Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Lao Xao – Ngữ Văn 6 Tập 2 # Top 4 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Lao Xao – Ngữ Văn 6 Tập 2 # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Lao Xao – Ngữ Văn 6 Tập 2 được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (mời các em tham khảo SGK Ngữ văn 6 Tập 2)

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Lao xao được trích từ tác phẩm Tuổi thơ im lặng của nhà văn Duy Khán, được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1987.

* Tóm tắt:

Trời chớm vào hè, cây cối um tùm, tỏa ngát hương hoa, ong bướm nhộn nhịp bay nhảy. Thế giới của các loài chim ở đồng quê hiện lên sinh động với đa dạng các loài chim. Chim Bồ các thì to mồm, chị Điệp nhanh nhảu. Rồi cả sáo sậu, sáo đen, tu hú, chim ngói, chú chim nhạn hiền lành, gần gũi với con người. Bìm bịp thì lại suốt ngày rúc trong bụi cây, chim diều hâu hung ác đuổi bắt gà con, quạ lia lia láu láu dòm chuồng lợn, chim chèo bẻo kẻ cắp nhưng hung hăng, thích đánh nhau, đánh cả diều hâu lẫn quạ. Rồi có cả chim cắt hung dữ đến mức không một loài chim nào trị được thế mà bị chèo bẻo đánh cho ngắc ngoải.

* Bố cục:

Văn bản Lao xao có thể được chia làm 2 đoạn:

Đoạn 2: còn lại: Miêu tả thế giới các loài chim.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

*  Bài văn tả và kể về các loài chim ở làng quê theo trình tự từng nhóm loài gần nhau.

a) Những loài chim được nói đến trong bài văn: bồ các, chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú, quạ đen, diều hâu, quạ khoang, bìm bịp, chim cắt, chèo bẻo.

b) Các loài chim hoàn toàn được sắp xếp theo từng nhóm loài gần nhau, cụ thể: nhóm chim hiền, nhóm chim dữ và lũ chim ác.

c) Có thể nhận xét, lời kể của tác giả trong bài văn rất tự nhiên. Cách tả mỗi con vật đều rất độc đáo, rất đặc trưng cho hoạt động của mỗi loài. Không những thế, cách xâu chuỗi hình ảnh và chi tiết rất hợp lý và bất ngờ. Đặc biệt, mặc dù mục đích chính của bài văn là miêu tả thiên nhiên, miêu tả về thế giới loài chim, nhưng cảm giác lý thú và tự nhiên mà người đọc cảm nhận được chính là nhờ cảnh đó được miêu tả qua con mắt và trí tưởng tượng của một cậu bé.

Câu 2:

a) Những loài chim được miêu tả:

Chim Bồ các: tiếng kêu các các, vừa bay vừa kêu cứ như là bị ai đuổi đánh

Diều hâu: có cái mũi khoằm, đánh hơi tinh lắm

Chim cắt: cánh nhọn như dao bầu chọc tiết lợn

b) Tác giả kết hợp kể và tả trong môi trường sinh sống, trong những hoạt động của chúng và trong mối quan hệ với những loài khác:

Chim Bìm bịp kêu thì chim ác mới ra mặt

Nhạn vùng vẫy tít mây xanh “chéc chéc”

Tu hú đến khi mùa vải chín, khi quả hết, nó bay đi đâu biệt

c) Qua việc miêu tả những loài chim, cho thấy tài quan sát của tác giả rất nhạy bén, tỉ mỉ, vốn hiểu biết phong phú về những loài chim ở làng quê. Đồng thời, chúng ta cũng cảm nhận được tình cảm yêu mến và gắn bó với thiên nhiên, với làng quê của tác giả. Đặc biệt hơn khi nhà văn vẫn giữ nguyên vẹn cho mình cái nhìn và những cảm xúc hồn nhiên của tuổi thơ khi kể và tả về thiên nhiên làng quê.

