Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 4 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu (1882 – 1888), ông là một người rất tài năng, nhưng do những năm 50 ông bị mù nên đã về quê dạy học ở Gia Định.

2. Tác phẩm

* Hoàn cảnh sáng tác: Truyện Lục Vân Tiên được sáng tác vào khoảng đầu những năm 50 của thế kỉ XIX.

* Thể loại: Tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên thuộc thể loại truyện thơ Nôm bác học nhưng mang nhiều tính dân gian.

3. Đoạn trích Lẽ ghét thương

Đoạn trích Lẽ ghét thương là đoạn thơ trích từ câu 473 đến câu 504 của Truyện Lục Vân Tiên, kể lại cuộc đối thoại giữa ông Quán và bốn chàng nho sinh (Vân Tiên, Từ Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm) khi họ cùng uống rượu, làm thơ trong quán của ông trước lúc vào trường thi.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

Điểm chung giữa những đời vua mà ông Quán ghét và những con người mà ông Quán thương:

* Những đời vua mà ông Quán ghét: đời Kiệt, đời Trụ, U, Lệ, đời Ngũ bá thời Xuân Thu, đời thúc quý.

* Những con người mà ông Quán thương: đức thánh nhân, thầy Nhan Tử, ông Gia Cát, thầy Đồng Tử, người Nguyên Lượng, ông Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc.

Câu 2:

Cách dùng phép đối và phép điệp ở cặp từ ghét – thương trong đoạn thơ này:

Câu 3:

Dựa vào cảm xúc của tác giả, giải thích câu thơ ở phần đầu đoạn trích:

Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

Câu thơ mang tính chất triết lý, đạo đức mà giàu chất trữ tình và dạt dào cảm xúc. Đó là biểu hiện của sự trong sáng, phân minh và sâu sắc trong tâm hồn tác giả.

Thương và ghét là hai tình cảm có mối quan hệ khăng khít với nhau không thể tách rời. Càng yêu thương nhân dân, càng tiếc thương cho những con người tài đức thì tác giả lại càng căm ghét những kẻ hại dân, hại đời.

Tình cảm thương, ghét cứ đan xen nối tiếp nhau, hòa cùng một nhịp với cuộc đời, với nhân dân. Đó chính là tư tưởng tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Soạn Văn 11 Ngắn Nhất Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên)

Câu 1: Tìm điểm chung giữa những đời vua mà ông Quán thương ghét và giữa những con người mà ông Quán thương. Từ đó có nhận xét về cơ sở của Lẽ ghét thương theo quan điểm đạo đức của Nguyễn Đình Chiểu.

Câu 2: Cách dùng phép đối và phép điệp ở từ ghép thương trong đoạn thơ này. Tìm hiểu giá trị nghệ thuật của biện pháp tu từ đó

Câu 3: Dựa vào cảm xúc của tác giả, hãy giải thích thích câu thơ: Vì chưng hay ghét cũng là hay thương

Luyện tập

Câu 1: Theo anh (chị) câu thơ nào trong đoạn trích có thể thâu tóm toàn bộ ý nghĩa tư tưởng và tình cảm của cả đoạn? Hãy viết đoạn văn trình bày cảm nhận của mình về câu thơ đó.

Câu 1: Điểm chung giữa những đời vua mà ông Quán thương ghét và giữa những con người mà ông Quán thương:

Những điều ông Quán ghét: ăn chơi, hoang dâm vô độ, tranh quyền, đoạt lợi, không quan tâm đến chính sự đang rối ren, không nghĩ đến đời sống lầm than cực nhọc của dân

Những điều ông Quán thương: thương những người có tài cao chí cả, muốn cứu đời, giúp dân nhưng lại gặp rủi ro, bất hạnh nên không thực hiện được chí hướng

Cơ sở của Lẽ ghét thương: vì thương nên ghét, hai mặt tình cảm đối lập nhưng xuất phát từ lòng thương dân sâu sắc.

Câu 2: Cách dùng phép đối: hay ghét – hay thương; thương ghét – ghét thương; ghét ghét – thương thương; lại ghét – lại thương

Ý nghĩa: biểu hiện sự đắn đó trong cách hành động của tác giả trước cuộc sống.

