Xu Hướng 3/2024 # Soạn Bài Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Những kiến thức quan trọng bạn cần ghi nhớ:

* Bài nghị luận tác phẩm văn học cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng

– Phần mở bài: giới thiệu tác phẩm và bước đầu nêu ý kiến đánh giá của mình.

– Phần thân bài: Lần lượt trình bày những ý kiến, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ, phân tích, chứng minh các luận điểm đã nêu ở phân mở bài bằng những luận cứ cụ thể, đáng tin cậy.

– Phần kết bài: khái quát, giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.

– Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần nêu lên được các nhận xét, đánh giá và sự cảm thụ riêng của người viết. Những nhận xét, đánh giá ấy phải gắn với sự phân tích, bình giá ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung cảm xúc… của tác phẩm.

* Lời văn của bài nghị luận một đoạn thơ, bài thơ cần phải tự nhiên, giàu cảm xúc, thể hiện sự tự tin, nhiệt tình trước vấn đề đang trình bày.

Hướng dẫn soạn bài cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

Gợi ý trả lời câu hỏi sách giáo khoa.

Đề bài nghị luận về một đoạn thơ

Đọc các đề bài (tr 79;80 SGK Ngữ văn 9 tập 2 )và trả lời câu hỏi

a) Các đề bài trên được cấu tạo như thế nào?

b) Các từ trong đề bài như phân tích, cảm nhận và suy nghĩ (hoặc có khi đề bài không có lệnh) biểu thị những yêu cầu gì đối với bài làm? (Gợi ý: Từ phân tích chỉ định về phương pháp, từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người viết, từ suy nghĩ nhấn mạnh tới nhận định, phân tích của người làms bài. Trường hợp không có lệnh, người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề được nêu ra trong đề bài. Sự khác biệt trên chỉ ở sắc thái, không phải là các “kiểu bài” khác nhau.)

Trả lời

a) Tám đề văn trong sách giáo khoa đều có cấu tạo giống nhau là yêu cầu người viết phải nêu lên cảm nhận, suy nghĩ của mình về đoạn thơ hoặc bài thơ. Những bài thơ có trong các đề này đều là những bài các em đã học qua trong chương trình ngữ văn 9.

b) Từ phân tích chỉ định về phương pháp, từ cảm nhận lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ từ suy nghĩ nhấn mạnh đến nhận định, phân tích của người viết. Trường hợp không có lệnh, người viết bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề được nêu ra trong đề bài. Sự khác biệt trên chỉ ở sắc thái, không phải là các “kiều bài” khác nhau.

Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, một bài thơ

2 – Trang 83 SGK

Đọc văn bản Quê hương trong tình thương, nỗi nhớ (Tr 81 – 93 SGK)sau và trả lời câu hỏi:

a) Trong văn bản trên, đâu là phần Thân bài? Ở phần này, người viết đã trình bày những nhận xét gì về tình yêu quê hương trong bài thơ Quê hương? Những suy nghĩ, ý kiến ấy được dẫn dắt, khẳng định bằng cách nào, được liên kết với phần Mở bài và Kết bài ra sao?

b) Văn bản có tính thuyết phục, sức hấp dẫn không? Vì sao? Từ đó có thể rút ra bài học gì qua cách làm bài nghị luận văn học này?

Trả lời

a) – Các phần của văn bản:

+ Mở bài: từ đầu đến “thành công khởi đầu rực rỡ”: Giới thiệu về tác giả và tác phẩm.

+ Thân bài: Từ “nhà thơ đã viết” đến “thành thực của Tế Hanh”: Phân tích vẻ đẹp của hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và cảnh đoàn thuyền đánh cả lúc trở về.

+ Kết bài: Phần còn lại: Nêu lên giá trị của bài thơ đối với người đọc trong việc bồi đắp tình yêu quê hương.

– Cách dẫn dắt khẳng định: tác giả nêu lên những nhận xét, đánh giá khái quát, sau đó nêu lên dẫn chứng và phân tích.

b) Văn bản có sức thuyết phục bởi:

– Hệ thống luận điểm rõ ràng, hợp lí.

