Xu Hướng 5/2023 # Ngữ Văn 12: Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh # Top 9 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 5/2023 # Ngữ Văn 12: Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Ngữ Văn 12: Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Rate this post

👉 Tải App HOC247 cho iOS/Android:

Phần 1: TÁC GIẢ HỒ CHÍ MINH 1. Vài nét về tiểu sử Hồ Chí Minh [02:43] 2. Sự nghiệp thơ văn của tác giả Hồ Chí Minh [33:17] 3. Tổng kết kiến thức phần tác giả Hồ Chí Minh [01:03:30]

Phần 2: TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1. Giới thiệu tác phẩm Tuyên ngôn độc lập [01:07:49] 2. Cơ sở pháp lý của bản Tuyên ngôn [01:37:23] 3. Cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn [01:55:34] 4. Lời tuyên bố độc lập của Hồ Chí Minh [02:30:46] 5. Hệ thống hóa kiến thức toàn bài [02:44:57]

Cảm ơn các em đã xem video bài giảng Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh của cô Phan Thị Mỹ Huệ trên kênh HỌC247 THPT. Video bài giảng của cô Phan Thị Mỹ Huệ giúp các em nắm được giá trị nhiều mặt và ý nghĩa to lớn của bản Tuyên ngôn độc lập. Đồng thời hiểu được vẻ đẹp của tư tưởng và tâm hồn của Hồ Chí Minh qua tác phẩm.

————————– 👉 Học trọn khóa: ————————–

Theo dõi HỌC247 tại: 👉 Facebook: 👉 Youtube: 👉 Website: 👉 App iOS: 👉 App Android:

————————–

Mong được đồng hành cùng các em học sinh Trân trọng! © Copyright by HỌC247 ❌ Do not Reup ❌

Tag: Ngữ văn 12, Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh, Soạn bài Tuyên ngôn độc lập, Tiểu sử và sự nghiệp Hồ Chí Minh, Cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn của bản Tuyên ngôn độc lập, Lời tuyên bố khẳng định độc lập chủ quyền của Bác Hồ, Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến hết thế kỉ XX, Cô Phan Thị Mỹ Huệ, Luyện thi THPT QG môn Ngữ Văn 2018, Luyện thi THPT QG năm 2018

Nguồn: http://hằng.vn

Soạn Bài Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh

2. Tóm tắt nội dung bài học Tuyên ngôn độc lập

Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực giàu giá trị:

2.2. Giá trị nghệ thuật:

Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn.

Giá trị tư tưởng:

Tuyên bố xóa bỏ chế dộ phong kiến, thực dân, khẳng định nền độc lập, dân chủ và tự do của nước Việt Nam.

Là tác phẩm kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập tự do

3. Soạn bài Tuyên ngôn độc lập chương trình chuẩn

3.1. Soạn bài tóm tắt

Câu 1: Nêu bố cục của bản “Tuyên ngôn độc lập”?

Bản Tuyên ngôn độc lập gồm 3 phần

Phần 1 (từ đầu cho đến Không ai chối cãi được): cơ sở pháp lý và chính nghĩa.

Phần 2 (tiếp theo đến Phải được độc lập): tố cáo tội ác của thực dân Pháp.

Phần 3 (phần còn lại): lời tuyên bố độc lập của nhân dân ta.

Có thể các em cần xem: Bài giảng Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh

Câu 2: Việc trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (1793) của cách mạng Pháp trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập là một cách viết rất cao tay của Chủ tịch Hồ Chí Minh đem lại những ý nghĩa sâu sắc cho bản Tuyên ngôn được viết ra trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt lúc bấy giờ?

Đối tượng hướng tới của bản Tuyên ngôn độc lập là đồng bào trong nước, thế giới, đặc biệt là những lực lượng thù địch và bọn cơ hội quốc tế đang mang dã tâm tái nô dịch đất nước ta.

Câu 3: Bản Tuyên ngôn độc lập đã lật tẩy bộ mặt tàn bạo, xảo quyệt của thực dân Pháp đối với nhân dân ta bằng lí lẽ và sự thật hùng hồn, không thể chối cãi được? (Phân tích đoạn 2 và 3)

Thực dân Pháp đã kể công “khai hóa” thì bản Tuyên ngôn độc lập kể tội ác “cướp nước ta, áp bức đồng bào ta” của chúng.

