Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Bến Quê – Ngữ Văn 9 Tập 2 # Top 3 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Soạn Bài: Bến Quê – Ngữ Văn 9 Tập 2 # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Soạn Bài: Bến Quê – Ngữ Văn 9 Tập 2 được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu trong SGK Ngữ văn 9 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Truyện ngắn Bến quê được in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh Châu, được xuất bản năm 1985.

* Thể loại: truyện ngắn

* Tóm tắt:

Truyện kể về nhân vật Nhĩ là người đàn ông từng trải, anh đã từng đi nhiều vùng đất nhưng cuối đời lại bị cột chặt vào giường bệnh. Khi nhìn sang bãi bồi bên kia sông nơi bến quê quen thuộc, anh Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp bình dị, gần gũi của quê hương mình. Và khi trên giường bệnh, anh mới có thể cảm nhận được những nỗi vất vả, tình thương và đức hi sinh của vợ mình, người chung chăn gối với anh bao năm qua. Nhĩ khát khao đặt chân lên bãi bờ bên kia sông nhưng bệnh tật không cho phép, anh liền nhờ đứa con trai của mình. Thế nhưng, đứa con lại không hiểu được ước muốn của cha, nó miễn cưỡng đi và bị hút vào trò chơi hấp dẫn trên đường làm lỡ mất chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Qua đó, Nhĩ chiêm nghiệm được cái quy luật đầy nghịch lí : “con người ta khó tránh được cái vòng vèo, chùng chình, phải dứt ra khỏi nó để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống”.

Phần 2: còn lại: Cảm nhận của nhân vật Nhĩ về con người và cuộc sống.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Nhân vật Nhĩ trong truyện ở vào hoàn cảnh là: thời trẻ thì được đi nhiều, về cuối đời lại mắc căn bệnh hiểm nghèo, bị cột chặt vào giường bệnh đến nỗi không thể tự mình di chuyển được. Chính nhờ hoàn cảnh đó mà Nhĩ mới phát hiện ra vẻ đẹp của bãi bờ bên kia sông và vẻ đẹp của người vợ cực nhọc.

* Xây dựng tình huống ấy, tác giả muốn nhắn nhủ với mọi người rằng cuộc sống của con người có rất nhiều những điều bất thường, những nghịch lí trớ trêu, mỗi chúng ta nên biết trân trọng những gì tốt đẹp xung quanh mình.

Câu 2:

* Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, khi nằm trên giường bệnh, Nhĩ đã nhìn thấy ở bên ngoài cửa sổ, vòm trời như cao hơn, nhìn thấy những bông hoa bằng lăng cuối mùa, sông Hồng màu đỏ nhạt, bãi bồi màu mỡ,…

* Niềm khao khát của Nhĩ chính là được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông.

* Nhĩ có niềm khao khát đó là do anh đã chợt nhận ra bấy lâu nay, mình đã đi nhiều nơi mà lại bỏ quên những vẻ đẹp bình dị, gần gũi ngay trên chính quê hương mình, anh cảm thấy nuối tiếc về quãng đời trước đây của mình.

Câu 3:

Có thể nói, ngòi bút miêu tả tâm lí của Nguyễn Minh Châu ở thiên truyện này rất tinh tế và thấm đượm tinh thần nhân đạo:

Tinh tế: Nhân vật Nhĩ có những suy nghĩ về lẽ sống, về cuộc đời rất cụ thể và sâu sắc. Thiên nhiên qua con mắt của Nhĩ hiện ra thật đẹp, đó là những cảnh đẹp chỉ có thể được cảm nhận bằng những cảm xúc tinh tế (những chùm hoa bằng lăng, con sông Hồng màu đỏ nhạt).

Thấm đượm tinh thần nhân đạo: Tác giả đặt nhân vật vào hoàn cảnh hiểm nghèo để làm nổi bật lên khát vọng sống, và ông cũng cho người đọc thấy được giá trị quan trọng của gia đình, vào những ngày cuối đời, Nhĩ chỉ có gia đình là chỗ dựa.

Câu 4:

Ở đoạn kết truyện, tác giả đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với vẻ rất khác thường:

“Anh đang cố thu nhặt hết mọi sức lực… ra hiệu cho một người nào đó” chứng tỏ Nhĩ đang lo lắng và thúc giục cậu con trai sẽ có thể làm lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày. Miêu tả đoạn này, nhà văn muốn thức tỉnh mọi người về những cái vòng vèo mà chúng ta đang sa vào trên đường đời khó dứt khỏi để hướng tới những giá trị đích thực vốn gần gũi, giản dị ngay xung quanh chúng ta.

