Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa (Siêu Ngắn) # Top 8 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa (Siêu Ngắn) # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa (Siêu Ngắn) được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Soạn bài Ca dao than thân và ca dao yêu thương, tình nghĩa

I. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 1, 2

a.

– Người than thân: cô gái trẻ

– Thân phận của họ: gian truân, long đong, lận đận, phụ thuộc vào người khác.

b.

– Bài 1: người phụ nữ – tấm lụa đào.

+ Thân phận trôi nổi, chơi vơi, mất phương hướng trong cuộc đời.

– Bài 2: người phụ nữ – củ ấu gai.

+ Lời khẳng định phẩm chất và vẻ đẹp của người con gái

+ Nỗi ngậm ngùi, chua xót cho thân phận người con gái.

Câu 2 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 3

a.

– Cách mở đầu, motip dùng từ “Ai”

– Từ “ai” gợi sự than trách nghe xót xa, ngậm ngùi.

b.

– Hình ảnh ẩn dụ: mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai (chỉ hai người xứng đôi vừa lứa).

– Biện pháp so sánh: “ta như sao vượt chờ trăng giữa trời”: khẳng định sự thủy chung, son sắt của lòng người.

c.

– Câu thơ cuối sử dụng biện pháp so sánh.

+ Lời khẳng định về tình nghĩa thủy chung, son sắt.

+ Ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu.

+ Khát khao mong tình yêu có thể cập đến bến bờ hạnh phúc.

Câu 3 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 4

– Thủ pháp nghệ thuật:

+ Ẩn dụ: khăn, đèn.

+ Hoán dụ: mắt.

+ Phép điệp: “Khăn thương nhớ ai”: nhấn mạnh tô đậm, nỗi nhớ.

+ Câu hỏi tư từ: “khăn thương nhớ ai?”, “Đèn thương nhớ ai?”, “Mắt thương nhớ ai?”: sự nhớ nhung, bồn chồn, trằn trọc thâu đêm.

+ Câu thơ ngắn gồm 4 tiếng kết hợp với câu lục bát nhấn mạnh sự mong ngóng, trông chờ, khắc khoải của người con gái.

Câu 4 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 5

– Chiếc cầu – dải yếm trong ca dao tình yêu.

+ Lời ước muốn của cô gái và cũng là lời nói thầm với người yêu.

+ Thổ lộ ước muốn bằng một ý tưởng độc đáo, táo bạo.

– Những bài ca dao xuất hiện hình ảnh chiếc cầu cùng với ý nghĩa tương tự:

Hai ta cách một con sông

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang

– Gừng – muối: biểu trưng cho hương vị của tình người – tình nghĩa thủy chung, gắn bó, sắt son.

– Một số bài ca dao có biểu tượng muối – gừng:

Tay nâng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.

Câu 6 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng:

+ Nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, hoán dụ.

+ Những hình ảnh (motip) mở đầu.

+ Thể thơ: lục bát, lục bát biến thể.

– Những biện pháp này có nét riêng so với nghệ thuật thơ của văn học viết:

+ Nó mang nhiều dấu ấn cộng đồng.

+ Đều quen thuộc, dễ nhận ra.

+ Thơ bác học mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ, trang trọng và quy phạm hơn.

II. Luyện tập

Câu 1 (trang 85 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

– Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

– Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ dưới chợ biết vào tay ai

– Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

– Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân

Các bài ca dao mở đầu bằng “thân em…” có sắc thái ý nghĩa sau:

– Than thân, hờn trách người không biết trân trọng vẻ đẹp của người con gái.

– Tủi thân, thương cho số phận mình.

– Sự ý thức cao về giá trị và vẻ đẹp của bản thân mình.

Câu 2 (trang 85 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

-Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn cái điếu xuống lại đào điếu lên.

-Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

-Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa.

-Nhớ khi khăn mở trầu trao

Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống những bài ca dao nỗi nhớ người yêu.

