Xu Hướng 6/2023 # Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 12 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Nguyễn Bỉnh Khiêm (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 10 Tập 1).

2. Tác phẩm

Nhàn là một bài thơ Nôm nằm trong Bạch Vân quốc ngữ thi. Nhan đề bài thơ do người sau đặt.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Cách dùng số từ, danh từ trong câu thơ thứ nhất và nhịp điệu 2 câu thơ đầu có những điểm đáng chú ý là:

Số từ trong câu thơ là “một…một…một…”: cho thấy tác giả là một con người biết chủ động trong công việc.

Nhịp thơ 2/2/3 tạo nên sự thảnh thơi và nhàn nhã

Chữ “ai” ở câu thơ thứ hai dùng để nói với người: cho dù người ta có “vui thú nào” thì ông vẫn luôn vui vẻ với cuộc sống thôn dã của mình

* Qua 2 câu thơ đầu, cho ta thấy hoàn cảnh sống và tâm trạng của tác giả ở nơi thôn quê dân dã. Ông luôn cảm thấy vui vẻ với cuộc sống “tự cung tự cấp” của mình. Đồng thời, hai câu thơ đầu cũng cho thấy sự ngông ngạo trước thói đời. Ngông ngạo mà không ngang tàn, ông vẫn cứ thuần hậu và nguyên thủy.

Câu 2:

* Nơi “vắng vẻ” và chốn “lao xao”:

Nơi “vắng vẻ”: là nơi không có người cầu cạnh ta và ta cũng không cầu cạnh người. Đó là nơi tĩnh tại của thiên nhiên và là nơi thảnh thơi của tâm hồn.

Chốn “lao xao”: là chốn quan trường, là những nơi sang trọng, đầy những thủ đoạn, bon chen, luồn lọt, sát phạt.

* Chúng ta thấy quan niệm của tác giả về “dại” và “khôn” là: tác giả tự nhận mình là người “dại”, chấp nhận mọi điều tiếng xấu của người đời để tìm về những nơi “vắng vẻ”. Còn những người “khôn” họ đến chốn “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã quá trải đời, ông đã chứng kiến sự bon chen và trói buộc của vòng danh lợi chật hẹp. Tác giả tự nhận mình là “dại”, nhưng thực chất ông lại là “khôn”, điều đó cũng giống như những con người cứ luẩn quẩn trong vòng danh lợi, cứ mãi bon chen, nghĩ rằng mình là “khôn” nhưng thực chất lại là “dại”.

* Tác dụng biểu đạt ý của nghệ thuật đối trong hai câu thơ 3 và 4: tạo nên sự so sánh giữa hai triết lí sống, qua đó khẳng định triết lí sống của tác giả.

Câu 3:

* Các sản vật và khung cảnh trong hai câu thơ 5, 6 có những điểm đáng chú ý là:

Thức ăn, sản vật dân dã: măng trúc, giá đỗ

Cảnh sinh hoạt: thích tắm hồ, tắm ao như bao người dân quê khác

Câu 4:

* Hai câu thơ cuối thể hiện vẻ đẹp trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông là một bậc thức giả uyên thâm, là người đã từng vào ra chốn quan trường, đã quá hiểu được cái quy luật biến dịch của cuộc đời, hiểu được rằng danh lợi chỉ là phù du. Do đó, ông đã phủi tay với vòng danh lợi, tìm đến sự tĩnh lặng cho tâm hồn và cùng hòa hợp với thiên nhiên. Có thể nói, đây là cái nhìn của một nhân cách lớn, của một con người có trí tuệ lớn.

Câu 5:

* Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là: sống hòa hợp với thiên nhiên và xa lánh nơi quyền quý, chốn quan trường để giữ cốt cách thanh cao.