Câu 5:

Nhiều hình ảnh, chi tiết trong truyện này mang tính biểu tượng, ví dụ như:

Hình ảnh bãi bồi, bến sông, thiên nhiên bên ngoài khung cửa sổ ngoài ý nghĩa thực còn biểu tượng cho vẻ đẹp bình dị, gần gũi của quê hương.

Những bông hoa bằng lăng cuối mùa màu sắc như đậm hơn, tiếng những tảng đất lở ở bờ sông bên này đổ ụp vào giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng chính là những dấu hiệu báo hiệu cuộc đời của nhân vật Nhĩ đã ở vào những ngày cuối cùng.

Đứa con trai ham chơi của nhân vật Nhĩ gợi chúng ta liên tưởng đến những cái vòng vèo, chùng chình trong cuộc sống.

Câu 6:

Đoạn văn này thể hiện một triết lí mà nhà văn muốn gửi gắm: con người chúng ta trong cuộc sống, khó tránh khỏi những điều vòng vèo, chùng chình, đồng thời, thức tỉnh về những giá trị và vẻ đẹp đích thực của cuộc sống xung quanh.

Soạn Văn chúc các em học tập tốt!

Soạn Văn 9 Soạn Bài Bến Quê

Soạn văn 9 Soạn bài Bến quê thuộc phần: Bài 27 SGK Ngữ văn 9

I. Đọc hiểu văn bản

Bố cục: 3 phần

– Phần 1 (từ đầu … trước cửa sổ nhà mình): Tình cảnh của nhân vật Nhĩ qua cuộc trò chuyện của Nhĩ và Liên.

– Phần 2 (tiếp … lá buồm cánh dơi in bật trên một vùng nước đỏ): Hành trình sang bên kia sông của Tuấn.

Nội dung chính: Qua cảnh ngộ và tâm trạng của nhân vật Nhĩ, truyện Bến quê gửi gắm những suy nghĩ, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình, quê hương.

Trả lời câu 1 (trang 107 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Hoàn cảnh: Là một người từng đi khắp mọi nơi trên Trái Đất nhưng về cuối đời, Nhĩ lại bị buộc chặt vào giường bệnh bời một căn bệnh quái ác khiến anh gần như bị liệt toàn thân và sự sống của anh đã gần cạn kiệt. Anh không thể nào tự mình dịch chuyển được dù chỉ là nửa người trên giường bệnh. Cũng chính lúc này đây, Nhĩ mới phát hiện ra vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông.

– Xây dựng tình huống ấy, Nguyễn Minh Châu nhằm phát hiện những luật của đời sống và chiêm nghiệm triết lí về cuộc đời con người: cuộc sống đầy những bất ngờ và nghịch lí, bởi vậy nên biết trân trọng những giá trị tốt đẹp quanh mình.

Trả lời câu 2 (trang 107 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Nhĩ nhìn thấy: những bông bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ, con sông Hồng với màu đỏ nhạt đã vào thu, vòm trời và bãi bồi bên kia sông.

– Nhĩ khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Đó là một khao khát vô vọng vì lúc này đây anh sắp phải giã biệt cuộc đời.

Trả lời câu 3 (trang 108 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Sự tinh tế: Từ những cử chỉ ngại ngùng “không dám nhìn vào mặt con”, đến những câu hỏi Liên vì sợ rằng mình trở thành gánh nặng cho gia đình. Ngượng nghịu khi nói ra yêu cầu kì quặc của mình đối với đứa con trai. Lo sợ đứa con trai vì mải chơi mà không kịp chuyến đò. Tưởng tượng mình là đứa con trai đang ở trên chuyến đò đó. Thu nhặt hết chút sức lực cuối cùng để nhô mình ra ngoài cửa sổ, khoát khoát đứa con trai.

– Tinh thần nhân đạo: Dù trong hoàn cảnh hiểm nghèo, nhân vật vẫn ánh lên hi vọng được đi đến bãi bồi bên kia. Qua đó thể hiện tình yêu quê hương của nhân vật Nhĩ.

Trả lời câu 4 (trang 108 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Hành động khác thường của Nhĩ: khoát khoát tay với cậu con trai. Có thể được hiểu là anh đang rất nôn nóng thúc giục cậu con trai của mình hãy nhanh chóng lên kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày.

– Đây là ý muốn thức tỉnh mọi người về những cái vòng vèo, chùng chình để nhắn nhủ với người đọc những giá trị đích thực vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững.

Trả lời câu 5 (trang 108 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

– Hình ảnh bãi bồi bên kia sông: vẻ đẹp của đời sống trong những cái thực bình dị, gần gũi, thân thuộc.