Câu 3:

Trong bài có sử dụng nhiều chất liệu văn hóa dân gian như thành ngữ, đồng dao, truyện cổ tích:

Thành ngữ: Kẻ cắp gặp bà già; Dây mơ, rễ má; Lia lia láu láu như quạ vào chuồng lợn

Đồng dao: Bồ các là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu. Sáo sậu là cậu sáo đen. Sáo đen là em tu hú. Tu hú là chú bồ các…

Truyện cổ tích: Sự tích chim bìm bịp, sự tích chim chèo bẻo

Cách cảm nhận đậm chất dân gian về những loài chim trong bài đã tạo nên sự sinh động trong lời kể, giúp cho mạch văn phát triển một cách tự nhiên và gần gũi với con người. Tuy nhiên, trên thực tế, những quan niệm dân gian ấy, bên cạnh nét hồn nhiên, chất phác, nét tự nhiên, gần gũi, thì không phải không có những hạn chế của cách nhìn mang tính định kiến và thiếu căn cứ khoa học. Ví dụ như từ sự tích chim bìm bịp mà cho rằng chỉ khi con chim này kêu thì những loài chim ác, chim dữ mới xuất hiện,…

Câu 4:

Bài văn Lao xao đã mang đến cho em những hiểu biết rất thú vị về các loài chim. Cho em hiểu rõ hơn về đặc điểm, tập tính, hình dáng của một số loài chim mà em chưa biết tới. Qua đó, giúp cho mỗi chúng ta ý thức hơn trong việc giữ gìn và trân trọng những vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh sắc quê hương Việt Nam.

3.4

/

5

(

184

bình chọn

)

Soạn Bài Lòng Yêu Nước; Lao Xao Sbt Ngữ Văn 6 Tập 2

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 trang 62 Sách bài tập (SBT) Ngữ văn 6 tập 2. Câu 1. Đọc đoạn đầu của bài Lòng yêu nước (Từ đầu đến “lòng yêu Tổ quốc”) và cho biết:

Bài tập

1. Đọc đoạn đầu của bài Lòng yêu nước (Từ đầu đến “lòng yêu Tổ quốc”) và cho biết:

a) Trình tự lập luận của đoạn văn, câu mở đầu và câu kết đoạn.

b) Nhận định mà tác giả nêu lên ở câu mở đầu được nhắc lại với sự mở rộng và nâng cao ở câu kết đoạn như thế nào ?

2. Bài văn đã gợi tả nhiều vẻ đẹp riêng biệt ở mỗi vùng trên đất nước Liên Xô (trước đây). Em hãy nhận xét về cách chọn lọc và miêu tả những vẻ đẹp ấy trong bài văn.

3. Nghệ thuật miêu tả các loài chim trong bài Lao xao rất tự nhiên, sinh động và hấp dẫn. Em hãy làm rõ cách miêu tả của tác giả qua những điểm sau :

– Mỗi loài được miêu tả về những phương diện nào và tả kĩ điểm gì ?

– Kết hợp tả và kể/tả ngoại hình và hoạt động như thế nào ?

– Tả xen kẽ các loài chim trong mối quan hệ của chúng.

4. Tìm những yếu tố văn hoá dân gian như thành ngữ, đồng dao, truyện cổ tích,… đã được tác giả sử dụng trong bài. Em còn biết thêm những câu ca dao, đồng dao, thành ngữ nào cũng nói về loài chim ?

5. Qua việc miêu tả các loài chim trong bài Lao xao, em cảm nhận được gì về tình cảm của tác giả với thiên nhiên, với quê hương ?

6. Viết đoạn văn miêu tả một loài chim ở vùng quê em hay nơi em ở.

Gợi ý làm bài

1. a) Trình tự lập luận ở đoạn đầu của bài Lòng yêu nước như sau :

– Nêu nhận định chung : “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất.”.

– Nêu tình huống cụ thể : Chiến tranh đã làm cho những người dân Xô viết nhận ra sâu sắc hơn những vẻ đẹp riêng và hết sức quen thuộc của quê hương mình.

– Kết luận : Lòng yêu nhà, yêu làng xóm quê hương đã trở nên lòng yêu Tổ quốc.

b) Nhận định ở câu mở đầu mới nói đến ngọn nguồn của lòng yêu nước. Nhận định ấy đã được mở rộng, nâng cao và được khái quát thành một chân lí ở câu kết của đoạn văn : “Dòng suối… lòng yêu Tổ quốc”.