– Có những nhận xét và cảm thụ riêng của tác giả.

– Giọng văn truyền cảm, lôi cuốn.

Đề bài: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh.

Bài làm tham khảo

Mùa thu đến với anh khá đột ngột và bất ngờ, không hẹn trước. Bắt đầu không phải là những nét đặc trưng của trời mây sắc vàng hoa cúc như trong thơ cổ điển. Bắt đầu là hương ổi thơm nức. Một chữ “phả” kia đủ gợi hương thơm như sánh lại. Nó sánh bởi vì hương đậm một phần, sánh còn bởi tại hương gió se. Hương thơm lùa vào trong gió được tinh lọc, được cô đặc thêm. Gió mùa thu hào phóng đem chia hương mùa thu – bấy giờ là hương ổi chín tới khắp nơi trong vũ trụ. Tại một vùng quê nhỏ, trong một phút giây nào đó, người viết chợt bắt gặp hương thu và bỗng sững sờ.

Đã cảm được hương ổi, đã nhận ra gió se, hơn thế nữa, mắt lại còn nhìn thấy sương đang chùng chình qua ngõ. Những dấu hiệu đặc trưng của mùa thu đều hiện diện. Thế mà sao tác giả lại viết “hình như thu đã về”. Còn điều chi nữa mà ngờ? Thu đã vể thật đấy rồi, sao lại còn nghi hoặc? Như đã nói ở trên. Cái chính là sự bất ngờ, đột ngột. Do bất ngờ nên cả khứu giác (mùi hương ổi) cả xúc giác (hơi gió se) cả thị giác (sương chùng chình) đều mách bảo thu về mà vẫn chưa thể tin, vẫn chưa dám chắc. Cái bảng lảng mơ hồ chính trong cảm giác “hình như” ấy đã tôn thêm vẻ khói sương lãng đăng lúc thu sang. Đó là một nguyên nhân. Nhưng sâu xa hơn, ở đây còn bộc lộ nét “sang thu” trong hồn người mà sau chúng ta sẽ nói tới.

Hình như thu đã về.

Đó là một ấn tượng tổng hợp từ những cảm giác riêng về hương, về gió, về sương. Từ hương nhận ra gió. Từ gió nhận ra sương. Nhưng khi phát hiện “sương chùng chình qua ngõ” thì trong sương cũng có hương, trong sương cũng có gió, và trong sương như còn có cả tình. “Chùng chình” hay chính là sự lưu luyến, bâng khuâng, ngập ngừng, bịn rịn? Cái ngõ mà sương đẫm hương, sương nương theo gió đang ngập ngừng đi qua vừa là cái ngõ thực, vừa là cải ngõ thời gian thông giữa hai mùa. Phút giây giao mùa của thiên nhiên ấy, nhìn thấy rồi, cảm thấy rồi mà sững sờ tưởng khó tin. Do đó “hình như thu đã vể” còn như là một câu thầm hỏi lại mình để có một sự khẳng định.

[ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

Soạn Bài Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ

Soạn bài Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ I. Tìm hiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

(trang 76 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2): Đọc văn bản sau …

a. Vấn đề nghị luận của văn bản : hình ảnh mùa xuân trong cảm xúc thiết tha, chân thành của nhà thơ Thanh Hải ở bài “Mùa xuân nho nhỏ”.

b. Những luận điểm về hình ảnh mùa xuân trong bài Mùa xuân nho nhỏ :

– Hình ảnh mang nhiều tầng ý nghĩa, tất cả đều gợi cảm, đáng yêu.

– Bức tranh mùa xuân, cả màu sắc lẫn âm thanh, hiện lên trong cảm xúc thiết tha, trìu mến, đằm thắm, dịu dàng.

– Từ mùa xuân tươi đẹp của quê hương, đất nước, đến mùa xuân của nguyện ước hoà nhập, dâng hiến chân thành.

→ Người viết thuyết phục các luận điểm bằng sự phân tích, bình giảng những câu thơ, hình ảnh thơ đặc sắc, với nhận định về cảm hứng, giọng điệu, kết cấu…

c. Bài viết có bố cục 3 phần cân đối, chặt chẽ:

– Mở bài : từ đầu cho đến “…thật đáng trân trọng.”.