Thực dân Pháp đã kể công ” bảo hộ” thì bản Tuyên ngôn độc lập lên án “trong năm năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”. Dẫn chứng là những bằng chứng lịch sử khiến kẻ thù không thể chối cãi.

Chúng tuyên bố Đông Dương là thuộc địa của chúng thì bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định Đông Dương đã trở thành thuộc địa của Nhật. Nhân dân ta đứng lên giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Sức mạnh của sự thật và không có lí lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn lí lẽ của sự thật.

Câu 4: Tác phẩm Tuyên ngôn độc lập thể hiện phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh trong văn chính luận: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, ngôn ngữ hùng hồn?

Ngắn gọn, giản dị, súc tích: cả một nội dung lớn diễn ra trong thời gian gần một thế kỉ nhưng tác giả đã cô đọng lại trong vài ba trang giấy, từ ngữ dễ hiểu, những câu văn dài có cấu trúc phức tạp nhưng cách diễn đạt lại rất dễ hiểu, câu văn ngắn nhưng giàu ý tứ

Bản Tuyên ngôn được viết với cách lập luận chặt chẽ. Người đưa ra những lí lẽ đanh thép, những bằng chứng hùng hồn không ai có thể chối cãi được. Ngòi bút chính luận vừa hùng hồn vừa trữ tình; cách dùng từ, đặt câu hết sức linh hoạt, Tuyên ngôn độc lập vừa có giá trị lịch sử lớn lao, vừa xứng đáng là áng văn thiên cổ hùng văn của thời đại.

3.2. Soạn bài chi tiết

Câu 1: Nêu bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lập.

Câu 2: Việc trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập (1776) của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (1793) của cách mạng Pháp trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của tác giả có ý nghĩa gì?

Mở đầu bản Tuyên ngôn, Bác đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (1776) của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (1793) của cách mạng Pháp nhằm:

Nêu nguyên lí chung về quyền lợi của con người và các dân tộc.

Từ quyền lợi của con người, Bác nâng lên thành quyền lợi của dân tộc ta.

Sau đó xoáy sâu vào quyền bình đẳng của con người.

Đặt vai trò của cách mạng Việt Nam ngang hang với cách mạng Pháp và Mĩ.

Dựa vào chân lí bất hủ của hai bản tuyên ngôn để đưa ra chân lí mới: tự do độc lập của mọi dân tộc, trong đó có Việt Nam.

Vừa kiên quyết vừa khôn khéo, tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho bản tuyên ngôn.

Câu 3: Trong phần thứ hai của bản Tuyên ngôn Độc lập, tác giả đã lập luận như thế nào để khẳng định quyền tự do, độc lập của nước Việt Nam ta?

Trong phần 2 của bản Tuyên ngôn Độc lập tác giả đã tập trung tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta, vạch trần bản chất xâm lược và bóc lột, đập tan âm mưu xâm lược trở lại của chúng đồng thời khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam. Bác đã nêu ra những bằng chứng cụ thể với những sự thật không thể chối cãi được bằng, lí lẽ đanh thép, hùng hồn. Cụ thể:

Tội ác của thực dân Pháp:

Về chính trị: Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào…Chúng thi hành những luật pháp dã man…Chúng lập ba…Chúng thẳng tay …Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa…

Về kinh tế: Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ,… gây ra nạn đói năm Ất Dậu năm 1945 làm 2 triệu đồng bào ta bị chết.

Về quân sự: khi phát xít nhật đến xâm lăng Đông Dương thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật…đầu hàng, bỏ chạy…bán nước ta hai lần cho Nhật… chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.”

Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc:

“Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố…

“Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.”

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp … phải được độc lập!”

Câu 4: Tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập thể hiện phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh trong văn chính luận: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, ngôn ngữ hùng hồn. Hãy làm sáng tỏ điều đó.

Văn phong của Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn Độc lập rất đanh thép, hùng hồn, đầy sức thuyết phục. Cách lập luận chặt chẽ, Người đưa ra những lí lẽ đanh thép, những bằng chứng không thể nào chối cãi được.

Ngòi bút chính luận vừa hùng biện vừa trữ tình, dẫn chứng tiêu biểu, xác đáng, cách dùng từ đặt câu hết sức linh hoạt.

