Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Thương Vợ – Trần Tế Xương – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 5 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Thương Vợ – Trần Tế Xương – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Thương Vợ – Trần Tế Xương – Ngữ Văn 11 Tập 1 được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Trần Tế Xương (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Trần Tế Xương trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 10).

2. Tác phẩm

* Thương vợ là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Hình ảnh bà Tú qua 4 câu thơ đầu:

Hai câu đề là hình ảnh bà Tú gắn với công việc làm ăn và mưu sinh của bà:

Quanh năm: là cách tính thời gian vất vả, triền miên, hết năm này qua năm khác

Mom sông: địa điểm làm ăn cheo leo, nguy hiểm, không ổn định

Tiếp đến, hai câu thực đặc tả cảnh làm ăn vất vả để mưu sinh của bà Tú:

Đảo ngữ “lặn lội” được đưa lên đầu câu, dùng “thân cò” thay cho “con cò” nhằm nhấn mạnh nỗi vất vả và gian truân của bà Tú.

Quãng vắng, đò sông: không gian heo hút, vắng lặng, chứa đựng đầy những nỗi lo âu, nguy hiểm.

Eo sèo: gợi lên cảnh tượng chen chúc trên sông nước của những người buôn bán nhỏ.

Nói tóm lại, qua 4 câu thơ đầu giúp người đọc thấy được công việc và thân phận của bà Tú, qua đó cũng cho chúng ta thấy được nỗi xót thương của Tú Xương đối với người vợ của mình.

Câu 2:

* Những câu thơ nói lên đức tính cao đẹp của bà Tú:

Nuôi đủ năm con với một chồng

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Năm nắng mười mưa dám quản công

Một duyên hai nợ âu đành phận

Câu 3:

Lời “chửi” trong 2 câu thơ cuối là lời của tác giả đang tự “chửi” chính mình. Bởi Tú Xương cho rằng ông chính là nguyên nhân gây nên nỗi khổ của vợ. Bên cạnh đó, câu thơ còn là tiếng “chửi” của Tú Xương với xã hội, ông chửi cái thói đời đểu cáng, bạc bẽo đã khiến cho bà Tú vất vả và cũng chính xã hội đó đã biến ông thành một ông chồng vô tích sự. Đây là lời chửi trong tâm khảm của sự yêu thương, có cả nỗi niềm ngậm ngùi, xót xa.

Câu 4:

Nỗi lòng thương vợ của nhà thơ được thể hiện rất rõ trong bài thơ:

Tiếng “chửi” ở cuối bài: tác giả đã một mặt trách mình là nguyên nhân khiến cho vợ khổ, mặt khác lại thể hiện tình yêu thương chân thành và sâu nặng của nhà thơ.

Vẻ đẹp nhân cách của Tú Xương được thể hiện qua nỗi niềm yêu thương, quý trọng và biết ơn người vợ của mình. Đặc biệt, trong cái xã hội vẫn còn định kiến trọng nam khinh nữ thì việc một nhà nho như Tú Xương không những nhận ra sự vô dụng của mình mà còn tự trách bản thân một cách thẳng thắn thể hiện ông là một người có nhân cách cao đẹp, đáng trân trọng.

5

/

5

(

2

bình chọn

)

Soạn Bài: Thương Vợ (Trần Tế Xương)

Bố cục

– Phần 1 (4 câu đầu): Hình ảnh bà Tú tần tảo, chịu thương chịu khó hiện lên qua nỗi thương vợ của thi sĩ.

– Phần 2 (còn lại): Tình cảm, thái độ của tác giả

Soạn bài: Thương vợ

Câu 1 (trang 30 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Bốn câu thơ đầu đã nhẹ nhàng tô nét một bà Tú tần tảo sớm hôm, vất vả nhọc nhằn. Thời gian, không gian là một góc cạnh hướng đến sức gợi về nỗi vất vả, thì hình ảnh “thân cò” lặn lội cũng là một cạnh nữa hướng vào nỗi vất vả của bà Tú.

Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng.

