha.

– Chỉ đến khi ông Sáu sắp đi, bé Thu mới được sống trong tình cha con thật sự, đó cũng là lần gặp cuối cùng.

⇒ Dù chiến tranh khốc liệt nhưng tình cha con vẫn luôn sâu đậm, không làm tình thương yêu ruột thịt ấy phai nhạt.

2. Tình cảm gia đình:được hi sinh để nhường chỗ cho tình yêu đất nước. Sự hi sinh vật chất đã lớn lao rồi, nhưng sự hi sinh về gia đình là vô giá. Đó chính là những tình cảm gia đình : anh Sáu, chị Sáu, bé Thu. Họ đều phải chịu thiệt thòi. Tuổi thơ của bé Thu thiếu đi tình phụ tử là một thiệt thòi lớn do hoàn cảnh đưa lại (Liên hệ với bài Bếp lửa của Bằng Việt. Nếu như tình bà cháu giản dị, gần gũi theo tác giả đến tận nước Nga xa xôi đến suốt cuộc đời thì tâm hồn bé Thu ít nhiều thiếu hụt tình cảm của người cha. Đó cũng là một sự hi sinh.

– Với anh Sáu, chị Sáu cũng như thế, với người mẹ, người vợ, tình cảm gia đình cách chia đằng đẵng, rõ ràng đó là sự hi sinh đặc biệt to lớn, nhất là người phụ nữ. Chị Sáu thiếu thốn tình cảm người chồng, lại phải thay chồng lo việc nhà, nuôi dạy con cái trưởng thành giữa những vất vả nhọc nhằn của cuộc sống thời chiến. (Liên hệ với : Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ … → sức nặng biểu cảm)

– Rõ ràng là chiến tranh kéo dài “lớp cha trước, lớp con sau” đã bắt con người phải hi sinh những tình cảm riêng tư kể cả tình cảm gia đình. Đó là một sự hi sinh thầm lặng mà cuộc kháng chiến của chúng ta đi đến đích.

– Những tình cảm của gia đình, dòng họ thì thường rất bền vững, đó là niềm an ủi động viên lớn, sâu sắc nhất giúp con người vượt qua mọi hoàn cảnh khó khăn.

+ Với anh Sáu, chính tình cảm gia đình, tình cha con, vợ chồng đã thực sự là ngọn lửa sưởi ấm giúp mọi người chiến sĩ thêm niềm tin, sức mạnh, là nguồn động lực lớn lao nhất. Phải chăng khi ông Sáu chiến đấu, hi sinh chính là để bảo vệ quê hương, gia đình. Bà mẹ Tà Ôi mơ cho con lớn lên khoẻ mạnh, làm công dân của đất nước tự do… chính vì thế mà mẹ không quản nhọc nhằn… Ông Sáu, ông Ba là những người như vậy.

Đề 7: Cho đoạn trích:

Con bé thấy lạ quá, nó chớp mắt nhìn tôi như muốn hỏi đó là ai, mặt nó bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: “Má! Má”. Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương, và hai tay buông xuống như bị gãy.

a. Kể tên hai nhân vật được người kể nhắc tới trong đoạn trích. Trả lời:

Hai nhân vật được người kể nhắc tới trong đoạn trích là ông Sáu và bé Thu.

b. Xác định thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh, anh đứng sững lại đó, nhìn theo con, nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trông thật đáng thương, và hai tay buông xuống như bị gãy.”

Trả lời:

Thành phần khởi ngữ trong câu: “Còn anh”.

c. Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” đau đớn. Vì sao vậy?

Trả lời:

Lẽ ra, cuộc gặp mặt sau tám năm xa cách sẽ ngập tràn niềm vui và hạnh phúc nhưng trong câu chuyện, cuộc gặp ấy lại khiến nhân vật “anh” đau đớn. Bởi vì, ông Sáu xa nhà từ khi con gái chưa đầy một tuổi. Sau tám năm, bây giờ ông mới được trở về để gặp con. Ông hồi hộp, phấp phỏng, hi vọng được ôm con vào lòng. Nhưng trái với những gì ông mong đợi, bé Thu không nhận cha, thậm chí còn sợ hãi, hoảng sợ trước sự có mặt của ông.

Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Thương Vợ

Soạn bài Thương vợ nhanh nhất chỉ với 10 phút??? Trọn bộ các câu hỏi giáo viên đặt ra cho học sinh trên lớp về tác phẩm Thương vợ ??? Đúng vậy, tất cả sẽ có tại bài viết này của Toploigiai, mời các bạn cùng tham khảo

Khái quát tác phẩm Thương vợ Soạn bài Thương vợ (trong 10 phút)

Câu 1

Câu thơ đầu kể về việc bà Tú làm công việc buôn bán tảo tần vất vả, được thực hiện trong khoảng thời gian là “quanh năm”- một khoảng thời gian dài, lặp đi, lặp lại suốt một năm, ở “mom sống” là một địa điểm vô cùng nguy hiểm, không thuận lợi để buôn bán. Hình ảnh bà Tú tần tão, nhẫn lại hiện nên qua các nét phác thảo cơ bản. Trần Tế Xương lí giải lí do bà Tú phải vất vả như thế để “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Cách sử dụng số từ “năm, một”, lối viết liệt kê, tách riêng “năm con” và “một chồng”, tác giả như đếm cụ thể từng vất vả bà Tú chịu đựng. Hơn nữa, với số người đông như thế, bà Tú vẫn nuôi “đủ”, đem đến cho chồng con cuộc sống no đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, thì bà Tú lại càng vất vả hơn.

Qua bốn câu thơ đầu, hình ảnh bà Tú hiện lên là một người phụ nữ tần tảo, nhẫn nại với công việc vô cùng vất vả, nguy hiểm nhưng bà vẫn luôn dành cho chồng con một tình yêu thương vô bờ bến. Qua đây, ta cũng cảm nhận được tình yêu thương, sự xót xa mà Tú Xương dành cho vợ, nó cũng là chút hổ thẹn khi ông không giúp được gì cho vợ mình.

Câu 2

Vẻ đẹp của bà Tú trước hết là sự đảm đang, tháo vát, chu toàn với chồng con thể hiện qua câu thơ “Nuôi đủ năm con với một chồng”. Số từ “năm, một” nói nên số người mà bà Tú phải nuôi. Tuy nhiều nhưng bà vẫn “nuôi đủ” cả về vật chất lẫn tinh thần. Câu thơ chia thành 2 vế cần xứng, “năm con” và “một chồng” tạo thành thế đòn gánh cân bằng đè nặng nỗi vất vả lên vai bà Tú.

Ở bà Tú, ta còn cảm nhận được sự hy sinh không hề than trách qua câu: “Một duyên hai nợ âu đành phận/Năm nắng mười mưa dám quản công”. Bằng cách sử dụng các số đếm “một, hai” và “năm, mười”, cách nói tăng tiến, cặp từ “nắng, mưa”, tác giả lại một lần nữa nhận mạnh cuộc đời cơ cực, vất vả của bà Tú. Nhưng trước những khó khăn đó, bà Tú không oán hận một lời, mà phân trần “âu đành phận”‘, “dám quản công”. Bà Tú không kể công, không than trách, yêu cầu sự giúp đỡ của ông Tú. Điều ấy nó thể hiện một đức hi sinh thầm lặng nhưng vô cùng cao cả của bà Tú.

Câu 3

Hai câu thơ cuối bài kết thúc bằng tiếng chửi, tưởng chừng như tiếng chửi của bà Tú, nhưng thật ra, nó lại là lời ông Tú tự “chửi” chính mình vì ông cho rằng mình là nguyên nhân gây nên sự vất vả của bà Tú Đây cũng là tiếng “chửi” xã hội xưa, chửi thói đời bạc bẽo để cho người vợ vất vả và bản thân ông bị định kiến xã hội ngăn cấm nên không thể giúp đỡ vợ.