– Thân bài : từ “Hình ảnh mùa xuân…” cho đến “…các hình ảnh ấy của mùa xuân”.

– Kết bài : đoạn còn lại.

d. Người viết đã cảm nhận bài thơ với một thái độ yêu mến, tin tưởng, tình cảm chân thành thể hiện được những rung động trước vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật bài thơ. Lời văn mạch lạc, gợi cảm.

Luyện tập

(trang 79 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2): Ngoài các luận điểm …

Có thể lưu ý thêm một số luận điểm:

– Bài thơ có nhạc điệu trong sáng, thiết tha, gần gũi với dân ca.

– Mạch cảm xúc tự nhiên, kết cấu chặt chẽ, giàu sức gợi mở.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Nghị Luận Về Một Bài Thơ, Đoạn Thơ

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12 học kì 1

Soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ giúp các em học sinh nhanh chóng củng cố, nâng cao những hiểu biết về văn nghị luận, có kĩ năng làm bài văn nghị luận về một bài thơ, một đoạn thơ. Chúc các em học tốt môn Ngữ văn 12 qua bài soạn mẫu này.

Soạn bài lớp 12: Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ 1. Soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ mẫu 1 1.1. Tìm hiểu đề và tìm ý

– Đối tượng của bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ rất đa dạng, phong phú: một đoạn thơ, một bài thơ, một hình tượng thơ,…

– Cách làm bài: bài viết thường có các ý chinh sau

+ Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ

+ Bàn luận về những giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ

+ Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ

1.2. Luyện tập

Câu 1 (trang 86, sgk Ngữ văn 12, tập 1) I. Mở bài

Giới thiệu về tác giả Huy Cận và đoạn thơ (xuất xứ, nguyên văn đoạn thơ)

II. Thân bài

– Nêu hoàn cảnh ra đời và khái quát cảm xúc trong toàn bộ bài thơ Tràng giang

– Phân tích đoạn thơ:

+ Hai câu thơ đầu: vẽ nên bức tranh thiên nhiên buổi chiều tà, mang nét buồn nhưng vẫn tráng lệ, kì vĩ với hình ảnh mây cao, núi bạc,… Qua đó, cho thấy sự rung cảm tinh tế của nhà thơ trước khung cảnh thiên nhiên

+ Hai câu còn lại: nỗi lòng nhớ nhà, nhớ quê hương của tác giả được bộc lộ một cách trực tiếp, chân thực, tự nhiên, không cần sự tác động của yếu tố ngoại cảnh – “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

– Đánh giá giá trị nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ:

+ Nội dung: khổ thơ vẽ nên bức tranh thiên nhiên buổi chiều tà, từ đó khắc họa nỗi niềm nhớ quê, nhớ nhà của tác giả

+ Nghệ thuật: sử dụng từ láy, hình ảnh thơ cổ điển mang phong vị đường thi

III. Kết bài

Cảm nghĩ của bản thân về đoạn thơ

2. Soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ mẫu 2 2.1. Cách viết bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

a. Nghị luận về một bài thơ Đề: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh. (Xem toàn văn bài thơ trong SGK).

Đối với một bài thơ, các bước làm bài có thể như sau:

a) Đọc chậm nhiều lần bài thơ để có cảm nhận chung về tác phẩm: bài thơ nói về vấn đề gì, tình cảm của tác giả bộc lộ trong bài thơ như thế nào?,…

b) Tìm hiểu sâu về bài thơ.

Về nội dung: đề cập đến những ý gì, điều gì trong cuộc sống của con người.

Về nghệ thuật: có những điểm nào cần chú ý: về hình ảnh, âm điệu, ngôn ngữ, thể thơ,..

Điểm đặc sắc nhất của bài thơ là gì?

(Về bước b, có thể sử dụng các câu hỏi gợi ý trong SGK để tìm hiểu bài thơ).

c) Lập dàn ý cho bài phân tích của mình:

Nêu các luận điểm để phân tích bài thơ. Có thể có nhiều luận điểm khác nhau tùy theo cảm nhận và suy nghĩ của từng người viết. Các luận điểm đó được sắp xếp trong một lập luận lôgic của bài làm.