Tuyên ngôn Độc lập vừa có giá trị lịch sử vừa là áng văn chính luận mẫu mực, có sức lay động hàng triệu trái tim con người Việt Nam.

4. Soạn bài Tuyên ngôn độc lập chương trình nâng cao

Câu 1: Tìm hiểu lập luận của bản Tuyên ngôn độc lâp dựa vào bố cục và nội dung lí lẽ của từng phần?

Đoạn 1 : từ đầu đến “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”: Hồ Chí Minh nêu nguyên lí làm cơ sở tư tưởng cho toàn bản Tuyên ngôn độc lập.

Đoạn 2: tiếp đó đến “chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông chính trị ở Yên Bái, Cao Bằng”: Hồ Chí Minh kể tội ác của thực dân Pháp nhằm bác bỏ sự kể công “khai hóa, bảo hộ” của chúng đối với nước ta.

Đoạn 3: tiếp đó cho đến “Dân tộc đó phải được độc lập”: Hồ Chí Minh khẳng định Đông Dương đã trở thành thuộc địa của Nhật và nhân dân ta đã đứng lên giành quyền độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp ⇒ nhằm bác bỏ luận điệu muốn lấy Đông Dương của Pháp.

Đoạn 4: còn lại: Lời tuyên bố độc lập và ý thức quyết tâm giữ vững nền độc lập ấy.

Câu 2: Ý nghĩa lịch sử trọng đại của bản Tuyên ngôn độc lập thể hiện qua đoạn văn: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”?

“Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ hơn mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”:

Câu 3: Bản Tuyên ngôn độc lập tiêu biểu cho khát vọng độc lập, tự do và ý chí quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam được thể hiện qua?

Đoạn văn khẳng định tinh thần kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc trong bao nhiêu năm: “Một dân tộc đã gan góc chống ách ô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó pahir được độc lập!”. ⇒ Biện pháp điệp ngữ, lặp cú pháp, đã làm cho lời tuyên bố trở nên hùng hồn, hào sảng.

Lời trịnh trọng tuyên bố độc lập: ” Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. ⇒ Hồ Chí Minh đã nói thay nhân dân niềm sung sướng được làm chủ đất nước, được sống trong tự do. Độc lập, tự do không còn là mơ ước, là đòi hỏi nữa mà đã trở thành sự thật.

Khẳng định quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập, tự do ấy “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”. Quyết tâm này của cả dân tộc đã được trả lời bằng hai cuộc kháng chiến hào hùng chống Pháp và Mĩ sau đó. Đó cũng là sự Tiếp nối truyền thống bất khuất, kiên cường không để cho kẻ thù nào xâm phạm đất nước, từng được thể hiện trong bài Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt.

Câu 4: Việc trích dẫn Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mĩ bà Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (1791) của Cách mạng Pháp trong phần mở đầu có ý nghĩa gì?

Mở đầu bản Tuyên ngôn, Bác đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (1776) của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (1793) của cách mạng Pháp nhằm:

Nêu nguyên lí chung về quyền lợi của con người và các dân tộc, từ đó nâng lên thành quyền lợi của dân tộc ta, xoáy sâu vào quyền bình đẳng của con người.

Bác đã dùng cách lập luận “gậy ông đập lưng ông”: Hai bản tuyên ngôn là lời của tổ tiên người Mĩ và Pháp, chân lí bất hủ của nhân loại ⇒ lấy lí lẽ của chính kẻ địch để bác bỏ luận điệu xâm lược và ngăn chặn âm mưu tái xâm lược của chúng.

Đặt vai trò của cách mạng Việt Nam ngang hang với cách mạng Pháp và Mĩ.

Dựa vào chân lí bất hủ của hai bản tuyên ngôn để đưa ra chân lí mới: tự do độc lập của mọi dân tộc, trong đó có Việt Nam.

Tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho bản tuyên ngôn.

Câu 5: Trong phần thứ hai của bản Tuyên ngôn, tác giả đã lập luận như thế nào để khẳng định quyền độc lập tự do của nước Việt Nam ta?