Từ đây, ta có thể cảm nhận được, tiếng chửi còn mang cả sự xót xa, ngậm ngùi, cả tình yêu thương vợ vô bờ bến.

Câu 4

– Bài thơ thương vợ dựng lên hai bức chân dung: Một bức chân dung về sự vất vả và phẩm chất của bà Tú, và một bức chân dung về tình yêu thương vợ, sự áy náy, xót thương xen lẫn sự biết ơn đối với vợ của ông Tú. Cả bài thơ, tuy ông Tú không xuất hiện trực tiếp, cũng không trực tiếp bộc lộ cảm xúc, nhưng tình cảm vẫn thấm đẫm từng câu thơ.

– Xã hội xưa đẩy Tú Xương đến chỗ muốn giúp đỡ vợ, nhưng lại không có cách nào chống lại các định kiến của xã hội. Tuy nhiên, trong xã hội trọng nam khinh nữ ấy, việc một nhà nho như Tú Xương có mong muốn giúp đỡ vợ, dù không thực hiện được, thẳng thắn thừa nhận sự vô dụng của bản thân là một điều hiếm có.

Câu 1

Phân tích sự vận dụng…

Thương vợ là một trong những tác phẩm mà Tú Xương vận dụng một cách rất sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian.

Về hình ảnh, tác giả sử dụng thành công hình ảnh con cò. Con cò là một hình ảnh quen thuộc trong ca dao với nhiều nét nghĩa, thường dùng để nói về thân phận của người phụ nữ lam lũ, vất vat, chịu thương chịu khó như:

Con cò lặn lội bờ sông

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

Có đôi khi, hình ảnh con cò lại được sử dụng để miêu tả sự khó nhọc, vất vả của người lao động:

Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Nhìn chúng, hình ảnh con cò vốn đã sự vất vả, thân phận cay đắng xót xa. Song, khi đặt vào bài thơ Thương vợ, đối chiếu với hoàn cảnh của bà Tú, kết hợp với cách nói “thân cò” lại càng nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân, thân phận cay đắng, tội nghiệp của bà Tú.

Về ngôn ngữ, Tú Xương đã vận dụng sáng tạo khá nhiều thành ngữ, đáng chú ý là thành ngữ “năm nắng mười mưa”. Cụm từ “nắng mưa” vốn được dùng để chỉ sự vất vả, lại được tách ra kết hợp với số từ “năm, mười” tạo nên thành ngữ chéo, khiến sự vất vả tăng dần lên theo cấp độ, nhấn mạnh sự vất vả, khó khăn mà bà Tú phải trải qua. Qua đó, khắc sau sự chịu thương, chịu khó, sự hy sinh cao cả, hết lòng vì chồng con của bà Tú.

Gợi ý Câu hỏi trên lớp bài Thương vợ

Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ nào? Lời giải:

Thể thơ: Thất ngôn bát cú Đường luật

Bài thơ “Thương vợ” có đề tài là gì? Lời giải:

Đề tài người vợ- sự tần tảo, giàu đức hi sinh của bà Tú là đại diện tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam truyền thống.

Nêu cảm nhận của em về hình ảnh bà Tú trong bài thơ “Thương vợ”. Lời giải:

Bà Tú là người tần tảo, chịu thương chịu khó, vất vả và lam lũ trong hoàn cảnh không thuận lợi.

Là người trụ cột của cả gia đình với gánh nặng chồng con đè lên cả 2 vai.

Bà phải bươn trải trong cảnh làm ăn lúc đơn chiếc khi quãng vắng.

Bà không một lời kêu ca, phàn nàn mà chỉ an phận bằng lòng với cuộc sống, hết lòng vì chồng vì con.

⇒ Bà Tú là đại diện cho những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam: tần tảo, chịu thương chịu khó, giàu đức hi sinh và tình yêu thương chồng con vô điều kiện.

Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối trong bài “Thương vợ” là lời của ai và có ý nghĩa gì? Lời giải:

Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối nếu đọc qua ta tưởng rằng đó là lời của bà Tú nhưng thực ra đó là lời của Tú Xương đã nhập thân vào cùng nỗi khổ cực của vợ mình để cùng thông cảm sẻ chia đồng thời cũng là lời chửi thói đời và chửi chính mình.

Nỗi lòng thương vợ của tác giả được thể hiện như thế nào trong bài thơ “Thương vợ”? Lời giải:

Nỗi lòng thương vợ của nhà thơ được thể hiện qua từng câu chữ trong bài thơ. Tựa đề Thương vợ vẫn chưa thể hiện được đầy đủ tình thương của nhà thơ đối với vợ cũng như chưa toát lên được nhân cách của nhà thơ. Kể những nỗi vất vả, những đức tính phẩm chất đạo đức cao đẹp của bà để qua đó nói lên tình thương vợ sâu sắc, đồng cảm và hơn hết là biết ơn vợ.

Nêu nét nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ “Thương vợ”. Lời giải:

Từ ngữ giản dị, giàu sức biểu cảm

Hình ảnh sáng tạo

Kết hợp ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ đời sống

Theo em bài thơ “Thương vợ” là lời của ai? Lời giải:

Theo em bài thơ là lời của chính Tú Xương nói lên để bày tỏ sự cảm thông, sự biết ơn đối với người vợ tần tảo của mình, đồng thời cũng là lời tự trách đối với chính bản thân ông để vợ phải cực khổ.

Hình ảnh “con cò” trong bài thơ “Thương vợ” có ý nghĩa gì? Lời giải:

Hình ảnh “con cò” gợi dáng hình gầy guộc cũng như thân phận tội nghiệp của bà Tú nói riêng và gợi lên phẩm chất chăm chỉ, giàu đức hi sinh của người phụ nữ Việt Nam nói chung.

Soạn Bài: Chiếc Lá Cuối Cùng

Soạn bài: Chiếc lá cuối cùng Bố cục:

– Phần 1: Từ đầu đến “buông xuôi, lìa đời”: Giới thiệu về hoàn cảnh của Xiu, Giôn-xi và cụ Bơ-men.

– Phần 2: Tiếp đến “Giôn-xi lẫn những chiếc gối”: Chiếc lá thường xuân cuối cùng không rụng và Giôn-xi khỏi bệnh, tìm lại được hi vọng, đam mê.

– Phần 3: Còn lại: Sự thực về chiếc lá thường xuân cuối cùng hay kiệt tác trước khi mất của cụ Bơ-men.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 90 sgk Văn 8 Tập 1):

– Những chi tiết trong văn bản nói lên tấm lòng thương yêu và hành động cao cả của cụ Bơ-men với Giôn-xi:

+ Sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ nhìn cây thường xuân.

+ Âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm mưa gió. Cụ đã vì chiếc lá để cứu Giôn-xi mà mắc bệnh rồi qua đời.

– Nhà văn bỏ qua không kể việc cụ đã vẽ chiếc lá trong đêm mưa tuyết để gây bất ngờ cho bạn đọc ở cuối tác phẩm.

– Chiếc lá cụ vẽ là một kiệt tác bởi:

+ Nó giống y như thật khiến Giôn-xi và Xiu là họa sĩ mà không nhận ra.

+ Nó có giá trị: cứu sống con người.

Câu 2 (trang 90 sgk Văn 8 Tập 1):

– Những bằng chứng khẳng định Xiu không hề biết ý định vẽ chiếc lá thường xuân cuối cùng của cụ Bơ-men:

+ Hai người nhìn nhau, chẳng nói năng gì.

+ Sáng hôm sau khi Giôn-xi yêu cầu kéo chiếc mành lên thì Xiu làm theo một cách chán nản, có phần bất ngờ: “Ô kìa,..”