Cách dùng phép lặp: vận dụng linh hoạt hai từ ghét – thương lặp lại 12 lần

Ý nghĩa: biểu hiện nổi bật và phân minh hai tình cảm trong tâm hồn tác giả: ghét và thương rành rọt, không mập mờ, lẫn lộn

Câu 3: Giải thích “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”

Hai trạng thái tình cảm yêu ghét khác nhau

Niềm thương xót với nhân dân của một vị anh hùng có tài đức và có tấm lòng yêu thương dân chúng cao cả

Căm ghét những người hại dân

Luyện tập

Câu 1: Câu thơ có thể thâu tóm toàn bộ tư tưởng và tình cảm trong đoạn trích:

“Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”

Đoạn văn tham khảo

Tác giả đã đặt hai trạng thái tình cảm, cảm xúc hoàn toàn trái ngược trong một câu thơ giúp con người ta có thể nhìn nhận rõ hơn về lẽ yêu, lẽ ghét của ông quán. Chứng kiến cảnh tượng dân lầm than, đói khổ trong khi vua chúa, quan lại ăn chơi tráng tác, sa hoa lãng phí thì phàm là những người yêu nước thương dân không ai có thể ngồi yên được. Càng thương dân bao nhiêu thì nỗi căm ghét với xã hội và tầng lớp quan lại quý tộc bấy nhiêu. Cũng như thế, những con người đức hạnh, thương dân càng được nể trọng, yêu quý bao nhiêu thì những kẻ tầm phào, dốt nát, sĩ diện lại càng bị ghét bỏ, ruồng rẫy bấy nhiêu. Trái tim con người có những cung bậc cảm xúc rất đa dạng, phức tạp cho nên hai tình cảm yêu – ghét cứ đan cài, nối tiếp nhau hòa cùng nhịp đập với cuộc đời, với nhân dân, bởi “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Đó chính là đỉnh cao tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Đình Chiểu.

Câu 1: Ông Quán ghét quan lại ăn chơi, hoang dâm vô độ, tranh quyền, đoạt lợi, không quan tâm đến chính sự đang rối ren, không nghĩ đến đời sống lầm than cực nhọc của dân. Ông thương những người có tài cao chí cả, muốn cứu đời, giúp dân nhưng lại gặp rủi ro, bất hạnh nên không thực hiện được chí hướng.

Câu 2: Phép đối (hay ghét – hay thương; thương ghét – ghét thương; ghét ghét – thương thương; lại ghét – lại thương) là sự đắn đó trong cách hành động của tác giả trước cuộc sống. Phép lặp vận dụng linh hoạt hai từ ghét – thương lặp 12 lần đã phân minh hai tình cảm trong tâm hồn tác giả, ghét và thương rành rọt.

Câu 1: Điểm chung điểm chung giữa những đời vua mà ông Quán thương ghét và giữa những con người mà ông Quán thương cho thấy:

Vì thương nên ghét. Đây là hai mặt tình cảm đối lập nhưng xuất phát từ lòng thương dân sâu sắc

Câu 2: Bài thơ đã vận dụng 2 phép đối và phép lặp để làm tăng cường độ của cảm xúc yêu thương và căm ghét đều đạt đến độ tột cùng, đều hết sức nồng nhiệt và sự đắn đó trong cách hành động của tác giả

– Niềm thương xót đời sống nhân dân

– Căm ghét những người hại dân

Luyện tập

Câu 1: Câu thơ có thể thâu tóm toàn bộ tư tưởng và tình cảm trong đoạn trích:

“Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”

Đặt hai trạng thái tình cảm, cảm xúc hoàn toàn trái ngược trong một câu thơ

Giúp con người ta có thể nhìn nhận rõ hơn về lẽ yêu, lẽ ghét của ông quán

Hướng Dẫn Soạn Bài : Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên)

(Trích Truyện Lục Vân Tiên)

1. Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) sinh tại làng Tân Thới, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định, mất tại Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu khá lận đận. Lớn lên và theo đuổi nghiệp khoa cử vào lúc xã hội loạn lạc, đất nước rơi vào hoạ xâm lăng, bản thân lại mù loà từ năm 25 tuổi. Bỏ dở nghiệp thi cử, ông chuyển sang học thuốc, làm nghề bốc thuốc chữa bệnh và mở trường dạy học.