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Bà Tú – danh xưng vợ của tú tài nhưng của cải chẳng có, cái nghèo và vất vả vẫn bám đuổi người phụ nữ. Hàng ngày bà Tú phải buôn bán ngược xuôi, cái vất vả của người buôn bán là ở việc hàng ngon, giá tốt, người mua nhiều ít, cái lợi được bao, mà thêm nữa viêc đi lại, thời gian biến đổi, rồi thời tiết nắng mưa thất thường. Bà Tú đi buôn đi bán “quanh năm”, tức là không ngừng không nghỉ, luôn luôn và liên tục. Lại thương nỗi “khi quãng vắng”, cái không gian heo hút, rợn ngợp chất chứa bao nỗi lo âu, nguy hiểm rập rình. Những nơi “mom sông”, những buổi chợ “đò đông” khiến cuộc sống mưa sinh vất vả thêm bao nỗi nhọc nhằn. Ở cái dẻo đất nhô ra giữa mặt nước, con người đứng thôi đã chênh vênh, cheo leo rồi, vậy mà bà Tú là một người buôn bán ngày ngày tháng tháng ngồi, đứng, bán hàng nơi ấy. Những “buổi đò đông” vất vả sớm hôm, bà Tú phải lăn xả bon chen nơi đông đúc nguy hiểm trùng trùng. Cái vắng, cái đông đúc đối với người buôn bán cũng đều nguy hiểm và khó khăn. Nguy hiểm là thế, nhưng tình yêu chồng con và bản tính tần tảo của người phụ nữ trong gia đình đã giúp bà Tú vượt qua mọi khó khăn. Như “thân cò” hay được nhắc tới trong ca dao xưa mỏng manh, cần cù, nhỏ bé mà trắng trong. Nghệ thuật đảo ngữ được Tú Xương sử dụng cũng xuất phát từ tình yêu, tình thương với người vợ khi chứng kiến vợ mình với dáng vẻ và công việc nhọc nhằn. Hình ảnh thân cò lấy từ ca dao dân gian là một hình ảnh đầy tính sáng tạo.

Câu 2 (trang 30 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Tình thương vợ của Tú Xương rõ nét hơn, đậm màu hơn khi ông cho chúng ta thấy được đức tính cao đẹp của bà Tú. Bà Tú trong mắt chồng mình là một người đảm đang tháo váo, vô cùng chu đáo với chồng con. Một bà Tú “nuôi đủ năm con với một chồng”, một người đàn bà giàu đức hy sinh, mà với chồng “duyên – nợ” gắn kết, âu cũng cho đó là cái “phận”. Bà Tú chính xác là mẫu hình lý tưởng, người mang vẻ đẹp điển hình của phụ nữ Việt truyền thống: tần tảo, đảm đang, thương con, yêu chồng, chịu thương chịu khó.

Câu 3 (trang 30 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Ở cái thời ấy con người ít khi quan tâm đến cái khổ của người phụ nữ, bởi họ cho đó là bổn phận, trách nhiệm, có mấy ai biết thương vợ như Tú Xương. Ông thương vợ chịu vất vả, thương chồng con, hai câu thơ cuối ông cất tiếng chửi thói đời bạc bẽo, ông trách thói đời nhưng không quên vai trò một người chồng, người cha đã hững hờ trong trách nhiệm với vợ và con.Lời chửi mang ý nghĩa thời đại. Nó ngang tàng nhìn nhận một người đàn ông tự nhận là kẻ ăn bám vợ, đó có phải là một nhân cách cao đẹp hay không thì nó cũng đã truyền đạt một làn gió tư tưởng mới ở thời đại phong kiến, phản kháng lại cái tư tưởng cố hữu về bổn phận người vợ trong gia đình phong kiến. Tú Xương cũng lên tiếng thay những số phận hoàn cảnh của nhiều người phụ nữ như vợ mình.

Câu 4 (trang 30 sgk Ngữ Văn 11 Tập 1):

Nỗi lòng thương vợ của Tú Xương rộng hơn đã phản ánh qua sự thấu hiểu, sự biết ơn và tiếng giận bản thân. Ông thấu hiểu, biết ơn những hỹ sinh, những cực nhọc của bà Tú, thương bà mà than lên tiếng chửi như một cách tự trách mình, cách khác thể hiện tình yêu, lòng thương vợ chân thành và sâu nặng. Tú Xương không chỉ thương mà còn biết ơn vợ, chẳng mấy ai trong xã hội thời trọng nam khinh nữ như thế có thể có một tư tưởng tiến bộ như vậy, Trần Tế Xương thật sự có một nhân cách đẹp.