Câu thơ “Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) lấy ý từ ca dao nhưng khái quát lên cấp độ cao hơn khi tình cảm lứa đôi hòa quyện vào tình yêu đất nước.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa (Siêu Ngắn)

+ Bài ca dao 1, 2: Là những bài ca dao than thân thường gặp. Là những lời than bộc bạch cảm xúc than thân trách phận của người phụ nữ về số phận cuộc đời

+ Bài ca dao 3, 4, 5, 6: Ca dao yêu thương tình nghĩa. Những bài ca dao đều có nội dung chung là bộc bạch, giãi bày tâm sự, thể hiện tình cảm yêu thương, nỗi nhớ nhung mong chờ, sự yêu thương, tấm lòng tình nghĩa giữa người với người.

a. Hai lời than thân đều có câu mờ đầu bằng ” Thân em như…”

àNgười than thân hay chủ thể được nhắc đến trong câu ca dao có thể là người con gái hay người phụ nữ. Họ chỉ là những người tồn tại bình thường trong xã hội cũ, cuộc sống không có quyền lựa chọn, không được hưởng những an nhàn, hạnh phúc mà phải gồng gánh những nặng nhọc, đớn đau, khó nhọc, phó mặc mình cho những may rủi cuộc đời.

b.

– Hình ảnh tấm lụa đào phất phơ giữa chợ:

→ tấm lụa đào: lụa đào là một loại lụa đẹp nhất, sang nhất, chất lượng nhất à ẩn dụ cho hình ảnh của người con gái đẹp cả về nhan sắc cả về phẩm chất, nét đẹp này vừa nhẹ nhàng, thướt tha, vừa cao quý, sang trọng

→ phất phơ giữa chợ: trạng thái bất định của tấm lụa hay cũng chính là sự bất định trong cuộc đời người phụ nữ; họ luôn sống trong chông gai, bấp bênh, không có lấy một bến đỗ bình yên

⇒ Thể hiện nỗi đau, nỗi xót xa đến thấu tâm can trước tình cảnh éo le của những người bị khinh thường, thân phận bị rẻ rúng, bị coi như một món hàng để đổi chác giữa chợ

– Hình ảnh củ ấu gai

→ vỏ ngoài đen: cái nhìn bể nổi với vẻ ngoài xù xì, không được trau chuốt, không bắt mắt

→ ruột trong trắng: đây là “tảng băng chìm”, là vẻ đẹp tiềm ẩn, nó chỉ thể hiện ra khi có sự tìm hiểu nhất định

⇒ Thể hiện sự buồn bã, nỗi đau, sự thất vọng của người phụ nữ về cuộc đời, về số phận lắm những chông gai, trắc trở của mình. Họ không được đánh giá một cách công tâm, đúng mực chỉ vì hình thức bên ngoài; chính điều đó đã cản trở họ bước đi, cản trở họ cố gắng. Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận thì trong chính bản thân họ đã ngời sáng vẻ đẹp phẩm chất đáng quý, đó là vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng hơn bất cứ thứ gì.

a. – Bài ca dao này không mở đầu một cách trực tiếp bằng cụm từ than thân “thân em”. Ở đây, sử dụng đại từ phiếm chỉ “ai” với cách nói đẩy đưa, vừa lời mời gợi chuyện, vừa tạo cảm hứng. Bài ca dao không chỉ đích danh một đối tượng cụ thể nào mà sử dụng hình thức của một câu hỏi tu từ nhằm giải tỏa, giãi bày suy tư, cảm xúc.