2. Truyện Lục Vân Tiên là truyện thơ, được viết dưới hình thức thơ lục bát. Truyện Nôm là thể loại văn học khá phát triển trong lịch sử văn học Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX. Đó là những thành tựu đáng tự hào của nền văn học dân tộc.

3. Đoạn trích Lẽ ghét thương (từ câu 473 đến câu 504 của tác phẩm) là lời của một nhân vật trong truyện, đó là nhân vật ông Quán trong cuộc đàm đạo giữa ông và các nho sĩ trẻ tuổi. Từ “ghét” “thương” ở đây cũng không đơn giản là chỉ tình cảm đối với một ai đó. Chuyện ghét thương được nhìn nhận bằng quyền lợi của nhân dân. Quan điểm yêu ghét của ông Quán chính là quan điểm của tác giả, nhà thơ, nhà văn, ông đồ Nguyễn Đình Chiểu.

Nhân vật chính của tác phẩm là Lục Vân Tiên, một chàng trai văn võ song toàn. Cháng đã đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Nguyệt Nga nguyện lấy chàng để trả nghĩa. Trên đường đi thi, Lục Vân Tiên nghe tin mẹ mất, chàng phải quay về chịu tang. Chàng khóc thương mẹ đến mà cả hai mắt. Chàng bị Trịnh Hâm ghen ghét đố kị, lừa đẩy chàng xuống sông nhưng chàng được cứu thoát. Võ Thể Loan đã hứa gả con gái cho chàng nay thấy chàng bị mù liền trở mặt, đẩy chàng vào hang sâu. Chàng đã đựoc thần Phật cứu giúp, mắt sáng trở lại, rồi đỗ trạng nguyên, được cử đi đánh giặc Ô Qua. Kiều Nguyệt Nga quyết chung thuỷ với Vân Tiên. Thái sư bắt nàng đi cống cho giặc. Nàng nhảy xuống sông tự vẫn ôm theo bức hình Vân Tiên. Nàng được cứu sống, lại bị cha con Bùi Kiệm ép duyên, nàng bỏ trốn. Tác phẩm kết thúc có hậu, Vân Tiên thắng trận trở về gặp Nguyệt Nga, hai người kết nghĩa vợ chồng.

1. Vì chưng hay ghét cũng là hay thương ý nói: Biết ghét là vì biết thương. Vì thương dân nên ghét những kẻ làm hại dân. Đây là câu nói có tính chất khái quát tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu trong cả đoạn trích. Tác giả đã lí giải căn nguyên chuyện ghét thương của mình.

2. Ông Quán ghét những kẻ đã bày ra “chuyện tầm phào”. Đó là những nhân vật nổi tiếng tàn ác: Kiệt Trụ mê dâm, U lệ đa đoan, Ngũ bá phân vân, thúc quý phân băng. Hai nhân vật nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử phong kiến Trung Hoa thời cổ đại. Những tên vua tàn ác mà tên tuổi đều gắn với những giai thoại về sự độc ác khôn cùng. Tiếp đến là hai thời kì đen tối của lịch sử Trung Hoa. Kẻ cầm quyền tranh giành quyền lực đẩy nhân dân vào nạn binh đao. Kẻ thì ăn chơi, hưởng thụ sa đoạ, người thì say sưa tranh giành quyền lục nhưng tất cả bọn chúng đều gây ra một hậu quả chung là đẩy nhân dân vào cuộc sống vô cùng khổ cực. Ông Quá ghét những kẻ làm nhân dân phải chịu khổ cực. Cả bốn câu ông đều nhắc đến dân, nhắc đến những hậu quả mà nhân dân lao động phải chịu: dân “sa sầm sẩy hang”, dân chịu “lầm than”, dân “nhọc nhằn” và “lằng hằng rối dân”. Đối tượng ghét là tất cả những gì có hại cho nhân dân. Mức độ ghét cũng rất dứt khoát, rõ ràng và quyết liệt, thể hiện thái độ không khoan nhượng, không dung tha đối với điều xấu.