5. Hướng dẫn luyện tập

Đề bài:

Lý giải vì sao bản Tuyên ngôn Độc lập từ khi ra đời cho đến nay là một áng văn chính luận có sức lay động sâu sắc hàng chục triệu trái tim con người Việt Nam.

a. Mở bài

Giới thiệu khái quát về tác giả Hồ Chí Minh

Giới thiệu về sự ra đời và giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập: không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử mà còn là một áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực

b. Thân bài

Tuyên ngôn Độc lập là áng văn chính luận mẫu mực của thời đại

Về lập luận: Cơ sở lập luận của bản Tuyên ngôn chủ yếu dựa trên lập trường quyền lợi tối cao của các dân tộc nói chung và của dân tộc ta nói riêng.

Về lí lẽ: Sức mạnh của lí lẽ được sử dụng trong bản tuyên ngôn xuất phát từ tình yêu công lí, thái độ tôn trọng sự that, và trên hết, dựa vào lẽ phải và chính nghĩa của dân tộc ta.

Về bằng chứng: Những bằng chứng xác thực, hùng hồn, không thể chối cãi cho thấy một sự quan tâm sâu sắc của tác giả đến vận mệnh của dân tộc ta, hạnh phúc của nhân dân ta.

Về ngôn ngữ: Cách sử dụng từ ngữ, câu cảm thán chứa chan tình cảm, cách xưng hô bộc lộ tình cảm tha thiết.

c. Kết bài

Khẳng định lại giá trị to lớn của Tuyên ngôn Độc lập và sức lay động đối với hàng triệu người dân Việt Nam.

6. Một số bài văn mẫu văn bản Tuyên ngôn độc lập

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh không những là một áng văn có tính lịch sử mà nó còn là áng văn chính luận mẫu mực. Để tìm hiểu thêm về nghệ thuật và nội dung của văn bản này, mời các em cùng tham khảo một số bài văn mẫu sau:

7. Hỏi đáp về văn bản Tuyên ngôn độc lập

Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

Soạn Văn Lớp 12 Bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh)

Soạn văn lớp 12 bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm ngắn gọn hay nhất : Câu 2 (trang 41 SGK Ngữ văn 12 tập 1) Việc trích dẫn Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mĩ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1791) của Cách mạng Pháp trong phần mở đầu có ý nghĩa gì? Câu 3 (trang 42 SGK Ngữ văn 12 tập 1) Trong phần thứ hai của bản tuyên ngôn, tác giả đã lập luận như thế nào để khẳng định quyền độc lập tự do của nước Việt Nam ta?

Soạn văn lớp 12 bài Viết bài làm văn số 1: Nghị luận xã hội Soạn văn lớp 12 bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

Soạn văn lớp 12 trang 41 tập 1 bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm ngắn gọn hay nhất

Câu hỏi bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm tập 1 trang 41

Câu 1 (trang 41 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Nêu bố cục của bản Tuyên ngôn Độc lập

Câu 2 (trang 41 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Việc trích dẫn Tuyên ngôn độc lập (1776) của nước Mĩ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền (1791) của Cách mạng Pháp trong phần mở đầu có ý nghĩa gì?

Câu 3 (trang 42 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Trong phần thứ hai của bản tuyên ngôn, tác giả đã lập luận như thế nào để khẳng định quyền độc lập tự do của nước Việt Nam ta?

Câu 4 (trang 42 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Tuyên ngôn độc lập thể hiện phong cách nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong văn chính luận: ngắn gọn, trong sáng, giản dị mà súc tích, đanh thép, sắc sảo. Hãy làm sáng tỏ điều đó?

Sách giải soạn văn lớp 12 bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm

Trả lời câu 1 soạn văn bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm trang 41

Phần 1: (từ đầu đến không chối cãi được): cơ sở pháp lý và chính nghĩa

Phần 2: (tiếp đến phải được độc lập): vạch trần sự tàn ác, bộ mặt của thực dân Pháp

Phần 3: (còn lại) lời tuyên bố độc lập của nhân dân ta

Trả lời câu 2 soạn văn bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm trang 41

– Việc trích dân tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp và bản tuyên ngôn Độc lập của Mĩ là cách lập luận sắc bén, khéo léo của tác giả

+ Dùng làm cơ sở pháp lí tuyên bố nền độc lập cho nước mình.