* Quan niệm sống của ông là quan niệm hoàn toàn tích cực. Với ông, sống nhàn không có nghĩa là không quan tâm đến xã hội, chỉ lo cuộc sống nhàn tản của bản thân mà sống nhàn là cuộc sống xa lánh nơi quyền quý, rời khỏi vòng danh lợi, sống hòa hợp với tự nhiên. Cuộc sống như vậy mặc dù sẽ vất vả nhưng nó đem đến cho ông sự thoải mái trong tâm hồn, giữ được nhân cách thanh cao trong đời mình.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Văn Bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Soạn văn bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

I. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Âm hưởng hai câu thơ đầu đã gợi ra ngay cái vẻ thung dung. Nhịp thơ 2/2/3 cộng với việc dùng các số từ tính đếm (một…, một…, một…) trước các danh từ mai, cuốc, cần câu cho thấy cái chủ động, sẵn sàng của cụ Trạng đối với cuộc sống điền dã, và còn như là chút ngông ngạo trước thói đời.

Câu 2:

Cách nói hóm hỉnh song qua đó toát lên quan niệm nhân sinh của tác giả. Cụ Trạng tự nhận mình là “dại”, chấp nhận tiếng dại của “miệng thế” chê bai để “tìm nơi vắng vẻ”, mặc cho “Người khôn, người đến chốn lao xao”. Câu thơ sử dụng cách nói ngược nghĩa. Tuyết Giang Phu Tử với sự thâm trầm, trải đời đã tận hiểu sự đua chen, trói buộc của vòng danh lợi, bởi thế ông phủi tay với những sự đua chen ở “chốn lao xao”. Tự nhận là “dại”, song thực chất là “khôn”, cũng giống như những người trải nghiệm, cứ luẩn quẩn trong vòng danh lợi, cứ nghĩ mình “khôn” nhưng thực chất là “dại”. Nghệ thuật đối: “ta” đối với “người”, “dại” đối với “khôn”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao”. Ta tìm nơi vắng vẻ tức tìm đến sự tĩnh lặng của tự nhiên, tìm đến sự yên tĩnh trong tâm hồn, không bon chen, không cầu canh; còn người tìm đến chốn lao xao là tìm đến chốn quan trường, tuy sang trọng, quyền quý, song phải bon chen, đối chọi, cảnh giác… Nghệ thuật đối tạo sự so sánh giữa hai cách sống, qua đó khẳng định triết lí sống của tác giả.

Câu 3:

Ở hai câu 5, 6, tác giả nói đến chuyện “ăn” và “tắm” một cách đầy thích thú. Theo vòng quay bốn mùa quanh năm, việc “ăn”, “tắm” của “ta” thuận theo tự nhiên, hoà hợp với tự nhiên ; đạm bạc, thanh bần nhưng thú vị, thanh thản.

Món ăn của ông là những thức có sẵn ở ruộng vườn, mùa nào thức nấy. Cuộc sống sinh hoạt của cụ giống như một người nông dân thực thụ, cũng tắm hồ, tắm ao. Hai câu thơ vẽ nên cảnh sinh hoạt bốn mùa của tác giả, mùa bào cũng thong dong, thảnh thơi. Cách sống thanh cao, nhẹ nhàng, bình yên vô cùng.

Câu 4:

Hai câu cuối thể hiện vẻ đẹp trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một bậc thức giả uyên thâm, cũng đã từng vào ra chốn quan trường, đã tận hiểu quy luật biến dịch của cuộc đời, cũng hiểu danh lợi chỉ là phù du, do đó đã phủi tay với vòng danh lợi, tìm sự tĩnh lặng cho tâm hồn, hòa nhập cùng thiên nhiên:

“Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Tác giả bộc lộ thái độ xem thường phú quý, coi chốn quyền danh phú quý chỉ là giấc chiêm bao, không có thực, qua đó khẳng định thêm một lần nữa sự lựa chọn phương châm sống, cách ứng xử của riêng mình.