Trình tự bài có thể có nhiều cách.

Ví dụ:

Cách 1: Theo trình tự các đoạn thơ, câu thơ

Cách 2: Theo trình tự nội dung – nghệ thuật – đánh giá bài thơ.

Cách 3: Nêu nét đặc sắc nổi bật của tác phẩm – phân tích cái hay, vẻ đẹp – đánh giá bài thơ.

d) Viết bài theo dàn ý đã lập bằng phong cách nghị luận văn học với cảm hứng của mình.

Nghị luận về một bài thơ không chỉ đơn thuần làm công việc giảng giải, phân tích bài thơ đó mà quan trọng hơn là phải phẩm bình, thưởng thức, đánh giá bài thơ bằng những cảm nhận riêng, rung động riêng và chủ kiến của mình về bài thơ đó.

Thông thường, người ta có thể ra đề: Phân tích về đoạn thơ A hoặc Suy nghĩ về đoạn thơ B,…; anh (chị) cần theo yêu cầu đó (phân tích hoặc suy nghĩ) để làm bài cho đúng.

Anh (chị) cần đọc kỹ, tham khảo những gợi ý trong SGK để làm bài này và cố gắng tập viết thành một bài nghị luận văn học bằng cảm hứng và những suy nghĩ riêng của mình.

2.2. Luyện tập

Phân tích đoạn thơ trong bài Tràng giang của Huy Cận (xem văn bản trong SGK).

Gợi ý:

Cảnh chiều xuống trên sông: đẹp nhưng đượm buồn.

Tâm trạng thi nhân: nỗi buồn nhớ nhà dâng lên sâu thăm thẳm.

Nghệ thuật:

Hình ảnh đối lập, gợi cảm: núi mây hùng vĩ / cánh chim bé nhỏ.

Âm điệu phù hợp: dập dềnh như sóng nước trên Tràng giang.

Tứ thơ mới mẻ: học tập thơ xưa và sáng tạo thêm cái mới.

Nét đặc sắc: sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển của thơ Đường với bút pháp lãng mạn của Thơ mới.

3. Soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ mẫu 3 3.1. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 85 SGK Ngữ văn 12 tập

1. Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Lời giải chi tiết:

Đề 1: Phân tích bài thơ Cảnh khuya của Hồ Chí Minh.

Đề 2: Phân tích đoạn thơ trích trong bài Việt Bắc của Tố Hữu.

+ Hoàn cảnh ra đời bài thơ: viết vào mùa đông 1947, năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

+ Phân tích tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ trong hoàn cảnh lớn và hoàn cảnh nhỏ của bài thơ để thấy hết giá trị.

Mở bài: Giới thiệu khái quát hoàn cảnh ra đời của bài thơ.

Thân bài:

+ Vẻ đẹp huyền ảo, lung linh của núi rừng đêm trăng (trăng, hoa, cây cổ thụ, tiếng suối).

+ Nhân vật trữ tình mải mê lo việc nước đến tận khuya, tình cờ bắt gặp tiếng suối dưới trăng (khác các ẩn sĩ tìm đến thiên nhiên để lánh đời, dưỡng tính).

+ Bài thơ hiện đại ở chỗ con người nổi bật giữa bức tranh thiên nhiên, cổ điển ở bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình.

Kết bài: Khẳng định vẻ đẹp hài hòa giữa tâm hồn nghệ sĩ và ý chí chiến sĩ trong bài thơ.

Khí thế cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dũng mãnh, hào hùng (thể hiện qua lực lượng tham gia, những con đường và thời điểm tổng tiến công sôi nổi,…)

Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ (xuất xứ, trích dẫn nguyên văn đoạn thơ).

Thân bài:

+ Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc: 8 câu đầu.

+ Khí thế chiến thắng của các chiến trường khác: 4 câu sau.

+ Nghệ thuật sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ tài tình của tác giả trong đoạn thơ.

Kết bài: Đoạn thơ thể hiện thành công cảm hứng ngợi ca cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.