2. Tác giả đã lựa chọn và miêu tả vẻ đẹp ở nhiều vùng khác nhau, từ vùng cực Bắc nước Nga đến vùng núi phía Tây Nam thuộc nước Cộng hoà Gru-đi-a, những làng quê êm đềm xứ U-crai-na, từ thủ đô Mát-xcơ-va cổ kính đến thành phố Lê-nin-grát đường bệ,… Ở mỗi nơi, tác giả chọn miêu tả vài hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp riêng biệt, độc đáo của nơi đó. Mỗi hình ảnh tuy chỉ là gợi tả qua nỗi nhớ nhưng vẫn làm nổi rõ được vẻ đẹp riêng với đường nét, màu sắc và tất cả đều thấm đậm tình cảm yêu mến, tự hào của con người.

3. Nghệ thuật miêu tả các loài chim trong bài Lao xao rất sinh động, tự nhiên và hấp dẫn. Để đạt được hiệu quả đó, tác giả đã :

– Chọn miêu tả ở mỗi loài vật một vài nét nổi bật đáng chú ý hoặc về tiếng kêu ; hoặc về màu sắc, hình dáng ; hoặc về đặc điểm tập tính của chúng. (Tìm các dẫn chứng trong bài.)

– Kết hợp tả với kể (chuyện con sáo nhà bác Vui tọ toẹ học nói, chuyện về sự tích con bìm bịp). Miêu tả ngoại hình qua hành động (đoạn viết về các loài diều hâu, chèo bẻo, quạ, cắt).

– Các loài chim được tả theo hai nhóm có quan hệ gần gũi hoặc cùng họ với nhau : một nhóm là các loài chim lành, thường mang niềm vui đến cho con người như bồ các, sáo, tu hú, chim ngói,… ; một nhóm là các loài chim dữ như diều hâu, quạ, cắt. Trong các nhóm ấy, chèo bẻo lại dám đánh lại những loài chim ác. Đoạn tả các loài chim dữ không tả riêng từng con mà tả chúng trong các cuộc giao tranh, làm hiện lên hình ảnh và tính nết, đặc điểm của mỗi loài một cách cụ thể, sinh động.

4. Những yếu tố văn hoá dân gian trong bài :

– Đồng dao : Bồ các là bác chim ri… là chú bồ các,…

– Thành ngữ *: Dây mơ, rễ má ; Kẻ cắp gặp bà già ; Lia lia láu láu như quạ dòm chuồng lợn.

– Truyện cổ tích : Sự tích chim bìm bịp.

– Một số câu ca dao cũng nói về loài chim :

– Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao. Ông ơi ông vớt tôi nao, Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con. – Cái cò, cái vạc cái nông, Ba con cùng béo vặt lông con nào ? Vặt lông cái vạc cho tao, Hành răm, mắm, muối cho vào mà thuôn. – Ai đem con sáo sang sông, Để cho con sáo sổ lồng nó bay…

5. Bài Lao xao là đoạn trích từ cuốn hồi kí tự truyện Tuổi thơ im lặng của Duy Khán. Các loài chim được miêu tả trong khung cảnh làng quê gắn với những kỉ niệm tuổi thơ của nhà văn. Qua đó, có thể cảm nhận được tình yêu rất hồn nhiên, trong sáng với thiên nhiên làng quê của tác giả, đó cũng là một phần của tình cảm quê hương bền chặt ở mỗi người.

6. Khi miêu tả cần theo một trình tự thích hợp và linh hoạt. Có thể bắt đầu bằng tiếng hót hay màu sắc, hình dáng đặc biệt gây ấn tượng của loài chim em tả rồi miêu tả tiếp về các phương diện khác của loài chim ấy. Cần lựa chọn, tả kĩ một vài điểm nổi bật đáng chú ý nhất, không tả dài, tả mọi thứ.

chúng tôi

Soạn Văn Mẫu Ngữ Văn Lớp 6 Bài Lao Xao

Soạn văn mẫu Ngữ văn lớp 6 bài Lao Xao

Với mong muốn giúp các em chuẩn bị bài tốt và nhanh tiếp thu bài trên lớp Tuyển tập hay giới thiệu tới các em học sinh lớp 6 soạn văn mẫu bài Lao Xao.