Câu 5:

Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là trốn tránh sự vất vả để tận hưởng sự nhàn rỗi, cũng không phải là thái độ lánh đời, không quan tâm tới xã hội. Cần hiểu chữ “nhàn” thái độ lánh đời, không quan tâm tới xã hội. Cần hiểu chữ “nhàn” mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nói là thái độ không đua chen trong vòng danh lợi để giữ cốt cách thanh cao, nhàn là về với ruộng vườn để hòa hợp với thiên nhiên, vui thú cùng cây cỏ. Nhàn là làm một lão nông “Một mai, một cuốc, một cần câu” và “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá; Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”, nuôi dưỡng tinh thần trong sự khoáng đạt của tự nhiên. Nguyễn Bỉnh Khiêm nhàn thân nhưng không nhàn tâm. Nên hiểu, dẫu ẩn cư ở ruộng vườn nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn luôn canh cánh trong lòng nỗi lo cho dân, cho nước. Một người bộc trực, thẳng tính, vì lo lắng cho xã tắc đã từng dâng sớ xin vua chém mười tám lộng thần không thể nào trở thành một người vô ưu trước những tình cảnh của dân của nước được. Đặt trong hoàn cảnh chế độ phong kiến đang trên đà khủng hoảng, những giá trị đạo đức đang có biểu hiện suy vi, người hiền không có đất dụng thi quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một quan niệm sống tích cực.

II. Luyện tập

Vẻ đẹp cuộc sống và tâm hồn của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ “Nhàn”

Bài thơ mở đầu bằng những ngôn từ thật vô cùng giản dị:

Một mai, một cuốc, một cần câu Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

Đó là cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, của cụ Trạng. Nó thuần hậu và thanh khiết biết bao. Câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác nguyên sơ của cái thời “nước giếng đào, cơm cày ruộng”. Cuộc sống tự cung tự cấp mà vẫn ung dung ngông ngạo trước thói đời. Hai câu đầu còn là cái tâm thế nhàn tản, thong dong. Nhịp cầu thơ nghe như nhân vật trữ tình đang nhẹ nhàng đếm bước: một… một… một…

Đến hai câu luận nhà thơ lại tiếp tục nhấn thêm một chút tình điệu thôn quê nữa để người đọc cảm nhận thực sự được cái vui của “cuộc sống nhàn”:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

Vẫn là những ngôn từ giản dị, vẫn là những hình ảnh nghệ thuật dân dã, đời thường, vậy mà hai câu thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm “sang trọng” biết bao. Nó chăng những không gợi ra vẻ gì khắc khổ mà còn toát lên toàn bộ vẻ thanh cao. Thanh cao trong cách ăn uống sinh hoạt và cả trong cái niềm thích thú khi được hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên.

Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm là thế, rất giản dị, rất tự nhiên mà vẫn thanh cao và thú vị vô cùng.

Nếu chỉ đọc bốn câu thơ miêu tả về cuộc sống, chúng ta có thể nghĩ ngay đến hình ảnh một bậc danh nho đang muốn lánh đời. Thế nhưng trở về với hai câu thực, chúng ta sẽ hiểu hơn cái quan niệm “lánh đời” của nhà thơ:

Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ Người khôn, người đến chốn lao xao.

Vậy ra, Tuyết Giang phu tử về với thiên nhiên là để thoát ra khỏi vòng danh lợi, thoát ra khỏi chốn nhiễu nhương đầy những ganh tị, bon chen. Hai câu thơ diễn ý bằng nói ngược. Vì thế nó tạo cho người đọc một liên tưởng thật hóm hỉnh, sâu cay. Câu thơ đúng là trí tuệ sắc sảo của một bậc đại quan – trí tuệ để nhận ra cái khôn và cái dại thật sự ở đời.

Hai câu thơ kết khép lại bằng một phong thái ung dung tự tại:

Rượu đến cội cây, ta sẽ uống Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

Hai câu thơ chẳng biết đang vẽ cảnh đời hay tiên cảnh. Ở đó nhân vật trữ tình cũng không biết đang tình hay mơ. Tất cả cứ hòa cùng làm một dưới cái nhãn quan tỏ tường và thông tuệ của nhà thơ.

Soạn Bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Soạn bài: Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Bố cục:

– Hai câu thơ 1, 2: Thú vui tao nhã của thi nhân khi ở ẩn.