– Nếu Xiu được biết trước kế hoạch của cụ Bơ-men thì truyện sẽ kém hấp dẫn, bởi vì nó không gây bất ngờ với người đọc, không thấy sự lo lắng chân tình của Xiu với Giôn-xi và trong tâm trạng của Xiu sẽ lại suy nghĩ về việc làm của cụ Bơ-men.

Câu 3 (trang 90 sgk Văn 8 Tập 1):

– Bởi lẽ nhà văn không kể việc cụ Bơ-men vẽ chiếc lá thường xuân cuối cùng nên tất cả mọi người đều rất lo lắng. Bởi Giôn-xi lại trao sinh mệnh mình vào chiếc lá thường xuân, mà chiếc lá thì chắc chắn sẽ rụng trong đêm mưa tuyết. Hai lần Giôn-xi yêu cầu kéo mành lên, là hai lần căng thẳng vì ai cũng lo lắng rằng chiếc lá ấy đã rụng rồi.

– Nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự hồi sinh của Giôn-xi: Nhìn chiếc lá mỏng manh nhưng cố bám trụ lại cây, cố giữ lại sự sống trước thiên nhiên khắc nghiệt làm Giôn-xi thấy xấu hổ vì sự yếu đuối của bản thân mình mà cô vươn lên chiến thắng bệnh tật.

– Kết thúc truyện nhà văn không để Giôn-xi nói gì thêm để mỗi người tự tưởng tượng ra kết thúc của nó, câu chuyện vì thế mà có dư âm, để lại ấn tượng trong tâm trí bạn đọc.

Câu 4 (trang 90 sgk Văn 8 Tập 1): Truyện có hiện tượng đảo ngược tình huống hai lần gây bất ngờ, hấp dẫn:

– Giôn-xi bị ốm, cô chỉ nằm đợi chiếc lá rụng để lìa đời nhưng cuối cùng đã khỏe lại.

– Cụ Bơ-men đang khỏe mạnh nhưng vì vẽ chiếc lá thường xuân giữa trời mưa tuyết mà cụ chỉ ốm hai hôm rồi đột ngột ra đi.

Nhận xét – Ý nghĩa

– Truyện thể hiện giá trị của nghệ thuật: nghệ thuật sẽ cứu vớt con người.

– Truyện còn cho thấy sự yêu thương giữa những con người cùng khổ.

Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8

(Soạn văn) – Anh ( Chị ) hãy soạn bài Chiếc lá cuối cùng lớp 8. ( Bài soạn của học sinh giỏi tỉnh Quản Trị lớp 8) Đề bài: Soạn bài Chiếc lá cuối cùng lớp 8

O Hen-ri sinh năm 1862 mất năm 1910) là nhà văn chuyên sáng tác truyện ngắn và để lại nhiều tác phẩm tiêu biểu cho tới tận bây giờ. Một trong số đó gồm : Căn gác xép, Tên cảnh sát và gã lang thang, quà tặng của các đạo sĩ,…

a) Đoạn trích chiếc lá cuối cùng nằm trong phần một của truyện ngắn cùng tên. Thông qua cách kể chuyện đầy hấp dẫn lôi cuốn những chi tiết nhẹ nhàng được lồng ghép và khiến cho người đọc hồi hộp chờ từng chút một. Những nhân vật chính chỉ xuất hiện trong tác phẩm rất ngắn để lại cô chị (Xiu) cùng với bạn đọc hồi hộp dõi theo chiếc lá trên tường, thắt lòng lo cho số phận của Giôn-xi. Hình ảnh của chiếc lá cuối cùng chiếc lá của niềm tin hi vọng và cả sự sống của Giôn xi đặt vào đó cũng khiến cho người đọc tò mò xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Và cuối cùng khi chiếc là mãi mãi không rơi thì người ta cũng nhận ra đó là bức vẽ cuối cùng cũng là bức kiệt tác của cụ Bơ men , lúc người ta nhận ra cụ chết cũng khiến cho người đọc tê tái và thấm thía với sư ra đi của cụ . Tuy nhiên cái chết của cụ không mang tính chất bi lụy mà nó đã thắp lên ngọn lửa của tình yêu cuộc sống, của niềm tin vào sức mạnh, sự vĩnh cửu của cái đẹp của nghệ thuật và cuộc sống.