Duy Khán sinh trưởng trong gia đình nông dân nghèo. Học dở dang trong vùng tạm chiếm, trốn ra vùng tự do nhập ngũ. Trước ở bộ binh, sau về quân chủng Phòng không Không quân. Từng làm giáo viên văn hoá trong quân đội, rồi chuyển làm phóng viên phát thanh quân đội, thường xuyên đi sát các đơn vị chiến đấu, tham gia chiến dịch Đường 9 Nam Lào 1971, chiến dịch Quảng Trị 1972. Về tạp chí Văn nghệ quân đội làm biên tập viên, phóng viên, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Tác phẩm đã xuất bản: Trận mới (tập thơ, 1972); Tuổi thơ im lặng (truyện, 1986); Tâm sự người đi (tập thơ, 1987).

Nhà văn đã được nhận Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam năm 1987 với tác phẩm: Tuổi thơ im lặng.

II. Kiến thức cơ bản

1. Trong khi tả số rất nhiều loại chim, tác giả lựa chọn để sắp xếp theo trình tự từng nhóm loài gần nhau.

– Đầu tiên là nhóm những loài chim “đều có họ với nhau. Họ của chúng đều hiền cả” (bồ các, chim ri, sáo sậu, sáo đen, tu hú), tiếp đó đến bước trung gian là các loài chim nhạn, bìm bịp, chim ngói…, sau cùng là nhóm những loài chim ác (diều hâu, chèo bẻo, quạ đen, quạ khoang, cắt,…).

– Cách dẫn dắt lời kể rất tự nhiên: từ thiên nhiên đến con người, từ chuyện trẻ em sang chuyện các loài chim. Mặc dù mục đích chính là miêu tả thiên nhiên, tả các loài chim nhưng bài văn hẳn sẽ mất đi rất nhiều cảm giác kì thú nếu như không được miêu tả qua con mắt, trí tưởng tượng của một cậu bé. Một thiên nhiên trong sáng, đầy màu sắc và ăm ắp những kỉ niệm, những lời văn tươi rói như chưa ráo mực: Chúng tôi chạy ùa ra, con cắt còn ngấp ngoải. Bây giờ tôi mới tận mắt nhìn thấy con cắt… khiến cho bài văn có một sức sống mạnh mẽ và vô cùng tươi tắn.

2. Về các loài chim, tác giả sử dụng cách kể như không phải bằng văn mà là lời nói thường, cũng không phải do ai gợi ra mà bắt đầu từ tiếng kêu của loài bồ các để dẫn dắt lời kể; tiếp sau đó vận dụng cấu trúc của đồng dao dân gian để phát triển mạch kể. Mạch kể giữa các loài chim hiền với các loài chim ác được tiếp nối bởi sự xuất hiện của các loài chim ngói, chim nhạn và chim bìm bịp. Đặc biệt, sự xuất hiện của chim bìm bịp như là “cầu nối” (khi nó kêu thì một loạt chim ác, chim xấu mới ra mặt). Đồng thời, trong từng nhóm loài, tác giả dùng các hình ảnh sinh hoạt, tập tính của chúng để xâu chuỗi thành mạch văn phát triển hợp lí và sinh động.

Trong bài văn, tác giả đã kết hợp tả và kể khá nhuần nhuyễn. Chẳng hạn: đang tả sáo sậu, sáo đen hiền thì xen kể “con sáo đen tọ toẹ học nói”; đang kể con tu hú lại kể về sự xuất hiện của mùa tu hú trong vườn nhà ông Tấn; hoặc đang kể về nguồn gốc con “bìm bịp” lại tả màu sắc, sau đó trở lại kể về môi trường sống của nó… Sự kết hợp tả và kể còn được thể hiện trong mối quan hệ đấu tranh sinh tồn giữa các loài, chẳng hạn: việc tranh cướp mồi giữa diều hâu và chèo bẻo, giữa chèo bẻo và chim cắt.