b. – Đại từ phiếm chỉ “ai” với câu hỏi tu từ ở đây mang hàm ý nói đến những yếu tố làm cản trở sự nên duyên lứa đôi. Thế nhưng cản trở không có nghĩa sẽ buông xuôi, người con trai vẫn giữ trọn nghĩa tình. Và để làm nổi bật điều này tác giả dân gian sử dụng biện pháp so sánh ẩn dụ qua các hình ảnh cụ thể như: sao Hôm, sao Mai, sao Vượt, trăng , trời. Rõ ràng, các yếu tố tự nhiên thì muôn đời không thay đổi cũng như tình cảm vậy, một lòng thủy chung, bển bỉ. Như vậy, tác giả muốn khẳng định tính vĩnh cửu của tình cảm cũng sánh ngang với những yếu tố của tự nhiên

c. – Sao Vượt là cách gọi khác của sao Hôm, hay chính là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc lên rất sớm, vào khoảng buổi chiều, khi sao đã đến đỉnh bầu trời thì mới là lúc trăng mới bắt đầu lên. Vì thế câu thơ cuối là lời khẳng định chắc chắn, là minh chứng cho sự thủy chung của tình yêu cũng như sức mạnh của tình yêu là động lực để người ta vượt mọi khó khăn, chông gai .

– Nỗi nhớ luôn là trạng thái tâm lý, tình cảm khó nắm bắt, khó nhận thấy. Vậy nhưng nỗi nhớ trong bài ca dao như tan ra như hòa vào lòng người nhờ những thủ pháp nghệ thuật như sử dụng các hình tượng nghệ thuật: nhân hóa, hoán dụ và biện pháp điệp – Hiệu quả nghệ thuật:

→ biện pháp điệp tạo ra những điểm nhấn nhất định, dẫn dắt mạch cảm xúc, tạo điểm đọng cho suy tư, tất cả như đang cất lên tiếng lòng, vang lên lời tâm sự thay cho nhân vật trữ tình. Nỗi nhớ dường như trào về nhanh hơn, mãnh liệt hơn, ngổn ngang trăm lối.

→ kết hợp với cách gieo vần ở cuối mõi câu thơ không chỉ cos tác dụng tạo nhịp điệu, nối liền mạch cảm xúc bài thơ mà còn khiến nỗi nhớ như trải dài theo nhịp thơ, theo nhịp thời gian, bao trùm không gian.

→ Như vậy, bằng những biện pháp nghê thuật nỗi nhớ đã xuất hiện không chỉ tràn đầy trong nhân vật trữ tình mà còn tràn đầy trong lòng người đọc. Nó trở nên cụ thể và dễ cảm nhận hơn bao giờ.

– Xưa nay hình ảnh chiếc cầu luôn gần gũi, quen thuộc và không hề xa lạ đối với thơ ca. Ở đây, trong câu ca dao đang bàn luận thì Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh ẩn dụ. Nó dường như thể hiện cho ước mơ lứa đôi, sự nên duyên, cho chiếc cầu nối cho những mối lương duyên, cho những tình cảm chứa chan mà bị ngăn cách, gắn kết tình cảm giữa người với người.

– Đây là một câu ca dao đầy trữ tình, đậm chất họa, chất thơ một hình ảnh vừa lạ, vừa quen lại rất độc đáo, rất táo bạo. Chiếc cầu cũng chính là văn hóa, là truyền thống cho sự giản dị, thân quen của nền văn; chiếc yếm hay chính là vật kỉ niệm, vật trao duyên biểu trưng cho tình yêu màu hồng của tuổi trẻ. Trong câu ca dao hai hình ảnh kết hợp tạo nên chiếc ” cầu dải yếm” là cái nhìn, là phép liên tưởng chỉ xuất hiện ở ca dao, thể hiện mơ ước lứa đôi đầy táo bạo nhưng cũng rất chính đáng. Câu 5 (trang 84 sgk Văn 10 Tập 1):

– Muối và gừng là những hình ảnh quen thuộc trong ca dao Việt Nam bởi lẽ, xét về tính chất thì chúng mang nhiều đặc điểm tương đồng với tính cách, tình cảm con người. Gừng cay đấy nhưng sau cay còn để lại dư vị, muối mặn đấy nhưng sau cái mặn mà lại là hậu vị rõ ràng. Cả hai đều cần thiết trong cuộc sống của con người, đều thỏa mãn những nhu cầu nhất định cũng như đem lại cảm giác thoải mái… Cũng bởi thế gừng và muối được ví như tình cảm của con người, luôn nồng hậu, mặn mà, chân thành nhất