– Cụ Bơ-men và Xiu “sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ, nhìn cây thường xuân. Rồi họ nhìn nhau một lát, chẳng nói năng gì”. Rõ ràng cả người đều lo lắng cho số phận của Giôn Xi và không muốn rồi điều tồi tề nhất là cái chết của Giôn xi sẽ diễn ra khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống.

– Trong những đêm lạnh buốt và mưa gió cụ Bơ men không quản tuổi già sức yếu mà vẫn âm thầm vẽ nên bức tranh chiếc lá để cuối cùng chiếc lá đó trở nên bất hủ và cứu lấy được mạng sống của Giôn xi

Những yếu tố khiến cho khán giả cảm thấy bất ngờ, xúc động nhất được thể hiện không phải qua lời kể của tác giả về quá trình vẽ bức tranh của cụ Bơ men về trong đêm mưa gió và lạnh tê tái

Chiếc lá mà cụ Bơ men đã vẽ không những vô cùng sống động khiến cho cả chính Giôn xi cũng k thể nhận ra nó là thật hay giả mà nó còn được vẽ bằng tình thương yêu và những cầu mong của cụ Bơ men khiến cho Giôn xi có thể giành lại sự sống cho chính mình

c) Những chi tiết khẳng định Xiu không hề được cụ Bơ-men cho biết sẽ vẽ chiếc lá :

– Trước khi vẽ ” chiếc lá cuối cùng” hai người chẳng nói năng gì khi cụ Bơ-men làm người mẫu cho Xiu vẽ.

– Khi Giôn-xi đòi kéo mành lên, Xiu làm theo một cách chán nản vì cô không biết sự hiện hữu của chiếc lá và càng lo lắng hơn khi chiếc lá không còn nữa khi chiếc lá rơi xuống em mình sẽ chết

– Chính Xiu cũng ngạc nhiên cùng với Giôn-xi khi thấy cảnh tượng của một chiếc lá cuối cùng vẫn bám trụ trên cành “Sau trận mưa vùi dập và những cơn gió phũ phàng… vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch”.

– Chỉ khi bác sĩ nói, Xiu mới biết là cụ Bơ-men bị ốm , những chi tiết này là vô cùng độc đáo và bất ngờ bởi vì nếu Xiu biết trước ý định của cụ Bơ-men, câu chuyện sẽ không còn hấp dẫn vì chẳng còn yếu tố bất ngờ.

d) Tâm trạng của Giôn-xi là tâm trạng của một người bệnh, thường hay ám ảnh về một điều gì đó. Một khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống cô sẽ buông xuôi tất cả và chọn cái chết là lựa chọn cuối cùng:

Sự hồi sinh trong tâm trạng và sức khỏe của Giôn xi chính nhờ sự hiển diện của chiếc lá trong thời tiết khắc nghiệt. Chính cô cũng không nghĩ rằng chiếc lá vẫn còn hiện hữu trên cây.

e) Chiếc lá cuối cùng của Ô hen ri có hai lần đảo ngược tình huống gây bất ngờ:

– Giôn-xi bị ốm và rất tuyệt vọng, nằm chờ chết nhưng cuối cùng cô lại giấy lên một niềm sống mới bắt đầu sống lại và có niềm tin vào cuộc sống hơn.

– Cụ Bơ-men khoẻ mạnh. Ông chỉ bị ốm có hai ngày, nhưng cuối cùng lại đột ngột ra đi.