Ở đoạn đầu bài văn, tác giả viết: Giờichớm hè. Cây cối um tùm. Cả làng thơm – tác giả vừa kể vừa tả, tả rồi lại kể, sau đó lại tả: Cây hoa lan nở hoa trắng xoá… Cũng như vậy, kết hợp tả và kể về các loài chim, tác giả vừa thể hiện khả năng quan sát rất tinh tế, vừa thay đổi được giọng văn làm cho mạch văn uyển chuyển, sinh động; đồng thời qua đó cũng thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết giữa tác giả và thiên nhiên.

3. Một vẻ đẹp khác của bài văn là cách sử dụng và chuyển hoá các chất liệu văn hoá dân gian, chủ yếu là các thành ngữ, các câu hát đồng dao hay thậm chí cả những câu chuyện cổ tích.

Ví dụ:Chị Diệp nhanh nhảu:

– Bồ các là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu. Sáo sậu là cậu sáo đen. Sáo đen là em tu hú. Tu hú là chú bồ các…

Câu hát đồng dao phổ biến của trẻ em đã được thể hiện qua lời nói của nhân vật khiến cho bạn đọc có cảm giác được sống trong một bầu không khí rất đỗi quen thuộc của văn hoá dân gian.

Cũng theo cách thức tương tự, rất nhiều thành ngữ (Kẻ cắp gặp bà già, Lia lia láu láu như quạ dòm chuồng lợn) và các chi tiết trong truyện cổ tích (Sự tích chim bìm bịp, Sự tích chim chèo bẻo) được đưa vào tác phẩm làm cho mạch văn phát triển tự nhiên, lời kể sinh động mà gần gũi với đời sống con người; song đôi khi chính cách nhìn nhận và đánh giá ấy cũng mang tính định kiến, gán ghép khiên cưỡng. Ví dụ: tiếng kêu của chim bìm bịp làm cho các loài chim ác xuất hiện…

4. Bài văn đã đem đến những hiểu biết thú vị về đặc điểm, tập tính, hình dáng của một số loài chim, điều đó giúp chúng ta yêu mến hơn và có tinh thần trân trọng giữ gìn vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh sắc quê hương.

Trời chớm hè, cây cối um tùm, ngát hương hoa, bướm ong rộn rịp xôn xao. Thế giới các loài chim ở đồng quê hiện lên thật sinh động dưới ngòi bút của tác giả. Bồ các to mồm. Chị Điệp nhanh nhảu. Rồi sáu sậu, sáo đen, tu hú, chim ngói, chim nhạn hiền lành, gần gũi với con người. Bìm bịp suốt ngày đêm rúc trong bụi cây, diều hâu hung ác bắt gà con, quạ lia lia láu láu dòm chuồng lợn, chèo bẻo kẻ cắp nhưng hung hăng, thích đánh nhau, đánh cả diều hâu lẫn quạ. Chim cắt hung dữ, không một loài chim nào trị được thế mà bị chèo bẻo đánh cho ngắc ngoải.

2. Cách đọc

Tác giả vừa kể xen lẫn miêu tả. Cần đọc chậm, thể hiện sự quan sát ngộ nghĩnh và cách miêu tả sinh động tập tính của các loài chim.

3. Quan sát và miêu tả một loài chim quen thuộc ở quê em.

Gợi ý: cần triển khái các ý sau.

– Loài chim mà em định miêu tả là gì?

– Nó có nhiều ở quê em không? Nó thường xuất hiện vào mùa nào?

– Miêu tả vẻ bên ngoài của loài chim ấy.

– Thói quen của loài chim ấy là gì?

– Sự xuất hiện của loài chim đó gợi cho em sự thích thú ra sao?

Soạn văn mẫu thứ hai bài Lao Xao

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Xem phần I ở trên.

2. Tác phẩm.

– Xuất xứ: được trích từ tập tuổi thơ im lặng của Duy Khán.

– Thể loại: kí là những hồi tưởng của tác giả về tuổi thơ.

– Bố cục: 2 phần.

* Phần 1: từ đầu đến lặng lẽ bay đi: cảnh chớm hè ở làng quê.

* Phần 2: còn lại: thế giới các loài chim.

II. Phân tích

1. Cảnh chớm hè vào buổi sáng trên làng quê

– Buổi sớm chớm hè được nhà văn miêu tả hết sức phong phú và đa dạng.