+ Đó là cơ sở suy rộng ra nền tự do của các dân tộc bị áp bức trên thế giới

– Ý nghĩa về mặt lập luận:

+ Tăng sức thuyết phục cho lời tuyên ngôn độc lập

+ Thể hiện sự khôn khéo, quyết liệt trong cách chiến đấu với kẻ thù

+ Nghệ thuật gậy ông đập lưng ông là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” dùng chính lý lẽ chính nghĩa của Pháp, Mỹ đập lại luận điệu xảo trá của chúng.

Trả lời câu 3 soạn văn bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm trang 42

Tác giả vạch trần bản chất tàn bạo, xảo quyệt của thực dân bằng lý lẽ và sự thật xác đáng:

– Thực dân Pháp kể công “khai hóa”, thực tế chúng “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”

+ Dẫn chứng cụ thể vạch mặt chúng về chính trị, xã hội, kinh tế

+ Đưa ra hình ảnh thực tế đất nước ta “xác xơ, tiêu điều”, nhân dân “nghèo nàn, thiếu thốn”

+ Điệp từ “chúng” liệt kê hàng loạt tội ác chồng chất, cứa sự căm thù của thực dân

– Thực dân Pháp kể công “bảo hộ” nhưng thực tế “chúng bán nước ta hai lần cho Nhật”:

+ Mùa thu 1940 thực dân Nhật xâm lược Đông Dương, Pháp “quỳ gối, đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật” → Pháp hèn nhát, vô trách nhiệm

+ Chúng “thẳng tay khủng bố Việt Minh” khi bỏ chạy còn “nhẫn tâm giết tù chính trị”

– Pháp khẳng định Đông Dương là thuộc địa của chúng thì Người khẳng định Đông Dương là thuộc địa của Nhật

Nước ta đứng lên giành độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

→ Bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh khẳng định sự thật, lý lẽ thuyết phục, khẳng định nền độc lập dân tộc nhờ đấu tranh.

Trả lời câu 4 soạn văn bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm trang 42

Tác phẩm Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận xuất sắc: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, ngôn ngữ hùng hồn

– Lý luận thống nhất và chặt chẽ trong toàn bài

– Luận điểm xác thực, không thể chối cãi được

– Lý lẽ hùng hồn, đầy sức thuyết phục

– Đanh thép, sắc sảo khi biểu hiện tính chiến đấu, thái độ dứt khoát và bản lĩnh phi thường, sắc sảo ở trí tuệ, lối lập luận

→ Tuyên ngôn độc lập xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn, có giá trị lịch sử lớn lao

Câu hỏi Phần Luyện Tập bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm lớp 12 tập 1 trang 42

Câu hỏi (trang 42 SGK Ngữ văn 12 tập 1)

Lí giải vì sao bản Tuyên ngôn Độc lập là một áng văn chính luận có sức lay động sâu sắc hàng chục trái tim con người Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay?

Sách giải soạn văn lớp 12 bài Phần Luyện Tập

Trả lời câu soạn văn bài Phần Luyện Tập trang 42

Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận có khả năng lay động hàng chục triệu trái tim con người Việt Nam

– Đoạn văn khẳng định tinh thần kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm của người dân Việt Nam

– Lời trịnh trọng tuyên bố độc lập “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”

– Khẳng định quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc, tự do

Tuyên ngôn độc lập trở thành áng văn chính luận xúc động lòng người được bộc lộ từ tấm lòng của người viết: đó là tấm lòng yêu nước nồng nàn, tự hào dân tộc mãnh liệt, khao khát độc lập tự do và ý chí quyết tâm bảo vệ tự do, độc lập ở Hồ Chí Minh

Tấm lòng đó đã truyền vào trong từng lời văn tha thiết, tự hào đanh thép, có sức lay động tới triệu trái tim Việt Nam

Tags: soạn văn lớp 12, soạn văn lớp 12 tập 1, giải ngữ văn lớp 12 tập 1, soạn văn lớp 12 bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm ngắn gọn , soạn văn lớp 12 bài Tuyên Ngôn Độc Lập (Hồ Chí Minh) – Phần 2: Tác phẩm siêu ngắn

Phân Tích Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh

Phân tích truyện ngắn Người trong bao của A.P.Sê-khốp Đề bài:

Anh chị hãy viết bài văn Phân tích bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh trong chương trình văn học lớp 11 tập 1.