3. Đối tượng “thương” là nhân vật cụ thể, những bậc hiền tài một lòng giúp đời, giúp dân. Đó là: Khổng Tử, Nhan Tử, Gia Cát, Đổng Tử, Đào Tiềm, Hàn Dũ, Liêm, Lạc. Họ đều là những con người nổi tiếng về tài và đức song lại gặp toàn chuyện không may mắn. Họ đều là người có nhân cách cao cả, đều hết lòng thương yêu dân chúng, sống trọn đạo bề tôi, giữ vững phẩm cách của nhà Nho. Đối tượng “thương” đều là những người tài đức vẹn toàn. Thái độ thương ở đây bao gồm cả sự cảm thông, trân trọng, kính phục của tác giả và cũng là sự tự thương mình của ông Đồ Chiểu.

4. Nhà thơ đã mượn chuyện bàn luận về ghét thương, về lịch sử để thể hiện thái độ của mình đối với cuộc đời. Việc ghét thương gắn chặt với quyền lợi của nhân dân lao động. Việc dẫn toàn những chuyện của sử sách Trung Quốc có ngụ ý nói về xã hội Việt Nam thời nhà Nguyễn. Những chuyện ghét thương ấy là bóng dáng hiện thực xã hội mà tác giả phải chứng kiến. Dùng chuyện lịch sử để nói chuyện hiện thực là cách để tư tưởng và tâm sự của tác giả có thể tự do giãi bày.

5. Tác giả đã sử dụng rất thành công các phương tiện ngôn ngữ như điệp từ, từ láy, thành ngữ, tiểu đối để thể hiện thái độ ghét thương rất rõ ràng, dứt khoát và quyết liệt của mình. Đặc biệt nhà thơ đã sử dụng rất hiệu quả biện pháp nghệ thuật điệp từ ghét, thương và các từ ngữ biểu cảm như: ghét cay ghét đắng, sa sầm sẩy hang, lằng nhằng rối dân, phui pha, ngùi ngùi,…

1. Về tác phẩm (Truyện Lục Vân Tiên)

“Và cái trữ tình trong Lục Vân Tiên thật đáng mến, đáng yêu, một chất trữ tình đôn hậu mà không thiếu bề sâu sắc. Ta hãy thử lấy một ví dụ thôi, đó là chung quanh bức tượng của Nguyệt Nga vẽ Vân Tiên. Truyện Lục Vân Tiên sau khi mở đầu bằng một cảnh dân chạy giặc, thì bắt đầu ngay một câu chuyện tình giữa Kiều Nguyệt Nga và Lục Vân Tiên; cái chí tình của Nguyệt Nga, ngay những lúc đầu, đã làm cho người đọc cảm động. Việc Nguyệt Nga nhớ Vân Tiên, vẽ ra thành một bức tượng hình Vân Tiên, và từ đó không rời bức tượng nữa, là một điển hình ai ai cũng nhớ từ đó về sau, hễ có Nguyệt Nga là có bức tượng Vân Tiên, Nguyệt Nga tượng trưng cho sự chung tình, lòng chung thủy. Hình ảnh Nguyệt Nga rất trong trẻo, rất đáng quý mến; người con gái ấy thông minh, biết suy nghĩ, biết xử sự hợp nghĩa, hợp tình. Bức tượng Vân Tiên đã thành một điệp khúc trong truyện thơ. Khi bắt đầu vẽ tượng:

Làu làu một tấm lòng thành,

Hóa ra một bức tượng hình Vân Tiên

Cái tình yêu muôn thuở của con người, khi thì nó hóa ra dệt gấm, như chức cẩm hồi văn của nàng Tô Huệ, khi thì nó ẩn trong tiếng đàn, như chuyện nàng Kiều, khi nó hóa thành những bài thơ như trong Tình sử, khi nó hóa thành một bức chân dung hồi kí như chuyện Kiều Nguyệt Nga.