– Nào là có ong bướm, nào là chim muông.

– Các loài cây đặc trưng của mùa hè cũng được nêu lên.

2. Những loại chim

a. Chim hiền

– Chim sáo: đậu trên lưng trâu hót, tọ tọe học nói rồi bay đi ăn mãi đến chiều mới về

– Chim tu hú thì đứng trên ngọn cây mà gọi mùa tu hú chín

– Nhà văn đã sử dụng những loại chim đặc trưng cho mùa hè, cùng với những từ láy các các, chéc chéc, bịp bịp… cùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa cậu sáo, em tu hú đã mang đến cho chúng ta một bức tranh sinh động thế giới loài chim hiền.

– Không chỉ vậy nhà văn còn viết lên một câu đồng dao dành cho trẻ em mà đến nay vẫn còn đọc.

b. Các loài chim ác

– Diều hâu: nhà văn miêu tả ngoại hình của chúng để thể hiện được sự độc ác của chúng, diều hâu có cái mũi khoằm cứ đánh hơi là xà xuống bắt một chú gà con cho rồi vút lên không trung mà vừa bay vừa ăn được.

– Quạ: lấm lét ăn trộm trứng, ngó ngang ở chuồng lợn và bắt gà con.

c. Loài chim trị ác

– Đó là những cô nàng chèo bẻo, gan dạ chống lại những loài chim ác kia.

– Bề ngoài: giống như những mũi tên đen hình đuôi cá.

– Chèo bẻo lao vào diều hâu đánh cho túi bụi khiến diều hâu phải bỏ con mồi.

– Vây tứ phía đánh quá có con bị đánh cho chết rũ xương.

– Cả đàn vây vào đánh cắt khiến cho cắt ngấp ngoái.

III. Tổng kết

– Bằng những trải nghiệm tuổi thơ cùng sự nhạy cảm tinh tế trong con người nhà văn đã mang đến cho chúng ta một thế giới lao xao đầy ắp những tiếng chim. Đọc văn bản xong mà khiến cho biết bao nhiêu người muốn quay trở về tuổi thơ yêu dấu.

Tuyển tập hay còn nhiều bài soạn văn mẫu hơn nữa, các em học sinh lớp 6 có thể tham khảo tại văn lớp 6.

– Những bài soạn văn mẫu lớp 6 soạn bài soạn Lao Xao –

Soạn Văn Lớp 6 Bài: Lao Xao Ngắn Nhất

Câu 1: Trang 113 sgk ngữ văn 6 tập 2

Đọc bài văn Lao xao (Duy Khán) và trả lời các câu hỏi:

a) Thống kê theo trình tự tên của các loài chim được nói đến.

b) Tìm xem các loài chim có được sắp xếp theo từng nhóm loài gần nhau hay không?

c) Tìm hiểu cách dẫn dắt lời kể, cách tả, cách xâu chuỗi hình ảnh, chi tiết.

a) Trình tự các loài chim được nói đến là: bổ các, chim ri, chim sáo, sáo sậu, sáo đen, tu hú, bìm bịp, diều hâu, quạ đen, quạ khoang, chim cắt, chèo bẻo.

b) Các loài chim được sắp xếp theo từng nhóm loài gần nhau, cụ thể:

Chim hiền

Chim dữ

Loài chim đánh lùi lũ chim ác: chèo bẻo

c) Cách dẫn dắt lời kể rất tự nhiên: từ thiên nhiên đến con người, từ chuyện trẻ em sang chuyện các loài chim.

Cách tả độc đáo, làm nổi bật nét đặc trưng của mỗi loài, thêm vào đó là phép nhân hóa làm sinh động thế giới loài chim: Chúng tôi chạy ùa ra, con cắt còn ngấp ngoải. Bây giờ tôi mới tận mắt nhìn thấy con cắt… khiến cho bài văn có một sức sống mạnh mẽ và vô cùng tươi tắn.

Cách xâu chuỗi các hình ảnh chi tiết rất hợp lí và bất ngờ: Ai nghe tiếng bìm bịp kêu – nghĩ tới ông sư hổ mang lừa bịp chết mà hoá nên loài chim này.