– Hai câu thơ 3, 4: Quan điểm của nhà thơ về “dại”, “khôn” ở đời.

– Hai câu thơ 5, 6: Cuộc sống an nhàn, bình dị của thi nhân.

– Hai câu thơ cuối: Triết lý sống nhàn của thi nhân.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 129 sgk Văn 10 Tập 1):

– Số từ “một” được lặp lại ba lần, đi cùng với ba danh từ “mai”, “cuốc”, “cần câu” như tái hiện nhịp đếm của con người.

– Nhịp điệu hai câu thơ đầu thay đổi linh hoạt: câu 1 ngắt nhịp 2/2/2, câu 2 ngắt nhịp 4/3 quen thuộc.

– Nhà thơ đang sống một cuộc sống nhàn tản, với thú vui tao nhã, lánh xa khỏi những ồn ã của cuộc sống phồn hoa, tấp nập, đầy bon chen bên ngoài.

Câu 2 (trang 129 sgk Văn 10 Tập 1):

– Nơi “vắng vẻ”: là nơi mà tác giả đang ở ẩn, nơi xa lánh những lo toan, bon chen vật chất của cuộc sống.

– Chốn “lao xao”: nơi trái ngược với nơi tác giả đang ở, là cuộc sống ngoài kia với đầy rẫy những bon chen.

– Quan điểm về “dại”, “khôn” của tác giả được thể hiện bằng cách nói trái ngược. Dựa trên câu chữ, chọn cuộc sống ở chốn an tĩnh, lánh đời như tác giả là dại, đắm mình vào chốn xô bồ là khôn, nhưng thực chất quan điểm của tác giả ngụ ý điều ngược lại.

– Nghệ thuật đối rất chỉnh giữa hai câu 3 và 4 đã tách bạch rõ hai kiểu sống đối lập, làm bật nổi quan điểm sống của thi nhân.

Câu 3 (trang 129 sgk Văn 10 Tập 1):

– Mỗi mùa có một loại sản vật khác nhau, dân dã, bình dị.

– Khung cảnh sinh hoạt hết sức bình dị, đơn giản.

– Điều này cho thấy một cuộc sống đạm bạc mà thanh cao, an tĩnh, hòa hợp với tự nhiên.

– Hai câu thơ sử dụng phép liệt kê, liệt kê bốn mùa trong năm gắn với những sản vật thiên nhiên đặc trưng. Phép liệt kê ấy gợi ra dòng chảy của cuộc sống qua bốn mùa. Bên cạnh phép liệt kê, tác giả còn sử dụng cách ngắt nhịp 4/3 quen thuộc, đều đặn thể hiện phong thái ung dung tự tại của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Câu 4 (trang 130 sgk Văn 10 Tập 1):

– Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có cốt cách thanh cao, sống vượt lên trên danh lợi. Đối với ông, phú quý chỉ là chiêm bao, sẽ chóng tan biến đi, thứ niềm vui mà nó mang lại chỉ là nhất thời. Tác giả đối với phú quý lợi lộc thì xem nhẹ tựa lông hồng, không màng tới, không bận tâm.

Câu 5 (trang 130 sgk Văn 10 Tập 1):

– Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là xa lánh nơi quyền quý để giữ cốt cách thanh cao, là hòa hợp với tự nhiên.

– Đó là quan niệm sống tích cực. Bởi vì đây không phải là thói sống ích kỷ, chỉ giữ những điều tốt đẹp cho riêng mình. Hơn nữa, Nguyễn Bỉnh Khiêm một đời chính trực, sáng suốt nhưng tại không can gián được triều đình vậy nên mới tìm cách quy ẩn chứ không phải là lánh đời vì sợ thiệt thân.

Luyện tập

– Cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm là một thái độ một phản ứng với thời cuộc náo loạn, nhiều thị phi lúc bấy giờ. Ông chọn cách quy ẩn là bởi muốn gìn giữ cốt cách thanh cao của mình, không muốn để bản thân mình phải sa vào vòng xoáy của đua tranh, quyền bính. Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà nho có nhân cách thanh cao, không màng danh lợi.