– Muối mặn – gừng cay là biểu trưng cho tình nghĩa, tình cảm trước sau như một, không dễ gì lung lay, không dễ gì xoay chuyển, luôn giữ nồng đượm

– ba năm- chín tháng, ba vạn sáu ngàn ngày là biểu trưng cho những mốc thời gian trong cuộc đời, cho sự lâu dài, bền bỉ, vĩnh cửu, vĩnh hằng đến suốt cả cuộc đời

– Một số câu ca dao khác:

Muối mặn ba năm còn mặn,

Gừng cay chín tháng còn cay

Để anh lên xuống cho dày,

Bao giờ thầy mẹ không gả, em cũng bày mùi cho

Hạt muối ba năm còn mặn

Lát gừng cay sắc chín nước còn cay

Anh thương em cha mẹ không hay

Ngọn đèn trao trước gió, chẳng biết xoay phương nào

– Những biện pháp nghệ thuật thường được dùng trong ca dao gồm: các biện pháp nghê thuật so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp ngữ, nói quá, các hình tượng nghệ thuật quen thuộc trong đời sống…

– Về các biện pháp nghệ thuật như so sánh, ẩn dụ, hoán dụ thì ca dao thường sử dụng những hình ảnh thân thuộc, gần gũi, bình dị, đơn giản gắn với đời sống sinh hoạt, lao dộng thường ngày của nhân dân sao cho tạo được giá trị lớn nhất, tạo được ấn tượng với người đọc và thể hiện một cách trọn vẹn nhất, đủ đầy nhất những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc đến với nhân dân

“Thân em như thể bèo trôi

Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu”

“Thân em như miếng cau khô

Người thanh tham mỏng, người thô tham dày”

“Thân em như cá giữa rào

Kẻ chài, người lưới biết vào tay ai ?”

“Thân em như trái bần trôi

Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu”

“Thân em như cam quýt bưởi bòng

Ngoài tuy cay đắng trong lòng ngọt ngon”

Các bài ca dao trên đều bắt đầu với tiếng than ” Thân em…” là ca dao than thân, trách phận. Nhìn chung các bài ca dao này đều mang đến sắc thái biểu cảm là:

– Lời than trách, nỗi buồn, sự bất lực, hờn dỗi và tủi thân của người con gái khi bản thân không được trân trọng, không được bứt phá, khi vẻ đẹp luôn bị chìm sâu bởi vỏ bọc xấu xí, khi nét duyên dáng của mình bị đánh giá sai lầm

– Thể hiện được cái nhìn, sự nhận thức, ý thức tự đánh giá bản thân của người con gái về giá trị cao đẹp, đáng quý của mình

Rủ nhau xuống biển mò cua

Đem về nấu quả mơ chua trên rừng

Em ơi, chua ngọt đã từng

Non xanh nước bạc xin đừng quên nhau

Nhớ ai em những khóc thầm

Hai hàng nước mắt đầm đầm như mưa

Nhớ ai ngơ ngẩn, ngẩn ngơ

Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Như đứng đống lửa, như ngồi đống rơm

Khăn đào vắt ngọn cành mai

Mình xuôi đàng ấy, bao giờ mình lên

Em xuôi em lại ngược ngay

Sầu riêng em để trên này cho anh

Ước gì anh hóa ra hoa

Để em nâng lấy rồi mà cài khăn

Ước gỉ anh hóa ra chăn

Để cho em dắp, em lăn, em nằm

Ước gì anh hóa ra gương

Để cho em cứ ngày thường em soi

Ước gì anh hóa ra cơi

Để cho em đựng cau tươi trầu vàng.

Em về anh mượn khăn tay

Gói câu tình nghĩa, lâu ngày sợ quên.