Bài làm:

Ngày 19-8-1945, lực lượng cách mạng và nhân dân Hà Nội đã nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Tổng khởi nghĩa đã lan rộng hầu khắp các tỉnh thành trên cả nước. Ngày 26-8 -1945, từ chiến khu Việt Bắc, lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng các vị lãnh đạo của Đảng đã về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Bác đã soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập.

Chiều ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên lễ đài của quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đại diện cho Chính phủ lâm thời đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một văn kiện lịch sử vô giá, đồng thời là bài văn chính luận xuất sắc, mẫu mực trong nền văn học nước nhà.

Tuyên ngôn Độc lập là bản tổng kết khá đầy đủ về một thời kì lịch sử đau thương nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc ta chống lại ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành chủ quyền tự do, độc lập.

Bản Tuyên ngôn Độc lập khẳng định: chủ quyền độc lập, tự do của Việt Nam là một chân lí sáng ngời không ai bác bỏ được và tuyên bố thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đồng thời tố cáo âm mưu đen tối của thực dân Pháp muốn tái chiếm nước ta và bày tỏ quyết tâm sắt đá bảo vệ chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Bố cục bài văn được chia làm ba đoạn:

Đoạn 1: Từ đầu đến… không ai chối cãi được: Nêu nguyên lý chung của Tuyên ngôn Độc lập.

Đoạn 2 : Từ Thế mà… đến từ tay Pháp: Tố cáo tội ác của thực dân Pháp và khẳng định thực tế là nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đoạn 3: Còn lại : Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí và quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.

Mở đầu bản Tuyên ngôn, tác giả nêu lên nguyên lí chung mang tính khái quát: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đây cũng là luận điểm xuất phát, coi chủ quyền độc lập, tự do, bình đẳng là những thành tựu lớn của tư tưởng nhân loại, đồng thời là lí tưởng theo đuổi hết sức cao đẹp của nhiều dân tộc.

Muốn hiểu được nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập, trước hết chúng ta phải tìm hiểu kĩ lãnh tụ Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập trong hoàn cảnh nào? Viết cho ai và nhằm mục đích gì?

Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng phe Đồng minh vô điều kiện. Lúc đó, ở miền Nam, quân đội Pháp nấp sau lưng quân đội Anh vào giải giáp phát xít Nhật. Phía Bắc, quân đội Tưởng chờ ở biên giới sẵn sàng tràn vào nước ta. Trước khi viết bản Tuyên ngôn, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã nhận định: Mâu thuẫn giữa Anh – Mĩ – Pháp và Liên Xô có thể làm Anh – Mĩ nhân nhượng với Pháp và để cho Pháp trở tại Đông Dương. Để việc tái chiếm Đông Dương không bị dư luận quốc tế phản đối, Pháp đưa ra một luận điệu xảo trá: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp, Pháp đã có công “khai hóa” Đông Dương. Phát xít Nhật chiếm Đông Dương nhưng nay đã đầu hàng phe Đồng minh, do đó việc trở lại Đông Dương của Pháp là đương nhiên và hợp lí.

Vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập không chỉ tuyên bố trước quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới mà còn nhằm vào bọn đế quốc Mĩ, Anh, Pháp để ngăn chặn và đập tan âm mưu xâm lược của chúng, nhất là luận điệu xảo trá của thực dân Pháp. Nội dung của bản Tuyên ngôn Độc lập còn là một cuộc tranh luận quyết liệt giữa dân tộc Việt Nam với những đối tượng ấy.

Mở đầu bản Tuyên ngôn, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn những câu văn chứa đựng nội dung thiết yếu trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới là Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ: Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Thêm vào đó là lời trích dẫn từ Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp : Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những câu nói của các bản Tuyên ngôn bất hủ không chỉ của riêng nước Pháp, nước Mĩ mà còn là của cả nhân loại. Lời văn trích từ hai bản Tuyên ngôn này là những danh ngôn, nghĩa là những chân lí lớn, không ai có thể bác bỏ được.

Việc viện dẫn những danh ngôn nói trên để mở đầu cho bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam là một lập luận vừa kiên quyết vừa khôn khéo ; có thể gọi đó là thủ pháp lấy gậy ông đập lưng ông rất đích đáng của tác giả.