Câu 2: Trang 113 sgk ngữ văn 6 tập 2

Nhận xét nghệ thuật miêu tả các loài chim. Cụ thể là:

a) Chúng được miêu tả về những phương diện nào và mỗi loài được miêu tả kĩ ở điểm gì? (hình dạng, màu sắc, tiếng kêu hoặc hót, hoạt động và đặc tính).

b) Kết hợp tả và kể như thế nào? Tìm những dẫn chứng cho thấy các loài chim được tả trong môi trường sinh sống, hoạt động của chúng và trong mối quan hệ giữa các loài.

c) Nhận xét về tài quan sát và tình cảm của tác giả với thiên nhiên, làng quê qua việc miêu tả các loài chim.

a) Mỗi loài được miêu tả:

Tiếng kêu của bồ các: tiếng kêu các các, vừa bay vừa kêu cứ như bị ai đuổi đánh.

Hình dạng và đặc tính của diều hâu: mũi khoằm, đánh hơi tinh lắm.

Hình dạng, tiếng kêu, hoạt động của chèo bẻo: những mũi tên đen, mang hình đuôi cá từ đâu tới tấp bay đến, ngày mùa chúng thức suốt đêm, mới tờ mờ đất nó đã cất tiếng gọi người “chè cheo chét”.

Hình dạng và đặc tính của chim cắt: cánh nhọn như dao bầu chọc tiết lợn, khi đánh nhau chỉ xỉa bằng cánh.

b) Trong bài văn, tác giả đã kết hợp tả và kể khá nhuần nhuyễn.

Những dẫn chứng: đang tả sáo sậu, sáo đen hiền thì xen kể “con sáo đen tọ toẹ học nói”; đang kể con tu hú lại kể về sự xuất hiện của mùa tu hú trong vườn nhà ông Tấn; hoặc đang kể về nguồn gốc con “bìm bịp” lại tả màu sắc, sau đó trở lại kể về môi trường sống của nó…

Sự kết hợp tả và kể còn được thể hiện trong mối quan hệ đấu tranh sinh tồn giữa các loài, chẳng hạn: việc tranh cướp mồi giữa diều hâu và chèo bẻo, giữa chèo bẻo và chim cắt.

c) Tác giả vừa thể hiện khả năng quan sát rất tinh tế, vừa thay đổi được giọng văn làm cho mạch văn uyển chuyển, sinh động, thể hiện tình cảm gắn bó thân thiết giữa tác giả và thiên nhiên: Giời chớm hè/ Cây cối um tùm/ Cả làng thơm. Tác giả vừa kể vừa tả, tả rồi lại kể, sau đó lại tả: Cây hoa lan nở hoa trắng xoá…

Trong bài có sử dụng nhiều chất liệu văn hoá dân gian như thành ngữ, đồng dao, kể chuyện. Hãy tìm các dẫn chứng. Cách cảm nhận đậm chất dân gian về các loài chim trong bài tạo nên nét đặc sắc gì và có điều gì chưa xác đáng?

Những yếu tố vần hoá dân gian trong bài:

Đồng dao: Bồ các là bác chim ri. Chim ri là dì sáo sậu. Sáo sậu là cậu sáo đen. Sáo đen là em tu hú. Tu hú là chú bồ các…

Thành ngữ: Dây mơ, rễ má; Kể cắp gặp bà già; lia lia láu láu như quạ vào chuồng lợn.

Truyện cổ tích: Sự tích chim bìm bịp, Sự tích chim chèo bẻo

Từ bài đồng dao, những câu thành ngữ hay những truyện cổ tích xuất hiện trong bài khiến cho bạn đọc có cảm giác được sống trong một bầu không khí rất đỗi quen thuộc của văn hoá dân gian, ngoài ra, chúng làm cho mạch văn phát triển tự nhiên, lời kể sinh động, chất phác mà gần gũi với đời sống con người.

Những bên cạnh đó là cách nhìn nhận và đánh giá mang tính định kiến, gán ghép khiên cưỡng. Ví dụ: tiếng kêu của chim bìm bịp làm cho các loài chim ác xuất hiện...

Câu 4: Trang 113 sgk ngữ văn 6 tập 2

Bài văn đã cho em những hiểu biết gì mới và những tình cảm như thế nào về thiên nhiên, làng quê qua hình ảnh các loài chim?