– Câu thơ “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” là câu thể hiện sự yêu thương tình nghĩa. Sử dụng hình ảnh “khăn” rất gần gũi, thân thuộc cả trong ca dao và trong đời sống để truyền tải nỗi nhớ của “em” đối với “anh”. Từ đó, mở rộng ra là nỗi nhớ lớn hơn, là tình cảm, tình nghĩa, mỗi quan hệ gắn bó giữa con người với con người, xa hơn nữa là nỗi nhơ que hương, đất nước, là tình đồng bào thủy chung, tình cảm dân tộc khăng khít. Tóm lại, tình cảm cá nhân đã hòa chung trong tình cảm cộng đồng. Như vậy, câu thơ đem đến định nghĩa mới về Đất Nước: Đất Nước không chỉ có tình cảm lứa đôi mà còn có tình cảm đồng bào, tình cảm lứa đôi đã hòa chung với tình yêu đất nước.

Nhận xét – Ý nghĩa

Qua những bài ca dao than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa, học sinh hiểu, nhận thức đúng đắn và cảm nhận được những đắng cay, tủi hờn, những vất vả, gian nan của người phụ nữ trong xã hội cũ đồng thời nhìn nhận được vẻ đẹp trong tình yêu quê hương, đất nước, con người, tình cảm gắn bó thủy chung giữa con người. Qua những bài ca dao đã được phân tích, học sinh có thể tự tổng hợp kiến thức nhằm nhận thức nghệ thuật điển hình sử dụng trong ca dao và giá trị biểu đạt của những biện pháp đó.

Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

Soạn bài Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 1,2

a. Hai lời than thân đều mở đầu bằng “Thân em như…” với âm điệu xót xa, ngậm ngùi, gây ấn tượng cho người nghe. Lời than thân là của những cô gái, những người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Những số phận bé nhỏ, không có quyền định đoạt hạnh phúc của chính bản thân mình.

b. Thân phận có nét chung nhưng nỗi đau của từng người lại mang sắc thái riêng được diễn tả bằng hình ảnh so sánh, ẩn dụ khác nhau.

Bài 1:

Cách mở đầu bằng “Thân em như…” cho thấy người phụ nữ ý thức được sắc đẹp, tuổi xuân của mình nhưng số phận lại rẻ mạt, không có quyền quyết định hạnh phúc của mình. Họ như món hàng – “tấm lụa đào” bị bán ở chợ. Ý thức được điều ấy, người phụ nữ gửi gắm tiếng lòng của mình vào hai câu ca dao. Hai câu ca dao ấy đã nói lên nỗi xót xa, lo lắng cho thân phận mình.

Bài 2:

Cũng mở đầu bằng cụm “Thân em như…” nhưng bài này có 4 dòng – dung lượng dài gấp đôi bài trên cho thấy sự ý thức về thân phận của người phụ nữ trở nên rõ ràng, mạnh mẽ hơn. Từ đó, bài ca dao không chỉ đơn giản là khẳng định vẻ đẹp phẩm chất của người phụ nữ nữa mà nó còn là lời mời mọc, mong muốn, khát khao được khẳng định giá trị, vẻ đẹp của những người phụ nữ trong xã hội xưa.

Câu 2 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 3

a. Nếu như hai bài ca dao trên mở đầu bằng “Thân em như…” thì bài ca dao này lại được mở đầu bằng đại từ phiếm chỉ “Ai” – một từ cũng khá quen thuộc trong ca dao xưa. Trong ca dao, từ “Ai” thường dùng để chỉ các thế lực ép gả, ngăn cản tình yêu và trong bài ca dao này cũng như vậy. “Ai” ở đây có thể là cha mẹ, những hủ tục cưới xin hay cũng có thể là chính người tình…

b. Mặc dù lỡ duyên nhưng tình nghĩa vẫn bền vững, thủy chung. Điều đó được nói lên bằng một hệ thống những hình ảnh của thiên nhiên vũ trụ: mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai. Tác giả dân gian đã lấy cái vĩnh hằng, bất biến của thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tính bền vững, sự thủy chung trong tình yêu, dù không ở gần nhau nhưng mãi mãi có nhau.

c. Vẻ đẹp của câu thơ cuối: Dẫu không đến được với nhau nhưng chàng trai vẫn một lòng chờ cô gái: “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”. Dù cho có cách xa nhưng chàng trai vẫn một lòng thủy chung chờ cô gái dẫu biết tình yêu này là không thể như sao Vượt chờ mặt trăng nhưng mãi mãi không thể đến gần nhau được.