Nhận xét – Ý nghĩa

Qua bài thơ, học sinh hiểu đúng đắn về quan niệm sống nhàn và cảm nhận được vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đồng thời học sinh nhận ra được sự kết hợp giữa trữ tình và triết lí cùng cách nói ẩn ý, thâm trầm và sâu sắc trong ngòi bút của nhà thơ.

Soạn Bài Nhàn Lớp 10 Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Đề Bài: Soạn Bài Nhàn Lớp 10 Của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bài Làm

Câu 1:

“Một mai/một cuốc/một cần câu

Thơ thẩn dầu ai/ vui thú nào”

Trong câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng số từ một cùng với phép điệp. Với cách sử dụng số đếm rất linh hoạt, nhịp thơ ngắt nhịp đều đặn 2/2/3 kết hợp với hình ảnh những dụng cụ lao động nơi làng quê: mai, cuộc, cần câu cho ta thấy những công cụ cần thiết của cuộc sống thôn quê từ đó thấy được một cuộc sống giản dị không lo toan vướng bận của một danh sĩ ẩn cư nơi ruộng vườn, ngày ngày vui thú với cảnh nông thôn. Hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời kỳ phòng kiến ngày xưa nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường về với đồng quê như thế này. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Dù ngoai kia người ta vui vẻ nơi chốn đông người thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏ mặc để “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại. Cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Câu 2:

– “Nơi vắng vẻ” là nơi yên tĩnh giữa thiên nhiên trong lành.

– “Chốn lao xao”: Chốn ồn ào, sang trọng, quyền thế, ngựa xe tấp nập, kẻ hầu, người họ, thủ đoạn bon chen…

Ở hai câu thơ này tác giả sử dụng cách nói ngược nghĩa, đùa vui ẩn chứa triết lý nhẹ nhàng mà thấm thía. Dại mà khôn, khôn mà dại (khôn mà hiểm độc là khôn dại / dại vốn hiền lành ấy dại khôn).

Nghệ thuật đối: “ta” đối với “người”, “dại” đối với “khôn”, “nơi vắng vẻ” đối với “chốn lao xao”. Ta tìm nơi vắng vẻ tức tìm đến sự tĩnh lặng của tự nhiên, tìm đến sự yên tĩnh trong tâm hồn, không bon chen, không cầu canh; còn người tìm đến chốn lao xao là tìm đến chốn quan trường, tuy sang trọng, quyền quý, song phải bon chen, đối chọi, cảnh giác… Nghệ thuật đối tạo sự so sánh giữa hai cách sống, qua đó khẳng định triết lí sống và nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Câu 3:

“Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”.

Hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài long. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được.

Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau. Đó là cuộc sống đạm bạc, thanh cao với thức ăn dân dã như măng trúc, giá đỗ. Sinh hoạt cũng bình thường, dân dã như mọi người tắm hồ, tắm ao. Cuộc sống đạm bạc mà không khắc khổ. Đạm bạc mà thanh nhã. Đó là cuộc sống chan hoà với thiên nhiên.

Câu 4:

“Rượu đến cội cây ta sẽ uống

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng. Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. phú quý chỉ là phù vân chỉ có thiên nhiên và nhân cách con người là tồn tại vĩnh hằng.

Câu 5:

Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhằm mục đích trốn tránh vất vả, cực nhọc về thể chất, quay lưng với xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân, ông cho rằng sống nhàn là xa lánh nơi quyền quý, danh lợi mà ông gọi là chốn lao xao. Nhàn là sống hoà hợp với tự nhiên, về với tự nhiên để tu tâm dưỡng tính. Nguyễn Bĩnh Khiêm nhàn thân mà không nhàn tâm, lúc nào cũng canh cánh nỗi niềm thương nước lo dân. Đặt trong hoàn cảnh xã hội phong kiến đương thời đã có những biểu hiện suy vi về đạo đức thì quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm mang nhiều yếu tố tích cực.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm – Ngữ Văn 10 Tập 1 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!