Xu Hướng 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 12 Chi Tiết: Tiếng Hát Con Tàu # Top 6 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 12 Chi Tiết: Tiếng Hát Con Tàu # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Ngữ Văn 12 Chi Tiết: Tiếng Hát Con Tàu được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Chế Lan Viên A. Mục tiêu bài học: – Cảm nhận được tình cảm hướng về nhân dân và đất nước, với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũng là về với ngọn nguồn của nghệ thuật, của cảm hứng sáng tạo thơ ca. – Nắm được những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ: cảm xúc gắn bó với suy tưởng, triết lí, khai thác những tương quan đối lập; khả năng liên tưởng phong phú và đặc biệt là nghệ thuật xây dựng những hình ảnh đa dạng, đầy sáng tạo. B. Nội dung bài học: I. Tiểu dẫn: 1. Tác giả: – Chế Lan Viên ( 1920 – 1989 ) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23 – 10 – 1920, quê gốc ở xã Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Nhưng thuở nhỏ và nhiều năm thời thanh niên sống cùng gia đình ( từ năm 1927, gia đình ông chuyển vào An Nhơn, Bình Định ) ở Bình Định nên đây cũng là quê hương thứ hai của nhà thơ. – Chế Lan Viên làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi. – Sau khi tốt nghiệp Trung học, ông đi dạy học ở trường tư , làm báo ở Sài Gòn và các tỉnh miền Trung. Tập thơ đầu tay – Điêu tàn – xuất bản lúc tác giả mới 17 tuổi ( năm 1937 – khi ông đang là học sinh trung học ) được dư luận đặc biệt chú ý, đã khẳng định Chế Lan Viên là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của Phong trào Thơ mới. – Ông tham gia cách mạng tháng Tám ở Quy Nhơn, rồi trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông hoạt động văn nghệ và báo chí ở khu liên IV và chiến trường Bình Trị Thiên, Chế Lan Viên đã tìm được con đường cho thơ mình đến với nhân dân và đời sống cách mạng. – Sau năm 1954, ông về Hà Nội tiếp tục hoạt động văn học, nhiều năm tham gia lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam, là đại biểu quốc hội các khóa IV, V, VI và VII. – Sau 1975, ông vào sống ở TP HCM, tiếp tục hoạt động văn học cho tới lúc qua đời ( 19 – 6 – 1989 ). – Năm 1996, ông được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật ( đợt I ). 2. Sự nghiệp sáng tác: – Chế Lan Viên là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Con đường thơ của Chế Lan Viên trải qua nhiều chặng đường với những bước ngoặt đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng và những tìm tòi về đổi mới nghệ thuật của nhà thơ. – Trước cách mạng, với tập thơ Điêu tàn ( 1937 ), Chế Lan Viên đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị ( Hoài Thanh ), chinh phục người đọc bằng một tư duy thơ độc đáo, khác thường với chí tưởng tượng phong phú, mãnh liệt, những hình ảnh mới lạ, đã tạo ra một thế giới kinh dị, thần bí và sớm đi vào bế tắc. – Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã hồi sinh hồn thơ Chế Lan Viên, mở ra một chân trời mới cho thơ ông. Từ sau 1945 đến 1975, thơ Chế Lan Viên càng ngày càng bắt rễ sâu vào đời sống rộng lớn của nhân dân và đất nước. Trong những năm cao trào chống Mĩ cứu nước, thơ Chế Lan Viên nóng hổi tính thời sự, giàu chất sử thi, chất anh hùng ca và chất chính luận, có vẻ đẹp trí tuệ độc đáo. – Sau năm 1975, thơ Chế Lan Viên lại trở về với đời sống thế sự và những trăn trở, chiêm nghiệm về cái tôi trong mối quan hệ phong phú, phức tạp của đời sống. – Thơ Chế Lan Viên có phong cách rõ nét và độc đáo: có vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tương quan đối lập, giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sức sáng tạo của thế giới hình ảnh thơ được sáng tạo bởi một ngòi bút thông minh, tài hoa. – Những tác phẩm chính: + Các tập thơ: Điêu tàn ( 1937 ); ánh sáng và phù sa ( 1960 ); Hoa ngày thường, chim báo bão ( 1967 ); Những bài thơ đánh giặc ( 1972 ); Đối thoại mới ( 1973 ); Hoa trước lăng Người ( 1976 ); Hái theo mùa ( 1977 ); Hoa trên đá ( 1984 ); Di cảo thơ, tập I ( 1992 ), tập II ( 1993 ) và tập III ( 1996 ). 3. Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác và những hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng: a. Xuất xứ: Bài thơ rút từ tập Ánh sáng và phù sa ( 1960 ), một tập thơ xuất sắc, kết tinh tư tưởng và nghệ thuật thơ Chế Lan Viên trên con đường thơ cách mạng. b. Hoàn cảnh sáng tác: + Vào những năm 1958 – 1960, có phong trào vận động đồng bào miền xuôi ( chủ yếu là thanh niên ) lên xây dựng kinh tế ở miền núi Tây Bắc. Cũng từ giữa năm 1958, theo tiếng gọi của Đảng, nhiều văn nghệ sĩ đi thâm nhập thực tế công cuộc xây dựng đất nước ở nhiều vùng, trong đó lên Tây Bắc có Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Khải. Lúc ấy Chế Lan Viên chưa đến được Tây Bắc, ông đã gửi lòng mình vào bài thơ này. Bài thơ Lên miền Tây của Bùi Quốc Minh với những câu thơ đầy hào hứng: Lứa tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy – Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường rất quen thuộc với thanh niên hồi bấy giờ. Nhưng Tiếng hát con tàu không đơn giản chỉ là bài thơ minh họa sự kiện kinh tế – chính trị trên. Phong trào vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựng kinh tế ở miền núi chỉ là một trong những nhân tố tạo nên cảm hứng sáng tác ở Chế Lan Viên, là cái nguyên cớ để nhà thơ thể hiện khát vọng về với nhân dân, với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình của nhân dân trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, cũng là sự tìm về nơi ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo thơ ca. Sự kiện chính trị đã lùi xa, nhưng bài thơ thì vẫn còn lại như một chứng tích tâm hồn của nhà thơ, với những tình cảm và khát vọng vừa sôi nổi, vừa lắng đọng, những suy ngẫm và cảm nhận về đời sống kết tinh được sự trải nghiệm của tác giả qua nhiều năm tháng. + Lấy sự kiện chính trị – xã hội làm điểm xuất phát, khơi gợi cảm hứng sáng tác là một cách khai thác đề tài khá quen thuộc của Chế Lan Viên. Song, từ những điểm xuất phát đó, xu hướng chung của thơ Chế Lan Viên là vươn lên nhằm đạt tới sự khái quát sâu sắc về cuộc sống và nghệ thuật. – Hoàn cảnh và tâm trạng riêng của tác giả khi viết bài thơ Tiếng hát con tàu: sau kháng chiến chống Pháp, Chế Lan Viên ốm nặng, phải đi chữa bệnh dài ở Trung Quốc. Trở về nước, ông vẫn còn rất yếu. Trong không khí sôi động của miền Bắc những năm bước vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới, Chế Lan Viên không thể đi đến các vùng đất xa xôi của Tổ quốc, ông đã thể hiện khát vọng lên đường qua bài thơ này. Nhưng xét sâu hơn, bài thơ ra đời chủ yếu vì nhu cầu giải bày tình cảm ân nghĩa của tác giả đối với nhân dân, đối với cuộc đời và cách mạng. c. Những hình ảnh và địa danh mang ý nghĩa biểu tượng: Trong bài thơ, con tàu và Tây Bắc là những hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng: – Con tàu: Khi bài thơ ra đời thì chưa có đường tàu và con tàu nào lên Tây Bắc. Hình ảnh con tàu là biểu tượng cho tâm hồn nhà thơ đang khao khát lên đường, vượt ra khỏi cuộc sống chật hẹp, quẩn quanh để đến với cuộc sống rộng lớn, đến những miền xa xôi, đến với nhân dân, đất nước và cũng còn là đến với những mơ ước, những ngọn nguồn của cảm hứng nghệ thuật. – Tây Bắc: í nghĩa cụ thể: chỉ địa danh một vùng đất xa xôi của Tổ quốc – nơi có cuộc sống gian lao mà nặng nghĩa tình của nhân dân, nơi đã khắc ghi những kỉ niệm không thể quên của một đời người trải qua cuộc kháng chiến, nơi đang vẫy gọi đi tới. Ngoài ý nghĩa cụ thể thỡ Tây Bắc còn là một biểu tượng của cuộc sống lớn của nhân dân và đất nước, là cội nguồn cảm hứng của nghệ thuật, cội nguồn cảm hứng của hồn thơ và những sáng tạo thơ ca. Vì vậy, lời giục giã ra đi, kêu gọi lên Tây Bắc cũng là lời kêu gọi hãy trở về với chính lòng mình, tìm đến tâm hồn mình với những tình cảm trong sáng, nghĩa tình sâu nặng gắn bó nhân dân và đất nước. 4. í nghĩa nhan đề bài thơ: – Bài thơ ra đời khi chưa có đường tàu lên Tây Bắc. Hình ảnh con tàu thực chất là hình ảnh biểu tượng, thể hiện khát vọng lên đường và niềm mong ước của nhà thơ được đến với mọi miền đất nước. – Tiếng hát con tàu, như vậy là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ đầy xỳc động, khỏt khao hướng đến hiện thực của đất nước, một tâm hồn tràn ngập niềm tin vào lí tưởng vào cuộc đời. Tâm hồn nhà thơ đã hóa thân thành con tàu, hăm hở làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân. Đến với đất nước, nhân dân cũng là đến với cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, trong đó có thơ ca. – Tiếng hỏt con tàu là tiếng hỏt của niềm vui được trở về với nhõn dõn, được hũa nhập vào cuộc sống mới và sức mạnh của cộng đồng, để tỡm lại chớnh mỡnh, vươn tới những chõn trời mới mẻ của đời sống và thi ca. II. Bố cục tác phẩm: Bài thơ có thể chia làm 3 đoạn: – Đoạn 1 ( hai khổ thơ đầu ): thể hiện sự trăn trở của nhà thơ trước hiện thực đất nước đang cần sự cống hiến của những bàn tay khối úc, cần khai phỏ những đề tài mới mẻ trong văn học và lời giục giã, mời gọi lên đường. – Đoạn 2 ( chín khổ thơ tiếp theo ): niềm hạnh phúc và khát vọng về với nhân dân, gợi lại những kỉ niệm sâu nặng đầy tình nghĩa trong những năm kháng chiến. – Đoạn 3 ( bốn khổ thơ cuối ): khỳc hỏt lờn đường sôi nổi, tin tưởng và say mê đó giục gió nhà thơ đến với cuộc sống mới, tỡm thấy nguồn đề tài mới (4 khổ thơ cuối). III. Đọc hiểu văn bản: 1. Khổ đề từ: – Bốn câu thơ đề từ của bài ( mà tác giả có ý định làm đề từ chung cho một chùm thơ ) có tính khái quát rộng hơn, vượt lên các sự việc cụ thể. Cấu trúc vần thơ dưới hình thức hỏi – đáp. Không chỉ bằng câu hỏi mà đáp cũng bằng câu hỏi. Giọng điệu ngân vang, say mê, hào hứng: Tây Bắc ư ? Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hóa những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu ? – Bao trùm lên khổ đề từ là niềm tự hào về một tình yêu lớn của nhà thơ. Hỏi – đáp để tự khẳng định sự thức nhận của tâm hồn mình. + Câu một nói lên tình cảm cao đẹp, rộng lớn: không chỉ yêu riêng Tây Bắc mà nhà thơ còn hướng tâm hồn mình đến với mọi miền bao la của đất nước bao la với tất cả tình yêu thương tha thiết. + Câu hai và ba chỉ rõ nguồn gốc của tình cảm cao đẹp đó. Điều kiện chủ quan là khi lòng ta đã hóa những con tàu, tự thân ta đã sống với một khát vọng đẹp muốn đi tới mọi miền của Tổ quốc thân yêu để hiến dâng và phục vụ. Điều kiện khách quan là hiện thực xã hội, là không khí của thời đại: Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát. Đó là một thời kì rất đẹp, rất sôi động trên miền Bắc nước ta. Nhân dân phấn khởi, hào hứng xây dựng đất nước và cuộc sống mới. + Câu bốn là hệ quả tất yếu mà điều kiện chủ quan và khách quan đưa tới: Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu ? Câu hỏi tu từ vang lên kiêu hãnh biểu lộ tâm hồn mình đã hòa nhập, đã gắn bó, đã yêu mến nồng hậu Tây Bắc. à Có thể nói, với Chế Lan Viên, hành trình đến với nhân dân, đến với cuộc đời rộng lớn cũng là sự trở về với chính tâm hồn mình, làm giàu có thêm tâm hồn thơ của mình. Ông đã tìm ra một cách diễn đạt thông minh, sắc sảo nhưng cũng khá cầu kì để thể hiện sự hòa nhập tư tưởng, tình cảm tâm hồn của người nghệ sĩ với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, đất nước. Tình cảm, tâm hồn của nhà thơ ( Khi lòng ta đã hóa những con tàu ) một khi đã hòa nhập với không khí nào nức, tưng bừng, với niềm vui chung của nhân dân trong cuộc dựng xây đất nước ( Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát ) thì cũng là lúc soi vào lòng mình, nh … vá rách Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con. Nhớ đến người anh là tác giả nhớ đến màu áo nâu, chiếc áo giản dị gắn với những chiến công và kết tinh lại là hình ảnh rất cảm động của sự hi sinh, san sẻ: Đêm cuối cùng anh cởi lại cho con. + Em con, thằng em liên lạc: Con nhớ em con, thằng em liên lạc Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ Sáng bản Na, chiều em qua bản Bắc Mười năm tròn ! chưa mất một phong thư. Khi nhớ tới người em là tác giả nhớ tới công việc giao liên, tinh thần vượt khó khăn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ( Mười năm tròn ! chưa mất một phong thư ). + Bà mế già: Con nhớ mế ! Lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau, mế thức một mùa dài, Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi. Mế là hình ảnh kết tinh lại một cách cảm động từ những kỉ niệm tình cảm yêu thương, hành động hết lòng chăm sóc những đứa con đi kháng chiến. Hình ảnh mế cũng là hình ảnh của những người mẹ Việt Nam. à Với những điệp ngữ Con nhớ anh con, Con nhớ em con, Con nhớ mế,… bài thơ chồng chất, ăm ắp những kỉ niệm được gợi ra từ niềm hoài niệm về nhân dân của nhà thơ. Cách xưng hô của chủ thể trữ tình bộc lộ một tình cảm thân tình, ruột thịt với những con người đã từng gắn bó mật thiết với mình trong những năm kháng chiến. Bằng những chi tiết cụ thể, gợi cảm, tác giả khắc họa hình ảnh những con người này với những hi sinh thầm lặng, lớn lao, với tình thương và sự che chở, đùm bọc trọn vẹn và rộng lớn: suốt một đời, đêm cuối cùng, mười năm tròn, một mùa dài, trọn đời,… ( đây là những từ ngữ bao hàm ý nghĩa trọng vẹn ). Đồng thời, qua đây chúng ta hiểu được sự rung động vừa sâu sắc, thân thiết, vừa say mê, mãnh liệt của một hồn thơ trong những giây phút bừng sáng của sự giác ngộ một chân lí đời sống và cũng là chân lí của nghệ thuật: phải trở về thủy chung gắn bó với nhân dân. Tổ quốc và nhân dân đã hồi sinh cho một hồn thơ đã từng một thời gian giam mình trong cái tôi cô đơn, đóng khép. Những câu thơ nói về tình nghĩa nhân dân biểu lộ một lòng biết ơn sâu nặng, sự gắn bó chân thành và những xúc động thấm thía của một