– Những bông hoa bằng lăng cuối mùa màu sắc như đậm hơn, tiếng những tảng đất lở ở bờ sông bên này đổ ụp vào trong giấc ngủ của Nhĩ lúc gần sáng là hai chi tiết gợi ra cho biết sự sống của Nhĩ đã ở vàọ những ngày sau cuối.

– Đứa con trai của Nhĩ sa vào một đám chơi phá cờ thế: sự vòng vèo, chùng chình trong đời sống con người.

Trả lời câu 6 (trang 108 SGK Ngữ văn 9, tập 2):

II. Luyện tập

Trả lời câu 1 (trang 108 Ngữ Văn lớp 9 Tập 2):

Hình ảnh thiên nhiên gần gũi, quen thuộc, bình dị của một hàng cây, một con thuyền, dòng sông, bến đò, bãi bồi… Tất cả những hình ảnh tưởng chừng bình thường nhưng lại giàu giá trị biểu tượng.

Trả lời câu 2 (trang 108 Ngữ Văn lớp 9 Tập 2):

Đoạn văn trên là lời gửi gắm của tác giả về triết lý cuộc đời thông qua dòng suy nghĩ của nhân vật Nhĩ. Những dòng suy nghĩ ấy đã đánh thức trong mỗi người đọc về nghịch lý của cuộc sống. Con người ta trong cuộc sống sẽ gặp phải những vòng vèo, chùng chình khiến ta lãng quên mất những giá trị hạnh phúc, những vẻ đẹp bình dị mà bền lâu ở ngay xung quanh chúng ta như bãi bồi bên kia sông. Khi con trẻ, con người chỉ chăm chăm tìm kiếm những vẻ đẹp nơi phương xa mà không nhận ra chính gia đình, quê hương mình mới là những giá trị, những cái đẹp đích thực. Nhưng đến khi con người nhận ra được điều này thì đã muộn, cũng như Nhĩ, vì căn bệnh khiến liệt nửa người dưới mà anh không còn cơ hội để đặt chân lên bãi bồi bên kia sông nữa. Con trai anh là Tuấn cũng không thể giúp bố hoàn thành tâm nguyện cuối cùng.

được biên soạn và tổng hợp bởi các thầy cô giáo dạy giỏi môn văn lớp 9 giúp học sinh soạn bài, tóm tắt, phân tích, thuyết minh, nghị luận,… hay nắm bắt rõ cách soạn văn 9 như nào, cho thật ngắn gọn, dễ hiểu mà vẫn đủ ý chính. chúng tôi gửi tới các bạn học sinh đầy đủ các bài soạn văn lớp 9 hay nhất giúp các bạn học tốt môn ngữ văn 9.

Xem Video bài học trên YouTube

Giáo viên dạy thêm cấp 2 và 3, với kinh nghiệm dạy trực tuyến trên 5 năm ôn thi cho các bạn học sinh mất gốc, sở thích viết lách, dạy học

Soạn Văn 9 Siêu Ngắn Bài: Bến Quê

Trả lời

Nhân vật Nhĩ trong truyện ở vào một hoàn cảnh đặc biệt. Từng di khắp nơi, về cuối đời Nhĩ lại bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo, đến nỗi không thể tự mình dịch chuyển được.

Xây dựng tình huống truyện như vậy tác giả nhằm từ những chiêm nghiệm về cuộc sống của nhân vật dẫn bạn đọc đến những trải nghiệm về cuộc đời: cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, những nghịch lý, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết và toan tính của con người.

Trả lời

Trong buổi sáng đầu thu, khi sắp từ giã cõi đời, Nhĩ bỗng phát hiện ra những vẻ đẹp mà trước đây, dù có điều kiện đi khắp thế giới, anh đã không thể nhận thấy được: Một không gian từ những bông bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ đến con sông Hồng với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu, vòm trời và bãi bồi bên kia sông.

Khao khát của nhân vật đó là được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống, những giá trị thường bị người ta bỏ qua hay lãng quên khi những ham muốn xa vời đang lôi cuốn, đang lấn át.