Câu 3 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 4:

– Bài ca dao diễn tả tình cảm thương nhớ của lứa đôi yêu nhau qua những biểu tượng bình dị, gần gũi: khăn, đèn, mắt. Tác giả dân gian đã sử dụng phép nhân hóa (khăn, đèn) và phép hoán dụ (mắt) để bộc lộ một cách ý nhị, kín đáo tâm tư, tình cảm của cô gái đối với người mình yêu.

+ Chiếc khăn được hỏi đến đầu tiên và nhiều nhất thể hiện nỗi nhớ triền miên, da diết cùng với đó là sự vận động lên, xuống, rơi, vắt làm hiện lên một cách rõ ràng tâm trạng bất an của người con gái.

+ Ngọn đèn: hiện thân của nỗi nhớ được đo theo thời gian, thể hiện tình yêu của người con gái luôn cháy sáng, không bao giờ lụi tắt.

+ Đôi mắt: là lời bộc bạch trực tiếp nỗi lòng của mình: nhớ thương người yêu nhưng lòng vẫn nặng trĩu ưu tư nên “Mắt ngủ không yên”.

Câu 4 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 5

– Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao, nói lên ước muốn mãnh liệt của người dân trong tình yêu. Đây là lời tỏ tình đầy ý nhị của cô gái. Có thể thấy đây là hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện trong ca dao:

“Cô kia cắt cỏ bên sông

Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.”

– Đó là những cây cầu không có thực nhưng lại mang đến cho người đọc vẻ đẹp rất dân gian, rất đồng quê và rồi từ đó ước muốn của cô gái trở nên độc đáo, táo bạo hơn:

“Ước gì sông rộng một gang,

Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.”

– Người con gái đã chủ động bắc cầu cho người mình yêu. Đây là một suy nghĩ rất táo bạo trong xã hội phong kiến đầy những hủ tục, những ràng buộc của lễ giáo. Cái cầu dải yếm này vừa gần gũi thân quen, táo bạo mà trữ tình, lại đằm thắm đầy nữ tính. Nó trở thành biểu tượng đẹp cho tình yêu mà chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian mới sáng tạo ra được.

Câu 5 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Bài 6

– Hình ảnh muối – gừng: được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong cuộc sống ( gia vị trong bữa ăn) tượng trưng cho tình nghĩa của con người: sự gắn bó thủy chung khi trải qua hết những “vị” của cuộc sống (Gừng cay – muối mặn)

– Giá trị biểu cảm của hình ảnh muối – gừng trong bài ca dao:

+ Là nghĩa tình chung thủy dành cho những cặp vợ chồng

+ Nghĩa tình ấy bền vững như Muối ba năm muối đang còn mặn – Gừng chin tháng gừng hãy còn cay

+ Hương vị của gừng – muối đã thành hương vị của tình người

+ Khẳng định lòng chung thủy sắt son, không bao giờ xa cách

Câu 6 (trang 84 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Sự lặp lại cách mở đầu bài ca: Thân em như…

– Những hình ảnh thành biểu tượng trong ca dao: cái cầu, tấm khăn, ngọn đèn, gừng cay – muối mặn,…

– Hình ảnh so sánh, ẩn dụ (lấy từ trong cuộc sống đời thường: tấm lụa đào, củ ấu gai,…; lấy từ thiên nhiên, vũ trụ: mặt trời, trăng, sao)

– Thời gian và không gian nghệ thuật (bài 4)

– Thể thơ lục bát; thể văn bốn, song thất lục bát (biến thể); thể hỗn hợp

Luyện tập

Bài 1 (Trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Thân em như hạt mưa sa

Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày

Thân em như hạt mưa rào

Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu

Thân em như miếng cau khô

Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày

Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

Các bài ca dao nói về thân em có sắc thái biểu cảm:

+ Than thân, hờn trách người không biết trân trọng vẻ đẹp của người con gái

+ Sự ý thức cao về giá trị của bản thân của người con gái.