tấm lòng, một trái tim; những câu thơ được viết bằng sự trải nghiệm thấm thía của chính nhà thơ qua những năm kháng chiến. – Từ những kỉ niệm ân tình, những hoài niệm về nhân dân, tác giả đã nâng lên thành những suy ngẫm, những chiêm nghiệm giàu sức khái quát, những chân lí được rút ra từ những trải nghiệm của chính mình: Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương ? + Điệp từ nhớ như để khắc sâu, nhấn mạnh về một miền đất cụ thể nhưng vẫn có nét riêng đó là sương giăng, mây phủ – những từ này gợi liên tưởng cho chúng ta đến những miền đất xa xôi của Tổ quốc vẫn còn đọng lại vấn vương, bồi hồi trong kí ức của nhà thơ. + Từ đây, tác giả nâng lên thành một triết lí của cuộc sống: Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn ! Đất: khi ta ở, khi ta đến thì đất tồn tại như một khái niệm địa lí thông thường nhưng khi rời xa, thì đất đã hóa tâm hồn – khi chúng ta rời xa mảnh đất đã từng gắn bó với bao nghĩa tình đó thì tất cả sẽ được bao bọc bởi những kỉ niệm khắc sâu trong tâm khảm, kỉ niệm đó sẽ lắng sâu vào kí ức thành máu thịt thiêng liêng. Tác giả đã tạo ra sự phi lí bề ngoài ( đất hóa tâm hồn ) là hình thức chứa đựng chân lí bên trong: tình cảm gắn bó giữa con người với những miền đất sẽ theo thời gian mà âm thầm bồi đắp nên tâm hồn cho con người. Đó là điều kì diệu mà tình cảm con người đã làm được để biến kỉ niệm với những miền đất mà mình đã từng qua thành tâm hồn của chính mình. Đây là một triết lí sâu sắc, thâu tóm được một quy luật phổ biến trong đời sống nhân sinh. Từ cảm xúc suy tư đúc kết thành những triết lí chính là một nét độc đáo của nghệ thuật thơ Chế Lan Viên. – Tác giả đưa ra suy ngẫm về tình yêu và về miền đất lạ: Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng Như xuân đến chim rừng lông trở biếc Nói đến tình yêu trong nỗi nhớ, câu thơ Chế Lan Viên lấp lánh, rực rỡ những sắc màu, bồi hồi, xôn xao những xúc động. Chế Lan Viên đã diễn tả thật hóm hỉnh, độc đáo và sâu sắc mối quan hệ khăng khít, sự gắn bó chặt chẽ giữa những người đang yêu. Hai hình ảnh so sánh thật độc đáo: rét là một thuộc tính của mùa đông, là quy luật của tự nhiên. Nói đến mùa đông là phải nói đến rét cũng như trong tình yêu, trong nỗi nhớ của con người cũng vậy. à Từ đây, tác giả nâng lên thành tình cảm sâu sắc và thiêng liêng: Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương Một câu thơ ngắn gọn nhưng có sự cô đúc, khái quát sâu sắc. Câu thơ không chỉ giới hạn trong tình yêu đôi lứa của anh và em mà còn là sự kết tinh của những tình cảm sâu nặng đối với quê hương, đất nước: ở đâu thắm thiết nghĩa tình thì ở đó là quê hương. Mạch thơ tưởng như đột ngột rẽ sang một bước khác, nhưng kì thực là khơi sâu thêm cái mạch suy nghĩ, triết luận của khổ thơ trước. Nói về tình yêu nhưng lại hướng tới sự cắt nghĩa, lí giải, làm bừng sáng ý nghĩa của cả đoạn thơ. Chế Lan Viên đã nói tới phép màu của tình yêu. Chính tình yêu đã biến thành những miền đất xa lạ trở thành thân thiết như quê hương ta, hóa thành máu thịt tâm hồn ta. Những câu thơ cô đúc như một châm ngôn chứa đựng những phát hiện sâu sắc về quy luật của tình cảm này không xuất phát, không lấy điểm tựa làm trí tuệ sắc sảo mà chủ yếu được Chế Lan Viên kiến tạo trên cái nền của những xúc động của chính tâm hồn mình, lắng nghe tiếng lòng của chính mình mà chiêm nghiệm ra một chân lí phổ quát của đời sống tình cảm con người. Chính vì triết lí được rút ra từ tình cảm, cảm xúc chân thành, cho nên triết lí mà vẫn không khô khan, vẫn tự nhiên, dung dị. Đó là những câu thơ vào loại hay nhất của đời thơ Chế Lan Viên. 4. Khúc hát lên đường đầy lôi cuốn, sôi nổi và say mê: Bốn khổ thơ cuối là khúc hát lên đường đầy lôi cuốn, sôi nổi say mê, nhưng cũng tiếp tục phát triển mạch suy tưởng của bài thơ lên một bước nữa: – Những câu hỏi tu từ thể hiện sự giục giã, nó giống như tiếng gọi của đât nước, của nhân dân, của đời sống đã thành sự thôi thúc bên trong, thành lời giục giã của chính lòng mình nên càng không thể chần chừ: Đất nước gọi ta hay lòng ta gọi ? Tình em đang mong tình mẹ đang chờ thành nỗi khao khát bồn chồn không thể cưỡng được: Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng. – Nỗi khao khát mãnh liệt ấy càng thôi thúc tâm hồn thơ vì đó cũng là về với những ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo. Những năm tháng gian khổ, những hi sinh lớn lao, những đâu thương chiến tranh, nay đã kết tinh thành Mùa nhân dân giăng lúc chín rì rào trên Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao, thành vàng của tâm hồn, thành trái đầu xuân, đang