Lục ông đến thăm Kiều công, cha của Nguyệt Nga, cho biết tin đồn vang là Vân Tiên đã chết. Nghe tin đó:

Nguyệt Nga đứng dựa bên phòng,

Tay ôm bức tượng khóc ròng như mưa.

… Khi Nguyệt Nga được vớt lên, cùng vớt liền với bức tượng. Đến khi vào ở nhà Bùi Ông, không ở được, bởi con là “Bùi Kiệm máu dê”, phải trốn ra đi, thì cũng:

Dán trong vách phấn một tờ,

Vai mang bức tượng kíp giờ ra đi.

Đến lúc tái hợp Vân Tiên- Nguyệt Nga cũng là nhờ bức tượng Vân Tiên:

Hỏi rằng bức ấy tượng chi,

Khen ai khéo vẽ dung nghi giống mình.

Như vậy, Nguyệt Nga với bức tượng là một điển hình của tình yêu chung thủy; tâm sự Nguyệt Nga, chung quanh Nguyệt Nga, đã làm nảy bao câu trữ tình đôn hậu và sâu sắc ở ngòi bút Đồ Chiểu”.

(Mấy vấn đề về cuộc đời và thơ văn

Nguyễn Đình Chiểu (Tái bản).

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, tr.45-47)

2. Về đoạn trích “Quán rằng: ghét việc tầm phào, Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.” Chính thái độ yêu ghét dứt khoát mãnh liệt ấy đã tạo cho truyện Lục Vân Tiên một tinh thần đấu tranh, một tinh thần phấn khởi lôi kéo người đọc… … Thương và ghét đều vì nhân dân. Làm lợi cho dân thì thương, làm hại cho dân thì ghét: Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm … Sớm đầu tối đánh lằng nhằng rối dân. … Nguyễn Đình Chiểu cũng đứng trên lập trường nhân nghĩa của nhân dân mà có một thái độ dứt khoát: yêu và ghét, “Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm”… Thái độ thật dứt khoát ấy được xây dựng trên một lý tưởng vững chắc bền bỉ, không gì lay chuyển nổi. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga tiêu biểu cho cái lý tưởng ấy. Trong truyện Lục Vân Tiên mỗi nhân vật chính diện đều theo đuổi một lý tưởng như vậy”. Vũ Đình Liên (Mấy vấn đề về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Sđd)

Soạn Bài Lẽ Ghét Thương Trích Truyện Lục Vân Tiên Của Nguyễn Đình Chiểu

Soạn bài Lẽ ghét thương trích truyện lục vân tiên của Nguyễn Đình Chiểu

1. Tác giả, tác phẩm.

– Nguyễn Đình Chiểu( 1882-1888), tự mạnh trạch hiệu phủ ứng trai, ông là một người rất tài năng, nhưng do những năm 50 ông bị mù vì vậy ông đã về quê dạy học ở Gia Định.

2. Chủ đề của tác phầm:

– Tác phẩm đề cập đến cái thiện và cái ác cái chính nghĩa và cái phi nghĩa, đề cao tinh thân nhân nghĩa và khát vọng độc lập dân tộc.

3. Phân tích tác phẩm.

3.1.Ông quán bàn về lẽ ghét thương.

+Những điều ông Quan ghét:

– Ông là một người chính nghĩa luôn biết lo cho dân cho nước mở đầu bài ông đã nêu lên quan điểm ghét thương của mình, ông rất ghét những chuyện vu vơ tầm phào không có lợi ích cho dân cho nước, một người phục vụ cho sự nghiệp của dân tộc luôn lấy tinh thần trọng nghia là chính.

Hàng loạt những câu thơ tiếp theo ông đã nói về nổi ghét của mình để cho dân chúng lầm than xa chân lỡ bước, để dân nhọc nhằn, những lời ghét của ông đã bộc lộ một chế độ cai trị thối nát, ăn chơi, vô độ hoang dâm tà, không lo gì tới lợi ích của nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu là một người rất chính trực ông đã nêu rõ quan điểm của mình, phê phán bọn cai trị thối tha, để khiến dân thường phải chịu những đau khổ, những điều mà ông Quán ghét đó là những gì ảnh hưởng tới lợi ích của nhân dân.