Cái tài tình của Hồ Chủ tịch là dùng ngay lí lẽ của đối phương để ràng buộc đối phương, dồn Pháp và Mĩ vào cái thế không thể không công nhận chủ quyền độc lập, tự do của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ. Trích dẫn những lời văn trong hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng, về phương diện nào đó là cách trực tiếp tranh luận với Mĩ và Pháp về chủ quyền độc lập tự do của mỗi quốc gia, dân tộc, về quyền sống của mỗi con người. Bên cạnh đó, Hồ Chủ tịch muốn chặn đứng sự bác bỏ của đối phương. Nếu cố tình bác bỏ thì có nghĩa là họ đã phủ nhận lí lẽ của chính tổ tiên họ. Suy ngẫm về tình thế lúc bấy giờ, chúng ta mới hiểu sâu thêm về chủ ý thâm thúy của Hồ Chủ tịch.

Trong cuộc tranh luận giữa dân tộc ta với bọn đế quốc, thực dân xâm lược thì vấn đề chính là chủ quyền tự do độc lập. Vì thế, từ vấn đề nhân quyền, vấn đề quyền cá nhân đặt ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ, nước Pháp, tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập đã suy rộng ra về quyền tự do, bình đẳng của các dân tộc khác trên thế giới. Nhưng không dừng ở đó, Bác đã dùng lí lẽ sắc bén, khoa học để nâng cao, mở rộng vấn đề lên thành chủ quyền độc lập, tự do của các dân tộc: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đây là đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tư tưởng đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỉ XX.

Mặt khác, việc trích dẫn hai bản Tuyên ngôn kia còn có nghĩa là Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ba cuộc cách mạng của nhân loại ngang bằng nhau, trong đó cách mạng Việt Nam đã cùng một lúc thực hiện nhiệm vụ của cả hai cuộc cách mạng Pháp và Mĩ. Qua đó, Bác muốn khẳng định: “Mục đích cao cả của cách mạng Việt Nam, của cách mạng Mĩ và Pháp là vì hạnh phúc của con người. Chúng ta chiến đấu vì hạnh phúc của con người”.

Bản Tuyên ngôn Độc lập nêu rõ : Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Bản Tuyên ngôn cũng viết: Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Hồ Chủ tịch đã đặt bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam ngang hàng với tầm cỡ hai bản Tuyên ngôn của hai cường quốc trên thế giới, có nghĩa là khẳng định vị trí chính trị của đất nước ta đối với các nước trên thế giới và khẳng định chủ quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Đồng thời nhấn mạnh rằng: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Khi xâm chiếm nước ta, thực dân Pháp luôn lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái và chiêu bài “khai hóa”, “bảo hộ” Việt Nam. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã lật tẩy bản chất của chúng bằng những lí lẽ chặt chẽ và đanh thép. Hồ Chủ tịch nghiêm khắc kết án chúng trên từng lĩnh vực. Chúng kể công “khai hóa”, bản Tuyên ngôn kể tội áp bức bóc lột tàn bạo và tội diệt chủng:

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.

Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cổn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.

Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

Chúng giữ độc quyền về in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.

Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.

Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.

Đặc biệt, Hồ Chủ tịch nhấn mạnh sự phản bội của thực dân Pháp. Một mặt, chúng luôn kể công “khai hóa”, “bảo vệ” nước ta, nhưng mặt khác, chúng hèn nhát quỳ gối đầu hàng dâng nước ta hai lần cho phát xít Nhật (từ 1940 đến 1945), khiến dân ta điêu đứng vì một cổ hai tròng và dẫn tới hậu quả thảm khốc là năm Ất Dậu 1945, chỉ tính từ miền Bắc vào tới Quảng Trị đã có hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Lời văn trong đoạn này sục sôi căm giận trước tội ác trời không dung, đất không tha của thực dân Pháp và bộc lộ thái độ căm phẫn, mỉa mai, châm biếm sắc sảo của Hồ Chủ tịch trước bản chất đê hèn của chúng:

Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thi bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dàn ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kì, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.

Thực dân Pháp nhân danh phe Đồng minh đã chiến thắng phát xít Nhật để giành lại Đông Dương ; bản Tuyên ngôn tố cáo Pháp phản bội Đồng minh, đầu hầng Nhật, đàn áp cách mạng Việt Nam.

Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.