Từ bài văn, em có thể biết thêm những điều thú vị về đặc điểm, hình dáng, tập tính của một số loài chim và từ đó em yêu mến hơn, biết bảo vệ và phát triển vẻ đẹp của thiên nhiên, làng quê mình.

Luyện tập

Bài tập: trang 114 sgk Ngữ Văn 6 tập 2

Em hãy quan sát và miêu tả một loài chim quen thuộc ở quê em

Trong vương quốc của các loài chim, sơn ca được người ta yêu quý mà đặt cho danh hiệu “danh ca” của rừng xanh bởi tiếng hót của đặc biệt, không trộn lẫn của chúng. Và đó cũng là loài chim quen thuộc ở quê hương em.

Buổi sáng đẹp trời, khi ông mặt trời vừa mới thức dậy và nhô mình lên khỏi lũy tre làng, vạn vật như bừng tỉnh giấc sau một đêm dài ngủ ngon. Không khí trong lành và mát rượi. Làn sương mỏng quấn quít trong không gian lưu luyến như chẳng muốn rời. Bốn bề tĩnh lặng và bỗng từ đâu vang lên từng hồi từng hồi thứ âm thanh trong trẻo cao vút. A, thì ra là chú chim sơn ca đang cất cao tiếng hót của mình như một bản nhạc chào ngày mới của riêng chú.

Sơn ca là loài chim nhỏ, con trưởng thành cũng chỉ bằng hai bàn tay người lớn úp lại. Màu lông của chúng rất đơn giản, sắc lông chỉ từ vàng nhạt đến nâu đậm. Chú chim sơn ca đậu trước sân nhà khoác lên mình bộ lông màu nâu sẫm có những đốm đen điểm xuyết trên đầu cánh như trang sức mà thiên nhiên dành tặng cho chú. Cái đầu của chú ta nhỏ, tròn như quả trứng. Phía trên đầu có một chùm lông, dựng thẳng đên như một chiếc vương miện. Đôi mắt chú nhỏ, đen như hạt đỗ. Cái mỏ bé xíu màu vàng cứ chuyển động liên tục. Chân của chú nhỏ, ngón chân sau khá dài. Cái đuôi chú khá dài, cong và hơi chúi xuống đất để giữ thăng bằng khi di chuyển. Đặc biệt, điểm nổi bật của sơn ca là chỉ đi chứ không nhảy giống họa mi, vành khuyên hay chích chòe. Khi bay chúng thường bay vút lên cao rồi từ từ hạ cánh, vừa hạ cánh vừa hót từng hồi. Tiếng hót của sơn ca rất hay, trong và cao. Có lẽ đó cũng là lý do sơn ca được người yêu chim trân trọng và nâng niu.

Ông và bố em thường thức dậy từ sớm tin mơ rồi pha một ấm chè đặc rồi ngồi nhâm nhi trước sân nhà rồi lắng nghe tiếng hót của chim sơn ca. Đó là sở thích đặc biệt của ông và bố. Ông và bố nói với em rằng đây chính là quãng thời gian thảnh thơi, thoải mái nhất trong ngày của hai người. Hai người thường ngồi im lặng, nhấp một ngụm trà rồi nhắm mắt lại lim dim. Lúc ấy, em thấy khuôn mặt của ông và bố như giãn ra, hạnh phúc lắm. Thì ra, những thú vui bình dị, những con vật gần gũi, những thứ âm thanh quen thuộc của làng quê lại ấm áp và khiến cho người ta thương nhớ và hạnh phúc đến thế.

Tiếng chim sơn ca trong trẻo và nhưng buổi sáng ngồi cùng ông với bố trước sân nhà có lẽ sẽ là những kỉ niệm tuổi thơ mà em không bao giờ quên trong suốt cuộc đời này. Vì chỉ cần nghe tiếng chim sơn ca, em như được nhìn thấy hình ảnh của ông với mái tóc bạc trắng cầm cốc nước chè thong thả uống và khuôn mặt với nụ cười hiền hậu của bố….

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Lao Xao – Ngữ Văn 6 Tập 2 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!