mời gọi những tâm hồn thơ, đang vẫy gọi cả những cơn mơ, những mộng tưởng. – Trong đoạn này, cùng với âm hưởng sôi nổi, lôi cuốn của các câu thơ là những hình ảnh phong phú, biến hóa sáng tạo, chủ yếu là những hình ảnh biểu tượng và ẩn dụ: đó là hình ảnh con tàu trên đoạn đầu được trở lại thành hình ảnh trung tâm, cùng với những mùa nhân dân giăng lúa chín, vàng ta đau trong lửa, vầng trăng, Mặt hồng em tròn suối lớn mùa xuân,… – Tạo ra âm hưởng lôi cuốn, trùng điệp của đoạn thơ kết thúc này có vai trò của một từ ngữ của câu cuối khổ thơ trên xuống câu đầu của khổ thơ dưới, làm cho các khổ thơ liền mạch, dồn dập, trùng điệp: Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga Mắt ta nhớ mặt người, tai ta nhớ tiếng. … Mặt đất nồng nhựa nóng của cần lao Nhựa nóng mười năm nhân dân đổ máu. 5. Nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm: – Nhà thơ đã sáng tạo ra một hệ thống hình ảnh đa dạng, phong phú: + Có những hình ảnh thị giác do quan sát được trong đời sống thực: bản sương giăng, đèo mây phủ, lửa hồng soi tóc bạc, chim rừng lông trở biếc, Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng,… + Có những hình ảnh được miêu tả từ cụ thể đến chi tiết: Chiếc áo nâu suốt một đời vá rách,… + Có những hình ảnh thực nhưng lại giàu sức gợi: Con nhớ mế ! Lửa hồng soi tóc bạc,… + Nhưng phong phú hơn là loại hình ảnh được xây dựng thành những hình ảnh – biểu tượng, hình ảnh ẩn dụ – tượng trưng: con tàu, vầng trăng, trái đầu xuân, vàng ta đau trong lửa, Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân,… – Chế Lan Viên thường có thói quen xây dựng, thiết kế những hình ảnh độc đáo, tân kì, mới lạ, hoặc là xâu chuỗi, hoặc là tầng tầng lớp lớp liên kết với nhau bằng những liên tưởng bất ngờ, có chiều sâu trí tuệ. – Tác giả sử dụng nhiều biện pháp xây dựng hình ảnh. So sánh được dùng phổ biến nhưng cũng rất đa dạng ( khổ 5 và khổ 10 ), cùng với ẩn dụ được dùng rộng rãi. Sức tưởng tượng, liên tưởng rất mạnh mẽ và nhiều khi bất ngờ tạo ra những so sánh mới lạ, những hình ảnh gợi tưởng tượng phong phú của người đọc: Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng. – Có nhiều biện pháp tu từ, đặc biệt là cách chuyển nghĩa được dùng rộng rãi cùng với hình ảnh phong phú, làm cho bài thơ có vẻ đẹp tinh tế, có lúc rực rỡ và một chút cầu kì ( có người đã nhận xét thơ của Chế Lan Viên như người phụ nữ ưa trang sức và biết cách trang điểm ). – Thơ Chế Lan Viên không thể nào trần trụi và mộc mạc được. Ông là nhà thơ dùng văn chương tới mức tối đa. Thói quen này gắn liền với quan niệm về văn chương của ông: Có những cách cày bừa tăng năng suất cho cây trồng. Có những cách dùng chữ, viết văn tăng năng suất cho ý. Chính vì lẽ đó, Chế Lan Viên luôn có ý thức tìm tòi, đổi mới hình thức thơ. Và khi nào những tìm tòi về mặt hình thức ấy hòa hợp được với tư tưởng sâu sắc, với cảm xúc phong phú, chân thành thì Chế Lan Viên có được những bài thơ có giá trị. IV. Ghi nhớ: – Nội dung: Bài thơ là lời giục giã, là khúc hát lên đường say mê, náo nức đến với những miền đất xa xôi đang cần xây dựng của đất nước, đến với cuộc đời rộng lớn. Đồng thời, bài thơ đã khơi dậy những kỉ niệm sâu sắc, thắm thiết nghĩa tình khi gặp lại nhân dân trong những năm kháng chiến chống Pháp gian lao và thể hiển khát vọng của một hồn thơ muốn vượt ra khỏi những giới hạn nhỏ hẹp riêng tư để đến với chân trời rộng lớn, về với nhân dân và đất nước. Về với nhân dân, với những kỉ niệm sâu nặng nghĩa tình trong những năm kháng chiến gian khổ cũng là con đường tìm về ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo thi ca. – Nghệ thuật: Bài thơ hấp dẫn người đọc bởi nghệ thuật sử dụng ngôn từ, hình ảnh, bởi cách nói sáng tạo độc đáo của tác giả. Nhà thơ đã xây dựng nhiều hình ảnh giàu tính biểu tượng như con tàu, Tây Bắc, vầng trăng,… Những hình ảnh này liên kết với nhau rất phong phú và biến hóa. Các thủ pháp xây dựng hình ảnh, lối so sánh, biện pháp trùng điệp, giọng điệu thiết tha, chân thành, chứng tỏ chất trí tuệ sắc sảo của nhà thơ. V. Luyện tập: Trong Tiếng hát con tàu, Chế Lan Viên đã nói tới mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa thơ ca với hiện thực cuộc sống. Một mặt, ông thấy được vai trò quyết định của đời sống: Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia. Mặt khác, ông vẫn nhấn mạnh, đề cao vai trò của người nghệ sĩ với tư cách là chủ thể sáng tạo. Ông đòi hỏi phải có sự hòa hợp giữa tình cảm, tâm hồn nhà thơ với cuộc sống của nhân dân, đất nước. Bốn câu thơ đề từ của bài thơ thể hiện rất rõ điều này. ———-Hết———-