Lời giải chi tiết:

– Đối tượng của bài nghị luận rất đa dạng (bài thơ/đoạn thơ/hình tượng thơ…).

– Nội dung bài nghị luận bao gồm: giới thiệu khái quát về bài thơ/đoạn thơ, bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ/đoạn thơ, đánh giá chung về bài thơ/đoạn thơ.

3.2. Luyện tập

Câu hỏi (trang 86 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tràng giang của Huy Cận:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa

Lòng quê dờn dờn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Lời giải chi tiết:

1. Mở bài: Giới thiệu chung

Tràng giang được in trong tập Lửa thiêng (1940) là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất trong sáng tác của Huy Cận. Tứ thơ Tràng giang được hình thành vào một buổi chiều mùa thu 1939, khi nhà thơ đứng bờ nam bến Chèm (Hà Nội), nhìn cảnh sông Hồng mênh mông sông nước bốn bề bao la thuần tuý tả cảnh thiên nhiên, mô tả cái vô hình, cái vĩnh viễn. Đó là cái “thế giới bên trong”, cái linh hồn của tạo vật trong nỗi 1 xa vắng mênh mông. Khổ thơ kết cũng vừa là cảnh, vừa là tâm hồn.

2. Thân bài

Câu 1:

Biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: tác giả không viết về “núi cao”, “mây bạc”, mà viết “mây cao”, “núi bạc”. Đó là cách làm lộn dòng cảm giác khiến người đọc choáng ngợp…

Động từ “đùn” tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ.

Câu 2: Cánh chim chiều hôm mang theo nắng chiều sa xuống mặt sông. Hình ảnh cánh chim chiều hôm gợi nỗi nhớ nhà và cái buồn cô liêu của người lữ khách (so sánh).

Câu 3: Lòng quê: nỗi nhớ quê hương gợi lên theo sóng nước.

Câu 4: Xuất xứ từ câu thơ của Thôi Hiệu đời Đường: “Nhật mô hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu.” (“Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” – Tản Đà dịch thơ). Tứ thơ mới mẻ, học tập thơ xưa và sáng tạo thêm cái mới.

Nét đặc sắc nghệ thuật: Sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển của thơ Đường với bút pháp lãng mạn của Thơ mới.

3. Kết bài

Tâm hồn nhà thơ đôn hậu, tinh tế. Đáng quý là cảnh vật và tâm trạng tác giả tuy buồn cô liêu nhưng rất đẹp, thể hiện tài năng và sự tinh tế trong cảm nhận thế giới tự nhiên và cuộc sông con người.

Soạn Bài Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ Lớp 9

Hướng dẫn Soạn bài Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ lớp 9 đầy đủ hay nhất do wikihoc biên soạn để các bạn tham khảo

Các bài soạn trước đó:

SOẠN BÀI CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ LỚP 9 I. Đề bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

a. Các đề bài trên chia làm hai loại :

Có đề bài không kèm theo lệnh cụ thể: đề 4, 7.., mà chỉ có yêu cầu ngầm.

Có đề bài kèm theo mệnh lệnh cụ thể như các đề còn lại.

b. Yêu cầu phân tích, cảm nhận và suy nghĩ biểu thị :

Phân tích : phân tách, xem xét đối tượng dưới nhiều góc độ, đối chiếu, so sánh… để từ đó đi đến nhận định về đối tượng, nghiêng về nghị luận.

Cảm nhận: nhấn mạnh đến việc đưa ra cảm thụ, ấn tượng riêng.

Suy nghĩ : nhấn mạnh nhận định, đánh giá về đối tượng.

Với đề bài không có lệnh cụ thể, người làm tự lựa chọn những thao tác cần thiết để làm rõ, chứng minh cho ý kiến của mình về đối tượng được nêu ra trong đề bài.

II. Cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

1. Câu 1 (trang 80 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

4 bước

Tìm hiểu đề, tìm ý

Lập dàn ý

Viết thành văn

Đọc và sửa chữa.

2. Câu 2 (trang 80 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

Bài văn: Quê hương trong tình thương nỗi nhớ.

a. Phần Thân bài của văn bản : “Nhà thơ đã viết về … thành thực của Tế Hanh”.