Bài 2 (trang 85 sgk ngữ văn 10 tập 1)

Nhớ ai như nhớ thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên

Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai?

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

Buồn trông chênh chếch sao mai

Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ.

Gửi khăn, gửi áo, gửi lời

Gửi đôi chàng mạng cho người đàng xa

Nhớ khi khăn mở trầu trao

Miệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình.

Bài ca dao Khăn thương nhớ ai nằm trong hệ thống những bài ca dao nỗi nhớ người yêu.

Câu thơ: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm) lấy ý từ ca dao nhưng sáng tạo vượt bậc khi tình cảm nam nữ hòa quyện vào tình yêu đất nước.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

Tuần 9. Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

1.Khái niệm : – Là lời thơ trữ tình dân gian thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng; được sáng tác để diễn đạt thế giới nội tâm của con người.

2.Phân loại ca dao : – Ca dao trữ tình. – Ca dao hài hước.I.TIỂU DẪN3.Hình thức nghệ thuật : – Thể thơ :

– Ngôn ngữ :

– Biện pháp nghệ thuật :I.TIỂU DẪNCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

phần lớn là lục bát, lục bát biến thể.ngắn gọn, giàu hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.

ngôn ngữ gần gũi với lời nói hàng ngày so sánh, ẩn dụ, diễn đạt 1 số công thức1.Khái niệm :2.Phân loại1.Ca dao than thân : bài 1, 2. a.Bài 1 Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUngười phụ nữ.dịu dàng.1.Ca dao than thân : bài 1, 2. a.Bài 1 -Tấm lụa đào

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUđẹpquícó giá trịnhư món hàng.câu hỏi tu từ lời than vì không thể quyết định được số phận. chúng tôi dao than thân : bài 1, 2. a.Bài 1

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUgiá trị thực : vẻ đẹp tâm hồn.– “Ai ơi, nếm thử”2.Bài 3 : Yêu thương Trèo lên cây khế nữa ngàyAi làm chua xót lòng này, khế ơi! Mặt Trăng sánh với Mặt TrờiSao Hôm sánh với Sao Mai chằng chằng. Mình ơi! Có nhớ ta chăng?Ta như Sao Vượt chờ trăng giữa trời.CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂU1.Bài 1,2 Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai. Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt không ngủ yên. Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề…CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂU“Gần đây mà chẳng sang chơiĐể em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu” “Hai ta cách một con sôngMuốn sang anh ngả cành hồng cho sang”“Cách nhau có một con sôngMuốn sang anh bẻ cành trầm cho sang”1.Bài 1,22.Bài 33.Bài 45.Bài 6 : Tình nghĩa Muối ba năm muối đang còn mặn Rừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dàyCó xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xaCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

2.Bài 31.Bài 1,23.Bài 44.Bài 5Nội dung : Nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ được bộc lộ chân tình và sâu sắc. Nghệ thuật : Hình ảnh so sánh, ẩn dụ, tượng trưng. Ngôn ngữ : giản dị, gần gũi, mộc mạc. Giọng điệu : nhẹ nhàng, tình cảm.I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

III.TỔNG KẾT2.Bài 31.Bài 1,23.Bài 44.Bài 5 ” Chòng chành như nón không quaiNhư thuyền không lái, như ai không chồng Gái có chồng như gông đeo cổ,Gái không chồng như phản gỗ long lanh. Phản gỗ long lanh anh còn chữa được,Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi. Không chồng, khổ lắm chị em ơi!”

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài Ca Dao Than Thân Và Ca Dao Yêu Thương, Tình Nghĩa (Siêu Ngắn) trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!