Soạn Văn Lớp 12: Tiếng Hát Con Tàu

Soạn văn lớp 12 tập 1: Tiếng hát con tàu. Câu 3: Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ:

Câu 1: Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con tàu và địa danh Tây Bắc, giải thích nhan đề bài thơ và bốn câu thơ đề từ.

Thực tế lúc đó chưa có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Hình ảnh ” con tàu” trong bài thơ chủ yếu mang ý nghĩa biểu tượng cho khát vọng đi xa đến những vùng đất xa xôi hòa vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đất nước. Đó là con tàu của tâm hồn nhà thơ khao khát về với ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật.

– ” Tây Bắc” ngoài ý nghĩa cụ thể chỉ miền đất vùng cao phía Tây Bắc của tổ quốc, nó còn biểu tượng cho mọi miền xa xôi của đất nước, nơi có cuộc sống gian lao mà sâu nặng tình nghĩa, khắc ghi kỉ niệm một thời kháng chiến. Tây Bắc chính là Tổ quốc.

– Tiếng hát con tàu là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ, hăm hở, sôi nổi làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân, cũng là đến với chân trời nghệ thuật mới.

– Bốn câu thơ đề từ là những cuộc hóa thân kì diệu trong tâm hồn nhà thơ, nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa thi sĩ với Tổ quốc, với cuộc đời – nơi tạo ra nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca.

Câu 2: Bố cục bài thơ:

Bố cục 3 phần đã thể hiện sự vận động tâm trạng chủ thể trữ tình: phần đầu có sự day dứt, trăn trở. Đoạn giữa là dòng hoài niệm với cảm xúc thiết tha, biết ơn. Đoạn cuối sôi nổi, háo hức.

Câu 3: Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ:

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

Tác giả đã tạo ra những cặp hình ảnh giàu tính tượng trưng, mỗi cặp một sắc thái khác nhau để so sánh làm nổi bật niềm hạnh phúc lớn lao của mình khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để về với nhân dân. Đối với người con ở đây, nhân dân là nơi chan chứa tình yêu thương, che chở, cưu mang, là nguồn sống, là bầu sinh khí, tiếp sức cho anh.

Hình ảnh so sánh phong phú chắt lọc từ đời sống thiên nhiên và con người nên rất bình dị, gần gũi. Cách sắp xếp hàng loạt hình ảnh so sánh cùng hướng tới một ý nghĩa tạo sự nồng nàn, tha thiết.

Câu 4:

Nhân dân Tây Bắc trong hoài niệm của tác giả là những người dân lao động nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, gắn bó nghĩa tình với kháng chiến. Đó là ” người anh du kích“, đã hi sinh trong một trận công đồn, trước lúc ra đi còn nhường lại chiếc áo đang mặc cho người kháng chiến. Chỉ là ” chiếc áo nâu suốt một đời vá rách” nhưng nghĩa tình trong cử chỉ nhường áo đó mãi không thể quên. ” Nhường cơm sẻ áo” đã trở thành những cử chỉ đẹp trong môi trường kháng chiến thiếu thốn. Trong bài ” Việt Bắc“, Tố Hữu đã viết:

Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

Đó là hình ảnh ” em liên lạc“, một em thiếu nhi Tây Bắc sớm có lòng yêu nước, tận tụy, đầy ý thức trách nhiện với công việc ” Mười năm tròn chưa mất một phong thư“. Tình cảm của em đối với người kháng chiến rất đáng trân trọng, yêu thương, bảo vệ người kháng chiến hết mình ( Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ).

Hình ảnh ” mế“, người mẹ Tây Bắc ân cần chăm sóc người kháng chiến khi họ bị bệnh không phải một ngày, một tháng mà cả ” mùa dài“. Tình mẹ đối với người kháng chiến chẳng khác tình ruột thịt. Hình ảnh mẹ càng đẹp hơn trong sự phản chiếu lung linh của ” lửa hồng soi tóc bạc“.