Nhận xét của người viết trong phần Thân bài : cảm nhận về cảm xúc nồng nàn, mạnh mẽ, lắng sâu của Tế Hanh.

Những suy nghĩ, ý kiến ấy được dẫn dắt theo từng luận điểm từ khái quát đến chi tiết, những hình ảnh nổi bật. Giữa Mở bài, Thân bài và Kết bài có mối liên kết chặt chẽ cả về nội dung lẫn hình thức. Thân bài phân tích làm rõ nhận định ở Mở bài, từ các luận điểm ở Thân bài dẫn đến kết luận ở Kết bài.

b. Văn bản hấp dẫn, thuyết phục bởi:

Bố cục mạch lạc rõ ràng.

VB tập trung trình bày nhận xét, đánh giá về những giá trị đặc sắc nổi bật về nội dung cảm xúc và nghệ thuật của bài thơ, người viết phân tích những đặc sắc vê h/ả và ngôn từ…

Qua VB thấy người viết trình bày cảm nghĩ bằng cả sự rung cảm thiết tha đối với quê hương.

III. Luyện tập Cách làm bài văn nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ

a. Tìm hiểu đề và tìm ý:

Tìm hiểu đề: Vấn đề nghị luận là gì? (khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh). Yêu cầu (mệnh lệnh) làm gì? (phân tích).

Tìm ý: Nội dung cảm xúc chung của bài thơ Sang thu là gì? Nội dung của khổ thơ đầu bài thơ này là gì? Cảm xúc của nhà thơ được gợi lên từ hương vị, đặc điểm gì của thiên nhiên? Khổ thơ có gì đặc sắc về hình ảnh thơ, ngôn từ?

Lập dàn bài theo bố cục 3 phần: Chú ý xây dựng các luận điểm chính và chứng minh bằng những biểu hiện cụ thể trong khổ thơ.

b. Ở phần Thân bài, có thể triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:

Cảm xúc bâng khuâng, vấn vương trước đất trời trong trẻo đang biến chuyển nhẹ nhàng : bỗng, hình như.

Cảm nhận tinh tế về dấu hiệu mùa thu : hương ổi phả vào trong gió se, sương chùng chình, sông nước, chim, mây, nắng, mưa, sấm.

Hình ảnh thơ độc đáo và từ ngữ giàu sức gợi cảm

Các bài soạn tiếp theo:

Luyện Tập Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ

a) Phân tích khổ thơ đầu bài Sang thu của Hữu Thỉnh

Bức tranh thiên nhiên với những biến đổi của đất trời lúc chuyển mùa từ hạ sang thu được tác giả Hữu Thỉnh miêu tả đầy tinh tế. Nhà thơ đã cảm nhận được mùa thu về bằng những tín hiệu đầu tiên thật giản dị:

Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về.

Nhà thơ nhận ra mùa thu sang từ “hương ổi” – mùi hương đặc sản của dân tộc, mùi hương riêng của mùa thu làng quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. “Hương ổi” là một hỉnh ảnh, một tứ thơ khá mới mẻ với thơ ca viết về mùa thu nhưng lại vô cùng quen thuộc và gần gũi đối với mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là người dân miền Bắc mỗi độ thu về. Động từ “phả” được sử dụng hết sức đặc sắc và có hồn giúp gợi hương ổi chín như đang quyện lại, nồng nàn và lan tỏa trong không gian. Ngọn gió ở đây cũng không phải những cơn gió nồm nam mang nhiều hơi nước của mùa hạ mà là “gió se” – Dấu hiệu đặc trưng của mùa thu. Tín hiệu thứ ba báo thu về là “sương chùng chình qua ngõ”. Nghệ thuật nhân hóa qua từ láy “chùng chình” khiến cho làn sương mùa thu dường như cũng mang theo tâm trạng. Màn sương nửa đi, nửa ở như đang chờ đợi ai hay lưu luyến điều gì. Khứu giác đã cảm nhận “hương ổi”, xúc giác đã nhận ra “gió se” và thị giác thì nhìn thấy “sương chùng chình”. Ấy vậy mà nhà thơ vẫn còn dè dặt “Hình như thu đã về?” Một chút nghi hoặc, một chút bâng khuâng chính là cảm xúc của thời điểm chuyển giao. Thành công của khổ thơ thứ nhất chính là những rung cảm tinh tế trong khoảnh khắc giao mùa bâng khuâng đầy ấn tượng.

b) Cảm nhận của em về tình cảm của người cha đối với con trong bài thơ Nói với con .