Nghệ thuật đảo ngược tình huống khiến cho người đọc tò mò và muốn khai phá những ý nghĩa ẩn chứa đằng sau những tình huống đó. Và tìm ra điều mà tác giả muốn gửi gắm với độc giả.

Soạn Bài Chiếc Lá Cuối Cùng

Soạn bài Chiếc lá cuối cùng

Tóm tắt

Xiu và Giôn-xi là hai nữ hoạ sĩ trẻ. Giôn-xi bị sưng phổi nặng. Cô tuyệt vọng nhìn chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân bên cửa sổ và nghĩ khi nào chiếc lá đó rụng thì mình cũng lìa đời. Nhưng sau đêm mưa lớn, chiếc lá vẫn còn đó, Giôn-xi thoát ra ý nghĩ về cái chết và qua nguy hiểm. Trong khi đó, cụ Bơ-men, một họa sĩ già thuê phòng tầng dưới đã chết vì ốm nặng sau đêm mưa lớn. Thì ra chính cụ đã mặc mưa gió vẽ nên chiếc lá thường xuân ngoài cửa sổ tạo hi vọng cho Giôn-xi.

Bố cục:

– Phần 1 (từ đầu… Hà Lan): Giôn-xi đợi chết.

– Phần 2 (tiếp… vịnh Naplơ): Giôn-xi vượt qua cái chết.

– Phần 3 (còn lại): Bí mật của chiếc lá.

Câu 1 : (trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

– Những chi tiết nói lên tấm lòng thương yêu và hành động cao cả của cụ Bơ-men:

+ “sợ sệt ngó ra ngoài cửa sổ” → lo lắng cho Giôn-xi.

+ Cụ âm thầm vẽ chiếc lá trong đêm mưa lạnh buốt.

– Nhà văn không kể sự việc cụ vẽ chiếc lá chính là yếu tố bất ngờ, hình ảnh cụ Bơ-men được thăng hoa. Chiếc lá cụ vẽ là một kiệt tác vì nó được tạo ra bằng tình yêu thương và cả mạng sống của người nghệ sĩ già, cứu sống một người khác.

Câu 2 : (trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

– Xiu không hề biết ý định vẽ chiếc lá của cụ Bơ-men:

+ Trước đó hai người chẳng nói năng gì khi cụ Bơ-men làm mẫu cho Xiu vẽ.

+ Chính Xiu cũng ngạc nhiên khi thấy vẫn còn một chiếc lá thường xuân bám trên bức tường gạch sau đêm mưa gió.

+ Khi bác sĩ nói, Xiu mới biết là cụ Bơ-men bị ốm.

– Nếu Xiu biết trước ý định của cụ thì truyện sẽ mất đi tính bất ngờ, hồi hộp.

Câu 3 : (trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

– Giôn-xi bệnh nặng, cô nhìn những chiếc lá và liên tưởng số phận mong manh của mình, suy nghĩ tuyệt vọng: khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống thì cô cũng lìa đời. Sau đêm mưa gió lớn, cô nghĩ chắc chắn cây thường xuân sẽ rụng hết lá. Nhưng không, một chiếc lá vẫn bám trụ ở đó, cô nhận ra sự sống thật bền vững, thật gan lì. Nhìn lại bản thân, cô nuôi lại niềm ham sống, bám trụ như chiếc lá kia.

– Truyện kết thúc bằng lời của Xiu mà không để Giôn-xi phản ứng làm tăng sự xúc động của câu chuyện, để lại dư âm.

Câu 4 : (trang 90 sgk Ngữ Văn 8 Tập 1):

Đoạn trích có hai lần đảo ngược tình huống:

– Giôn-xi bị ốm và rất tuyệt vọng, nằm chờ chết. Thế mà cô khoẻ lại.

– Cụ Bơ-men khoẻ mạnh, chỉ bị ốm có hai ngày, nhưng đã đột ngột ra đi.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k7: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Chiếc Lá Cuối Cùng trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!