Hình ảnh cô gái Tây Bắc đọng lại trong cử chỉ ấm áp ” Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch“, trong hương thơm của ” vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng“. Tình quân dân lâu dần thành tình đôi lứa. Nỗi nhớ được so sánh bằng những hình ảnh gợi bất ngờ, mới lạ, gợi được những tưởng tượng phong phú. ( Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét, Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng …)

– Cách xưng hô thân tình, ruột thịt ( anh con, em con, mế …) hình ảnh chân thực, từ ngữ gợi cảm, so sánh độc đáo … Đoạn thơ thể hiện lòng biết ơn, tình yêu thương sâu nặng đối với Tây Bắc. Nhân dân Tây Bắc như một đại gia đình ruột thịt của người kháng chiến.

– Khổ thơ:

Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn

Thể hiện niềm thương nhớ đằm thắm, sâu nặng với những mạnh đất mình đã đi qua. Những câu thơ triết lí nhưng không khô khan bởi vì nó dựa vào quy luật của tình cảm. Những miền đất lạ theo thời gian và nghĩa tình sẽ âm thầm bồi đắp tình yêu cho con người. Để rồi khi đi xa, những mảnh đất đó vẫn mãi theo người.

Từ những cảm xúc suy tư về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn của người đúc kết thành triết lí đó chính là nét độc đáo trong phong cách thơ Chế Lan Viên.

Câu 5: Những câu thơ thể hiện rõ nhất chất suy tưởng và triết lí của Chế Lan Viên là:

Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

Câu 6: Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong bài thơ:

Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên hấp dẫn người đọc một phần là ở nghệ thuật sáng tạo hình ảnh. Biểu hiện ở:

– Sự phong phú, đa dạng các loại hình ảnh:

+ Hình ảnh thực với chi tiết cụ thể (hình ảnh ” mế“, hình ảnh người du kích, em liên lạc, …)

+ Hình ảnh biểu tượng (con tàu, vầng trăng, mặt hồng em, suối lớn mùa xuân, …)

+ Hình ảnh tượng tưởng (con tàu mộng tưởng, mỗi đêm khuya uống một vầng trăng, …)

– Sử dụng đa dạng các phương thức sáng tạo hình ảnh:

+ Tả thực (khổ 6, 7, 8)

+ So sánh (khổ 5 và 10)

+ Ẩn dụ (con tàu, vầng trăng, …)

– Hình ảnh thường được tổ chức thành từng chuỗi liên kết, tiếp nối, bổ sung nhằm khắc sâu ý tưởng, cảm xúc.

chúng tôi

Soạn Bài Lớp 12: Tiếng Hát Con Tàu

Soạn bài lớp 12: Tiếng hát con tàu

Soạn bài môn Ngữ văn lớp 12 học kì I

Soạn bài: Tiếng hát con tàu

– Chế Lan Viên là tài liệu văn mẫu lớp 12, giúp các bạn đọc hiểu tác phẩm, cảm nhận được những cảm xúc chân thành, tha thiết của tác giả trong công cuộc dựng xây đất nước, sự hòa nhập với nhân dân, với cuộc sống mới. Mời các bạn cùng tham khảo.

Soạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Khoa ĐiểmSoạn bài lớp 12: Đất nước – Nguyễn Đình ThiGiáo án Ngữ văn bài Tiếng hát con tàuPhân tích tác phẩm Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên

TIẾNG HÁT CON TÀU

(Chế Lan Viên) I. GIỚI THIỆU CHUNG:

Chế Lan Viên là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Trước Cách mạng, thơ ông thể hiện tư tưởng siêu hình và bế tắc về thế giới và nghệ thuật. Sau 1945, hiện thực cách mạng và nhân dân đã làm cuộc đời và hồn thơ Chế Lan Viên thay đổi mạnh mẽ.

“Tiếng hát con tàu” in trong tập “Ánh sáng và phù sa” (1960). Tác phẩm lấy cảm hứng từ cuộc vận động nhân dân miền xuôi lên Tây Bắc để xây dựng kinh tế miền núi những năm 58- 60.

II. NỘI DUNG CHÍNH: 1. Nhan đề và lời đề từ: Hình ảnh “Con tàu” và “Tây Bắc” mang ý nghĩa biểu tượng trong suốt bài thơ.

* Ý nghĩa nhan đề:

* Ý nghĩa lời đề từ: Khẳng định vai trò của cuộc sống đối với tâm hồn người nghệ sĩ – cần mở lòng hòa nhập với cuộc sống để có cảm hứng sáng tạo nghệ thuật trong hoàn cảnh đất nước bắt tay vào xây dựng sau chiến tranh.