A. Mở bài:

– Giới thiệu nhà thơ Y Phương và tác phẩm Nói với con.

– Trong bài thơ Nói với con, tình yêu người cha dành cho con được thể hiện qua lời dặn dò, nhắc nhở về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi người, cho con thấy được sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, truyền thống tốt đẹp của quê hương mình, thắp sáng tỏng con niềm tin, ý chí và nghị lực để con vươn lên trong cuộc sống.

B. Thân bài: Mở đầu bài thơ, bằng những lời tâm tình với con, Y Phương đã gợi về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi người: Chân phải bước tới cha Chân trái bước tới mẹ Một bước chạm tiếng nói Hai bước tới tiếng cười.

Con lớn lên từng ngày trong tình yêu thương, sự mong chờ và nâng đỡ của cha mẹ.

+ Nhịp thơ 2/3, cấu trúc đối xứng, nhiều từ được láy lại tạo âm điệu tươi vui, quấn quýt.

+ Những hình ảnh thơ cụ thể “cha”, “mẹ”, “chân phải”, “chân trái”, “một bước”, “hai bước”, “tiếng nói”, “tiếng cười” tạo nên khung cảnh gia đình ấm cũng, quây quần,…

+ Các động từ “cài”, “ken” vừa miêu tả chính xác động tác khéo léo trong lao động vừa gợi sự gắn bó, quấn quýt của những con người quê hương trong cuộc sống lao động.

– Con còn lớn lên trong sự đùm bọc của “người đồng mình” và sự che chở của thiên nhiên, núi rừng quê hương:

Rừng cho hoa Con đường cho những tấm lòng.

+ “Rừng cho hoa” là vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng cho con người.

+ “Con đường cho những tấm lòng” là vẻ đẹp của tình người.

+ Động từ “cho” mang nặng nghĩa tình, thể hiện sự che chở, nuôi dưỡng của thiên nhiên quê hương.

Cha tự hào nói với con về sức sống bền bỉ, mãnh liệt cùng những truyền thống cao đẹp của quê hương với mong ước con sẽ kế tục xứng đáng những truyền thống ấy:

– “Người đồng mình” là những con người biết lo toan và giàu mơ ước:

Người đồng mình thương lắm con ơi!

Cao đo nỗi buồn

Xa nuôi chi lớn.

+ Bằng cách tư duy độc đáo của người miền núi, Y Phương đã lấy cái cao vời vợi của trời để đo nỗi buồn, lấy cái xa của đất để đo ý chí con người.

+ Sắp xếp tính từ “cao”, “xa” trong sự tăng tiến, nhà thơ cho thấy khó khăn, thử thách càng lớn thì ý chí con người càng mạnh mẽ.

– “Người đồng mình” dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn.

Sống trên đá không chê đá gập gềnh Sống trong thung không chê thung nghèo đói

– Cuộc sống của họ tràn đầy niềm vui và lòng lạc quan:

Sống như sông như suối

Lên thác xuống ghềnh

Không lo cực nhọc

+ Điệp ngữ “sống”, “không chê”, thành ngữ “lên thác xuống ghềnh”, hình ảnh so sánh “như sống”, “như suối” đã nhấn mạnh: người đồng mình có thể nghèo nàn, thiếu thốn về vật chất nhưng họ không thiếu ý chí và quyết tâm.

– Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc:

Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục.

+ Cụm từ “thô sơ da thịt” là cách nói ca ngợi những con người mộc mạc, giản dị, chất phác.

+ Hình ảnh “đục đá kê cao quê hương” có hai lớp nghĩa. Lớp nghĩa tả thực là nói về hoạt động làm nhà kê đá cho cao của người miền núi. Nghĩa ẩn dụ, nói “đục đá kê cao quê hương” là sự khái quát về lòng tự tôn dân tộc, ý thức bảo vệ cội nguồn của người đồng mình.