Luyện tập

Hình ảnh dân gian được sử dụng trong thơ ca đã không là điều xa lạ trong văn học nữa. Tuy nhiên trong Thương vợ, sự vận dụng này thật sáng tạo. Từ hình ảnh “con cò” trong ca dao, Trần Tế Xương biến nó thành “thân cò”, “thân” như là thân thể, mà cũng có khi là thân phận, nghe xót xa, tội nghiệp hơn, còn nhấn mạnh nỗi vất vả, gian truân của bà Tú với nỗi đau thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Thương vợ cũng khéo léo sáng tạo thành ngữ một nắng hai sương. Bên cạnh đó còn có thành ngữ năm nắng mười mưa, mà các số lượng phiếm chỉ năm, mười nhằm biểu thị số nhiều, chúng tách ra rồi kết hợp với thời tiết ẩm ương “nắng, mưa” hình thành một thành ngữ chéo. Tất cả chúng, cả cách biến tấu hình ảnh và thành ngữ dân gian đều nhằm nói lên cái khó khăn, nỗi vất vả cùng đức tính cao đẹp của người phụ nữ Việt xưa, chịu thương chịu khó, yêu chồng thương con.

Tổng kết tác phẩm Thương vợ

Soạn Bài Thương Vợ Của Trần Tế Xương Lớp 11

Đề bài: Soạn bài thương vợ của Trần Tế Xương văn 11 I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả – Tú Xương (1870 – 1907), tên thật là Trần Tế Xương – Quê :ở làng Vị xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nay là phố Minh Khai, tỉnh Nam Định – Hiệu là Mộng tích, tự là Mặc Trai – Xuất thân từ một gia đình có truyền thống nho gia – Ông đi học từ rất sớm và nổi tiếng thông minh. – Lớn lên ông đi thi nhưng lại gặp phải nhiều khó …

Đề bài: Soạn bài thương vợ của Trần Tế Xương văn 11 I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả

– Tú Xương (1870 – 1907), tên thật là Trần Tế Xương – Quê :ở làng Vị xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định nay là phố Minh Khai, tỉnh Nam Định – Hiệu là Mộng tích, tự là Mặc Trai – Xuất thân từ một gia đình có truyền thống nho gia – Ông đi học từ rất sớm và nổi tiếng thông minh. – Lớn lên ông đi thi nhưng lại gặp phải nhiều khó khăn trong con đường thi cử – Sự nghiệp: * Ông để lại nhiều bài thơ có giá trị * Dòng văn học: trào phúng * Các tác phẩm tiêu biểu: mùng một tết viếng cô Ký, thương vợ, vịnh khoa thi hương…

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác: Trần tế Xương là một người rất thông minh tuy nhiên sự nghiệp thi cử của ông lại gặp nhiều gian nan vất vả. Đã thế ông lại lấy vợ rất sớm từ năm mới 16 tuổi. Và ông thì chẳng làm được gì nhiều chỉ có tập trung học hành thi cử ra làm quan. Trong những năm tháng ấy vợ ông chính là người lo cho ông từ mọi mắt từ sinh hoạt đến đi thi. Chính vì thế mà nhà thơ xấu hổ vì không làm tròn trách nhiệm của một người chồng, nhà thơ thương vợ và đã làm bài thơ này b. Thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật c. Đề tài: người vợ d. Bố cục: đề, thực, luận, kết

II. Phân tích1. Hai câu đề : giới thiệu công việc của người vợ

2. Hai câu thực: sự vất vả nhọc nhằn trong công việc của bà Tú

3. Hai câu luận: nói về duyên nợ giữa ông Tú và bà Tú

4. hai câu kết: nhà thơ tự chửi chính mình

III. tổng kết

– bài thơ thể hiện nỗi lòng của nhà thơ hay chính là nỗi lòng của những người tri thức mang mông sách vở ra làm quan trường. Thi cử không xong, cũng chẳng làm được việc gì bỗng trở thành một gánh nặng trên vai người vơ đảm. Nhà tự thấy xấu hổ và có lỗi tự trách bản thân nhưng lại không có cách nào giúp vợ

Thương Vợ Của Trần Tế Xương

Trần Tế Xương (1870 – 1907) thường gọi là Tú Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, Nam Định.

Để lại cho đời một sự nghiệp thơ ca bất tử với khoảng trên 100 bài gồm nhiều thể loại, nhưng chủ yếu là thơ

Gồm 2 mảng sáng tác chính: trào phúng và trữ tình

Tú Xương có hẳn một mảng sáng tác về vợ gồm nhiều thể loại được viết với tất cả niềm thương yêu và trân trọng

xuất xứ: Nằm trong những sáng tác của Tú Xương về bà Tú – là một trong những bài thơ hay và cảm động nhất của tác giả viết về bà.

Thể loại: Thất ngôn bát cú đường luật.

Chủ đề: Qua bài thơ, Trần Tế Xương bày tỏ sự tri ân, lòng trân trọng cũng như tình yêu thương và thái độ ăn năn của ông dành cho sự vất vả, hi sinh của vợ.

Quanh năm buôn bán ở mom sông Nuôi đủ năm con với một chồng.