Trả lời

Trong truyện ngắn này, ngòi bút miêu tả tâm lý của Nguyễn Minh Châu rất tinh tế và thấm đượm tinh thần nhân đạo. Ông đã xây dựng lên nhân vật trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy có suy ngẫm, tự trải nghiệm về cuộc đời với những suy nghĩ sâu sắc. Những suy nghĩ của nhân vật Nhĩ về lẽ sống, về cuộc đời, về những con người hết sức cụ thể như người vợ, đứa con và về chính cuộc đời mình. Trong con mặt của một người sắp từ giã cõi đời, cảnh vật trước mắt bỗng đẹp và đáng yêu kỳ lạ. Hình ảnh người vợ gầy guộc với bàn tay chan chứa yêu thương đã trở thành “nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này”. Sự thức nhận của Nhĩ về vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông được tô đậm thêm qua hình ảnh của đứa con – trong hoàn cảnh bình thường – còn mải chơi và thấy bãi bồi bên kia sông chẳng có gì hấp dẫn. Đó chính là tình yêu đối với cuộc sống đã được trải nghiệm qua một cuộc đời nhiều thăng trầm, đang trải qua những giây phút hiểm nghèo.

Trả lời

Hành động này của Nhĩ có thể hiểu là anh đang nôn nóng thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày, thế những qua suy nghĩ của Nhị trước đó, ta lại nhận ra một ý nghĩa khác : đó là ý muốn thức tỉnh mọi người về những cái ”’vòng vèo, chùng chình” để hướng tới những giá trị đích thực vốn giản dị, gần gũi và bền vững.

Trả lời

Hình ảnh bãi bồi, bến sông ngoài ý nghĩa thực còn là vẻ đẹp của đời sống bình dị, gần gũi, thân thuộc của quê hương, xứ sở.

Những bông hoa bằng lăng cuối mùa màu sắc như đậm hơn, tiếng những tảng đất lở ở bờ sông bên này ụp vào giấc ngủ của Nhị lúc gần sáng, gợi tả ý nghĩa sự sống của nhân vật Nhị đã ở vào những ngày cuối cùng.

Đứa con trai ham chơi gợi về suy nghĩ về sự chùng chình, vòng vèo trong đời sống con người. – Hành động, cử chỉ của Nhĩ ở cuối truyện cũng mang ý nghĩa biểu hiện ý muốn thức tỉnh mọi người về những cái ”’vòng vèo, chùng chình” để hướng tới những giá trị đích thực vốn giản dị, gần gũi và bền vững.

Trả lời

Trả lời

Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên ở đoạn đầu: miêu tả thiên nhiên thể hiện tâm lí nhân vật. Những bông bằng lăng tuy mới nở nhưng màu sắc đã nhợt nhạt, “đã sắp lập thu” → mọi thứ đều mang vẻ buồn bã sắp tàn.

Trả lời

Đoạn văn diễn tả những suy nghĩ của nhân vật khi thấy đứa con ham chơi, quên cả việc bố nhờ. Bằng chính trải nghiệm của bản thân mình, nhân vật Nhĩ đã rút ra được những chân lí quý giá cho chính bản thân mình và cũng là bài học cho đứa con trai. Những chùng chìn, cán dỗ mà người con trai phải gặp phải trên đường đời không đơn giản chỉ như ván cờ kia mà nó là những cán dỗ mà nếu như chúng ta không cẩn thận tỉnh táo, chúng ta sẽ rất dễ rơi vào vòng xoáy của sự ham muốn xa vời đang lôi cuốn, đang lấn át. Nhĩ đi rất nhiều nơi, đặt chân tới nhiều vùng miền nhưng mong ước cuối đời lại là khao khát được đặt chân lên bãi bồi bên kia sông. Điều ước muốn ấy chính là sự thức tỉnh về những giá trị bền vững, bình thường và sâu xa của cuộc sống, những giá trị thường bị người ta bỏ qua hay lãng quên khi những ham muốn xa vời không thực tế.

Soạn Bài: Quê Hương – Ngữ Văn 8 Tập 2

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả ( các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Tế Hanh trong SGK Ngữ văn 8 Tập 2).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Bài thơ Quê hương được rút từ tập Nghẹn ngào (1939), sau được in lại trong tập Hoa niên, xuất bản năm 1945.

* Thể thơ: Bài thơ được viết theo thể thơ 8 chữ.

* Bố cục:

Văn bản Quê hương có thể được chia làm 4 phần:

Phần 1: Hai câu thơ đầu : Giới thiệu chung về làng quê

Phần 2: 6 câu thơ tiếp : Cảnh dân làng chài bơi thuyền ra khơi đánh cá.

Phần 3: 8 câu thơ tiếp : Cảnh thuyền cá trở về bến.

Phần 4: 4 câu thơ cuối : Nỗi nhớ làng quê, nhớ quê hương da diết của tác giả.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Câu 3 – câu 8 : Cảnh dân làng bơi thuyền ra khơi

Khi trời trong gió nhẹ sớm mai hồng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.