Như vậy rõ ràng là vì hèn nhát, Pháp đã tự tước bỏ vai trò “bảo hộ” của chúng ở Đông Dương nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Từ đó, Hồ Chủ tịch có đủ cơ sở thực tiễn để đưa ra nhận định sắc bén về một sự thật lịch sử:

Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa…

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.

Sự thật không thể chối cãi ấy được khẳng định mạnh mẽ trong Tuyên ngôn độc lập và nó có ý nghĩa rất quan trọng : Việt Nam không bị ràng buộc bởi bất cứ nguyên tắc pháp lí quốc tế nào với thực dân Pháp ; từ đó bác bỏ quyền trở lại Việt Nam của Pháp.

Chì trong một câu văn ngắn gọn, từ ngữ tuyệt đối chính xác, Bác đã khái quát một cách chính xác tình thế lịch sử nước ta lúc bấy giờ : Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Đó là bước sụp đổ tất yếu của chế độ thực dân, phát xít, phong kiến trước khí thế cách mạng giải phóng của nhân dân ta, trước xu thế chung của cách mạng thế giới.

Tự hào, sảng khoái biết bao khi Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. Và Bác đại diện cho toàn dân tộc Việt Nam hùng hồn tuyên bố từ nay thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Điệp từ xóa bỏ được lặp lại nhiều lần càng làm tăng tính phủ định của lập luận: Pháp không còn vai trò gì ở đất nước này. Cho nên, nếu thực dân Pháp xâm chiếm nước ta một lần nữa thì chúng phải nhận những đòn trừng trị đích đáng bởi : Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.

Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do. Dân tộc đó phải được độc lập !

Đó là chân lí, có nghĩa là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Kết thúc bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch trịnh trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam mới và khẳng định một lần nữa quyết tâm bảo vệ bằng được nền độc lập tự do : Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Tuyên ngôn Độc lấp có tầm cỡ lớn lao, tiếp nối tinh thần của áng thiên cổ hùng văn là Đại cáo bình Ngô của nhà chính trị, quân sự, ngoại giao lỗi lạc Nguyễn Trãi thế kỉ XV. Đất nước ta, dân tộc ta mãi mãi tự hào về những người anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh cùng những bản Tuyên ngôn nổi tiếng muôn đời như Đại cáo bình Ngô và Tuyên ngôn Độc lập. Có ý kiến cho rằng bản Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là áng thiên cổ hùng văn, giống như bài Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi ngày xưa. Hai tác phẩm thống nhất ở chỗ đều là những bản tổng kết chiến thắng, là lời tuyên bố khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc ta và đều tràn đầy khí thế hào hùng từ nội dung tư tưởng cho đến cách hành văn. Tuy cùng có yếu tố chính luận nhưng Đại cáo bình Ngô chủ yếu dùng hình tượng nghệ thuật để thuyết phục, còn Tuyên ngôn Độc lập dùng lập luận chặt chẽ, đanh thép và các luận cứ hùng hồn. Tính logic khoa học kết hợp với sự hiểu biết uyên bác, khả năng lập luận sắc sảo hòa quyện với cảm hứng sôi nổi, nhiệt thành của lòng yêu nước, tự hào dân tộc của Hồ Chủ tịch đã tạo nên một tác phẩm chính luận mẫu mực, bất hủ.

Cách đây hơn năm trăm năm, sau khỉ quét sạch quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi, Lê Lợi đã sang sảng đọc bài Đại cáo bình Ngô trước muôn dân, tự hào tuyên bố: Một cỗ nhung y chiến thắng, nên công oanh liệt từ đây, Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân khắp chốn. Giọng văn lúc thâm trầm, lúc đanh thép, lúc phấn khích bừng bừng như triều dâng bão nổi, thật xứng với lời khen là một áng thiên cổ hùng văn có giá trị muôn đời. Năm trăm năm sau, bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một mốc son đánh dấu sự chấm dứt của chế độ quân chủ phong kiến thống trị đất nước ta hàng ngàn năm; chấm dứt chế độ thuộc địa của thực dân Pháp kéo dài gần một trăm năm; mở ra một kỉ nguyên mới của chế độ Dân chủ Cộng hòa ở Việt Nam.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ngữ Văn 12: Tuyên Ngôn Độc Lập Của Hồ Chí Minh trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!