Câu thơ đầu nói lên hoàn cảnh buôn bán làm ăn của bà Tú – một hoàn cảnh vất vả, lam lũ đươc gợi lên qua cách nêu thời điểm, cách nói thời gian.

“Quanh năm” là suôt cả năm chứ không trừ ngày nào cả, dù mưa hay nắng, vẫn cứ tiếp tục ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm như vậy

“mom sông”: là phần đất bờ sông nhô ra phía lòng sông gợi sự gian nan, chênh vênh, nguy hiểm của công việc cũng như thân phận người phụ nữ.

“nuôi đủ” thể hiện sự chịu thương chịu khó của bà Tú. Bời bà phải vất vả cực nhọc, làm lụng gánh vác, tất bạc ngược xuôi chỉ để nuôi đủ “năm con với một chồng”

Cụm từ “năm con với một chồng” không chỉ nói đến sự vất vả, tần tảo của bà Tú mà còn thể hiện phần nào nỗi niềm riêng, sự tự ý thức của nhà thơ.

⇒ Hai câu thơ gợi nên sự vất vả, gian truân của bà Tú, trong sự xót xa, ngậm ngùi của chính tác giả

Lặn lội thân cò khi quãng vắng Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

Tác giả mượn hình ảnh “con cò” trong ca dao để nói về bà Tú. Nhưng con cò trong bài thơ không chỉ xuất hiện giữa cái rợn ngợp của không gian mà còn trong cái rợn ngợp của thời gian.

Cụm từ “khi quãng vắng” đã nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp chứa đầy lo âu, nguy hiểm. Và cách đảo ngữ đưa cụm từ “lặn lội” lên đầu câu nhấn mạnh nỗi vất vả gian truân của bà Tú đồng thời gợi nỗi đau thân phận.

Sự vất vả mưu sinh của bà Tu được tái hiện trong câu thơ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông” – câu thơ gọi tả cảnh chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ.

⇒ Hai câu thơ gợi tả cụ thể hơn cuộc sống tần tảo, vất vả, gian nan, buôn bán ngược xuôi của bà Tú đồng thời cũng nói lên tấm lòng xót thương da diết của ông Tú.

Một duyên hai nợ âu đành phận Năm nắng mười mưa dám quản công.

Bà Tú là một người giàu đức hi sinh. Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cảm phục sự quên mình của vợ bởi “duyên” một mà “nợ” hai nhưng bà Tú không một lời phàn nàn, lặng lẽ chấp nhận sự vất vả vì chồng vì con.

Thành ngữ “năm nắng mười mưa” được vận dụng sáng tạo : “nắng, mưa” chỉ sự vất vả, còn “năm, mười” là số lượng phiếm chỉ chỉ nói số nhiều, được tách ra tạo thành một thành ngữ chéo vừa nói lên sự vất vả và gian truân, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú.

Đức hi sinh của bà Tú được khắc đậm qua hai cụm từ “âu đành phận”, “dám quản công”. Dù cho phận mỏng duyên ôi, bà Tú vẫn chấp nhận, cam chịu, không lời oán thán.

⇒ Hai câu thơ cho ta thấy đức tính cao đẹp của bà Tú cả nỗi lòng và sự tinh tế của một người vợ.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc Có chồng hờ hững cũng như không

Lời chửi trong hai câu thơ kết mang ý nghĩa xã hội sấu sắc: thói đời bạc bẽo là nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ.

Sự “hờ hững” của ông đối với vợ con cũng là một biểu hiện của “thói đời bạc bẽo”. Câu thơ “Có chồng hờ hững cũng như không”: Tú Xương tự rủa mát mình và cũng là tự phán xét, tự lên án bản thân mình

Vói cụm từ “thói đời”, Tú Xương đã nguyền rủa cái nếp xấu chung của người đời, của xã hôi. Trong sự lên án ấy, ta thấy được chính ông cũng đã trách móc và lên án chính bản thân mình một cách thậm tệ.. Xã hội xưa trọng nam khinh nữ, coi người phụ nữ là thân phận phụ thuộc, nhưng Tú Xương dám sòng phẳng với bản thân với cuộc đời, dám tự nhận khiếm khuyết và tự phê phán mình một cách nghiêm ngặt. Đó cũng chính là biểu hiện của một nhân cách cao đẹp, một tấm chân tình chân thật mà ông dành cho vợ

⇒ Hai câu thơ đã khái quát nỗi lòng thương vợ của ông Tú.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Thương Vợ – Trần Tế Xương – Ngữ Văn 11 Tập 1 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!