+ Những điều ông Quan thương:

Ông thương cho dân chúng lầm than, ông thương những bậc hiền tài luôn phải chịu những lận đận ví dụ như Gia Cát Lượng tài trí nhưng không gặp thời vận, Đào Uyên Minh không chịu luồn cúi quan trên lùi về ở ẩn, Nguyễn Trãi cũng như vậy… toàn những người có đức và có tài những đều gặp những đau thương, ông quan thương cho những nhân vật đó, và chính bản thân ông cũng muốn phụng sự cho đất nước rất nhiều những gặp bất hạnh ông đã bị mù và phải lui về dạy học, những người tài chí phải chịu những bất hạnh chua được đóng góp công sức của mình nhiều cho đất nước đây là một mong ước rất chính đáng của những người chính nghĩa.

3.2. Cách dùng phép đối, phép điệp ở cặp từ ghét- thương trong đoạn thơ.

Tác giả đã rất thành công trong việc nêu ra quan điểm ghét thương của mình mở đầu bài thơ là hàng loạt những lý do mà ông ghét tiếp theo cũng là những câu thơ bộc lộ những niềm xót thương của ông.

Biện pháp đối bằng nhau đã được tác giả sử dụng nếu 10 câu thơ đầu có 8 câu ghét được tác giả sử dụng thì tiếp theo cũng 8 câu thương cũng được tác giả sử dụng, tác giả ghét vì những tên quan làm hại dân chúng để cho dân chúng đau khổ lầm than, tiếp theo tác giả lại thương cho những vị anh hùng thánh nhân có tài năng nhưng lại phải chịu những đau thương bất hạnh, tác giả cũng đau xót cho chính bản thân mình.

Hàng loạt những câu thơ được sử dụng với những ý nghĩa rất rõ dàng qua đây chúng ta thấy được tinh thần vì dân vì nước của ông, một vị anh hùng cao cả của dân tộc luôn vì nước vì dân vì sự nghiệp lớn của đất nước, những phép đối lập và cả những cung bậc cảm xúc dối lập nhau được hiện lên thật đậm nét lòng căm thù của tác giả rất lớn và hững xót thương cũng rất dạt dào cảm xúc.

3.3 Ý nghĩa của câu thơ: Vì chưng hay ghét cũng là đau thương.

Con người luôn có những cũng bậc cảm xúc riêng, và những luân lý luân thường đó là nỗi ghét và niềm thương xót, một vị anh hùng có tài đức và có tấm lòng yêu thương dân chúng cao cả do có tấm lòng thương dân nên tác giả đã căm ghét những người hại dân, đó là những điều rất bình thường trong một con người có chí khí và khí phách luôn bảo vệ cho lợi ích của nhân dân.

3.4. Đặc sắc nghệ thuật được tác giả sử dụng:

Tác giả đã sử dụng hàng loạt những điển tích điển cố nhằm nêu cao tinh thần vì dân vì nước những lời lẽ rất rõ dàng và đầy cảm xúc, những câu thơ nói về nỗi ghét thì mang đầy cảm xúc căm giận, những câu thơ về lẽ thương thì cảm xúc lại dạt dào và đầy cảm xúc.

Tác giả dã rất thành công trong việc sử dụng biện pháp đối trong câu nó làm tăng thêm giá trị nghệ thuật cho tác phẩm.

Ngôn ngữ mà tác giả sử dụng mang đầy cảm xúc một con người chính nghĩa không trực tiếp đấu tranh để bảo vệ cho nhân dân nhưng những lời văn của ông có giá trị tố cáo sâu sắc.

Ngôn từ mộc mạc không trau chuốt gần gũi với nhân dân, lời nói và ngôn ngữ trong văn của ông thấm đậm chất dân tộc.

Theo chúng tôi

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Lẽ Ghét Thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên) – Ngữ Văn 11 Tập 1 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!