Kết thúc bài thơ là lời nhắn nhủ , dặn dò của cha. Cha mong con biết tự hào về những truyền thống tốt đẹp của “người đồng mình”, của quê hương. Con hãy lấy đó làm hành trang để vững bước trên đường đời:

Con ơi tuy thô sơ da thịt Không bao giờ nhỏ bé được

+ Trong hành trang của người con mang theo khi “lên đường” có một thứ quý giá hơn mọi thứ trên đời, đó là ý chí, nghị lực, truyền thống quê hương.

+ Con phải sống xứng đáng với điều đó và hãy luôn tự tin vì sau lưng con luôn có gia đình và quê hương làm điểm tựa.

+ Hai tiếng “Nghe con” chứa đựng tấm lòng yêu thương mà người cha gửi gắm nơi con.

C. Kết bài:

– Lời thơ tâm tình của người cha sẽ là hành trang đi theo con suốt cuộc đời và có lẽ mãi mãi là bài học bổ ích cho các bạn trẻ – bài học về niềm tin, nghị lực, ý chí vươn lên.

– Bài thơ thể hiện tình cảm gia đình ấm cúng, ca ngợi truyền thống cần cù, sức sống mạnh mẽ của quê hương và dân tộc.

Soạn Bài Nghị Luận Về Một Bài Thơ, Đoạn Thơ Văn Lớp 12 Trang 84 (Ngắn Gọn): Hãy Phân Tích Đoạn Thơ Sau Trong Bài Thơ “Tràng Giang” Của Huy Cận

Soạn bài Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ môn Ngữ văn lớp 12 trang 84 (ngắn gọn). Hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận. Mở bài: Giới thiệu Huy Cận, bài thơ Trường Giang và đoạn thơ phân tích…

Đối tượng của bài nghị luận về thơ rất đa dạng (một bài thơ, một đoạn thơ, hình tượng thơ,…). Với kiếu bài này, cần tìm hiếu từ ngữ, hình ánh, âm thanh, nhịp điệu, cấu tứ,… của bài thơ, đoạn thơ đỏ.

Bài viết thường có các nội dung sau :

+ Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ. .

+ Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ.

+ Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ.

Đề bài: Hãy phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa. Dàn ý chi tiết:

1. Mở bài: Giới thiệu Huy Cận, bài thơ Trường Giang và đoạn thơ phân tích.

2. Thân bài

* Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ, cảm xúc bao trùm bài thơ.

* Nội dung đoạn thơ bao quát cảnh và tình trong toàn bộ bài thơ

– Hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên vào lúc chiều tà.

+ Một nét vẽ mây núi hùng vĩ.

+ Một cánh chim nhỏ tựa như bóng chiều rơi xuống.

Thủ pháp tương phản giữa vũ trụ bao la với cá thể nhỏ nhoi làm nổi bật lên nỗi lòng người trong cảnh: cô đơn, nhỏ bé, chấp chơi giữa cuộc đời.

– Hai câu sau thể hiện nỗi nhớ nhà, nhớ quê dâng ngập lòng người (tựa như con sóng bao phủ dòng sông). Đó là nỗi khát khao tìm một chỗ dựa cho tâm hồn cô đơn, trống trải (nó không phải là nỗi nhớ nhà thông thường của một người xa quê).

Nghệ thuật dùng từ láy âm “dợn dợn” lấy cái không có ở ngoại cảnh (không khói hoàng hôn) để nói cái có ở lòng người (nhớ nhà).

* Đánh giá nội dung và nghệ thuật đoạn thơ

– Đoạn thơ nói lên được nỗi niềm bơ vơ, buồn bã của “cái tôi” trữ tình. Cảm xúc hướng về quê hương cũng là một cách gửi gắm nỗi niềm yêu nước thầm kín của nhà thơ.

– Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển ở hình thức ngôn ngữ, ở bút pháp tả cảnh, tả tình.

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Cách Làm Bài Văn Nghị Luận Về Một Đoạn Thơ, Bài Thơ trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!