Hai câu đầu: khung cảnh đoàn thuyền ra khơi là vào một buổi sáng đẹp trời, bầu trời cao rộng, trong trẻo, nhuốm màu nắng hồng bình minh – thời tiết rất thuận lợi cho việc đi biển. Dân làng chài là những chàng trai căng tràn sức sống, khỏe mạnh, háo hức ra khơi.

Hai câu 5 – 6: Hình ảnh con thuyền ra khơi một cách dũng mãnh được tác giả ví như con tuấn mã đẹp và khỏe mạnh. Một loạt từ ngữ đã được tác giả sử dụng để diễn tả thế băng tới của con thuyền: hăng, phăng, mạnh mẽ, vượt càng tạo nên khí thế lao động hăng say, sức mạnh khỏe khoắn của người dân chài.

Hai câu 7 – 8: Là hình ảnh cánh buồm trắng căng phồng ra khơi được so sánh với mảnh hồn làng sáng lên vẻ đẹp lãng mạn. Từ đó, hình ảnh cánh buồm căng gió biển quen thuộc bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng, thơ mộng và hùng tráng.

* 8 câu thơ tiếp theo: Hình ảnh đón thuyền cá về bến

Ngày hôm sau ồn ào trên bến đỗ

Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.

Cảnh ồn ào, tấp nập trên bến khi đón thuyền về và niềm vui trước những thành quả lao động, gợi ra một sức sống, một nhịp sống náo nhiệt

Hình ảnh người dân chài mang vẻ đẹp khỏe khoắn, mặn mà của biển, mặc dù công việc vất vả nhưng thú vị.

Hình ảnh con thuyền: tác giả không chỉ thấy con thuyền nằm im lìm trên bến mà còn thấy con thuyền dường như “mệt mỏi” sau một ngày lao động vất vả lênh đênh trên biển.

Câu 2:

Phân tích các câu thơ:

Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng

Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Hình ảnh cánh buồm được so sánh với “mảnh hồn làng”, cánh buồm vô tri vô giác đã được người thi sĩ thổi vào một tâm hồn. Cái vô hồn, vô sắc được cụ thể hóa bằng hình ảnh có hình khối, đường nét, màu sắc. Cảnh mang hồn người, nhà thơ đã thổi vào cảnh linh hồn của làng chài. Cánh buồm vốn gắn bó, gần gũi trong cuộc sống của người dân chài bỗng trở nên bay bổng và giàu tính tượng trưng.

Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm.

Hai câu thơ này là một bức tranh vẽ phác họa hình ảnh người dân làng chài. Họ là những con người dường như được sinh ra từ biển. Cuộc sống biển khơi dãi dầu mưa nắng làm cho làn da của họ “ngăm rám” lại và hơi thở dường như cũng mang vị xa xăm của biển cả. Hai câu thơ trên không chỉ là sự miêu tả đơn thuần mà trong nó ẩn chứa những tình cảm gắn bó sâu sắc với con người nơi làng chài ven biển.

Câu 3:

Tình cảm của tác giả đối với quê hương thật đằm thắm và sâu sắc. Mặc dù sống xa quê nhưng những hình ảnh về quê hương, về người dân nơi làng chài ven biển vẫn luôn in đậm trong tâm trí nhà thơ. Từ đó cho chúng ta thấy, tác giả phải là một người gắn bó sâu nặng với con người và cuộc sống lao động của làng chài quê hương thì mới có được những vần thơ xuất thần, độc đáo như vậy.

Câu 4:

* Đặc sắc nổi bật của bài thơ:

Giọng thơ mộc mạc, giản dị, ngôn ngữ giàu giá trị biểu cảm

Những hình ảnh so sánh giàu hình ảnh, có giá trị biểu cảm cao, phép nhân hóa

Phép ẩn dụ và đảo trật tự từ trong câu

Hàng loạt động từ mạnh, tính từ và phép liệt kê

Sử dụng phương pháp biểu đạt, tự sự, đan xen lẫn miêu tả và biểu cảm.

* Bài thơ được viết theo phương thức miêu tả kết hợp với biểu cảm, nhưng phương thức chính vẫn là miêu tả. Chính nhờ sự kết hợp này mà hình ảnh thơ được lột tả một cách chân thực, tinh tế, vừa cho người đọc thấy được cảnh vật và cuộc sống lao động của con người miền biển, vừa thể hiện sâu sắc những rung động mãnh liệt của tâm hồn nhà thơ.

4.5

/

5

(

10

bình chọn

)

Cập nhật thông tin chi tiết về Soạn Bài: Bến Quê – Ngữ Văn 9 Tập 2 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!