3. Kỉ niệm về Tây Bắc trong những ngày kháng chiến gian khổ (khổ 3 – 11):

Nhớ về vùng đất Tây Bắc “thiêng liêng, anh hùng”, đã trở thành biểu tượng của Đất nước gian lao mà anh dũng (khổ 3+4). Nhà thơ bộc lộ tình cảm của mình như đứa con với mẹ thân yêu “Cho con về gặp lại mẹ yêu thương”…

Nhớ về Tây Bắc bằng niềm khao khát được trở về với nhân dân, với cảm xúc như được trở về cội nguồn, về với niềm hạnh phúc lớn lao (khổ 5). Nhà thơ sử dụng những hình ảnh so sánh cụ thể mang vẻ đẹp thơ mộng, niềm vui sướng, hạnh phúc được gặp lại những gì thân thiết sâu nặng (Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ. Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa. Như đưa trẻ thơ đói lòng gặp sữa. Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa).

Từ những câu thơ bày tỏ tình cảm cụ thể, riêng tư đối với thiên nhiên, đất nước, con người Tây Bắc, nhà thơ đã nâng lên thành những câu thơ có chất suy tưởng khái quát giống như châm ngôn nhưng chứa chan tình cảm, xúc cảm về quê hương đất nước: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mấy phủ – Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương- Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”… “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”.

4. Hướng về Tây Bắc trong công cuộc xây dựng đất nước (khổ 12 – 15): III. NGHỆ THUẬT: IV. KẾT LUẬN:

Bài thơ thể hiện những cảm xúc chân thành, tha thiết của tác giả trong công cuộc dựng xây đất nước, sự hòa nhập với nhân dân, với cuộc sống mới, mà ở đó tác giả đã tìm đuợc nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật cho mình.

Giáo Án Chi Tiết Ngữ Văn 12: Vợ Nhặt (Kim Lân)

(KIM LÂN) Biên soạn và hướng dẫn : Thầy Hoàng Phong Tuấn              A – MỤC TIÊU CẦN ĐẠT:             1. Hiểu được tình cảnh thê lương của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945 do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra.             2. Cảm nhận được niềm khao khát mãnh liệt về hạnh phúc gia đình và niềm tin bất diệt ở sự sống, tương lai của người lao động.             3. Nắm được những điểm đặc sắc về nghệ thuật của thiên truyện (tình huống truyện, miêu tả tâm lí, dựng đối thoại,).              B – TIẾN TRÌNH BÀI HỌC:             Lời dẫn dắt:             Điều kiện sống vật chất chi phối con người rất nhiều, đặc biệt là trong những hoàn cảnh mà sự thiếu thốn và cái đói làm cho con người khốn khổ, tuyệt vọng. Nhưng đó lại là lúc mà con người cần hơn bao giờ hết sự sẻ chia, lòng nhân ái, một niềm tin và hi vọng để tiếp tục sống. Kim Lân sẽ kể cho chúng ta nghe một câu chuyện cảm động về hoàn cảnh con người phải đối diện với cái đói và cái chết, nhưng tâm hồn họ luôn hướng về nhau và hướng về tương lai.   I. Tìm Hiểu Chung       1. Nhà văn Kim Lân (1920 – 2007)        – Tên khai sinh: Nguyễn Văn Tài. Quê: Làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, Huyện Tiên Sơn, Tỉnh Bắc Ninh. Ông được tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.       – Tác phẩm: Nên vợ nên chồng (1955), Con chó xấu xí (1962).       – Kim Lân là cây bút viết truyện ngắn xuất sắc. Thế giới nghệ thuật của ông thường tập trung ở khung cảnh nông thôn và hình tượng người nông dân. Đặc biệt, ông có những tranh viết đặc sắc về phong tục và đời sống thôn quê. Kim Lân là nhà văn một lòng một dạ đi về với “đất” với “người”, với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn.        2. Tác phẩm:        Bối cảnh xã hội của tác phẩm:Trong những tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nam Cao đều có tình cảnh người nông dân khốn khổ vì đói kém: Tắt đèn, Một bữa no, Lão Hạc,…        Thể loại tác phẩm:Truyện ngắn có tình huống, nhân vật, mở đầu, kết thúc, không thời gian, người kể truyện. II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN: Đọc diễn cảm và tóm tắt tác phẩm: Đọc diễn cảm một số đoạn tiêu biểu: đoạn Tràng dẫn vợ về giới thiệu với bà cụ Tứ, đoạn bữa cơm ngày đói. Tóm tắt diễn biến cốt truyện và những chi tiết chính: Tràng “nhặt” được vợ trong ngày đói. Người dân làng ai cũng ngạc nhiên. Bà cụ Tứ ngạc nhiên và lo lắng. Sáng hôm sau, bữa cơm ngày đói đạm bạc, nhưng mọi người cố vui. Trong óc Tràng hiện lên hình ảnh lá cờ đỏ. Nhan đề Vợ nhặt: Nhan đề Vợ nhặt thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm. “nhặt” thường đi với những thứ “không ra gì”. Thông thường, người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” được vợ. Sự việc này nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của những người nông dân nghèo trước Cách mạng. Tuy nhiên, đối với nhân vật Tràng, người vợ “nhặt” lại là người đem đến hạnh phúc. Cho vợ chồng Tràng, từ khi có vợ “nhặt”, mọi người trở nên gắn bó, quây quần, chăm lo, thu vén cho tổ ấm của mình.  Như vậy, nhan đề Vợ Nhặt vừa thể hiện thảm cảnh của người dân trong nạn đói 1945 vừa bộc lộ sự cưu mang, đùm bọc lẫn nhau; khát vọng hướng tới cuộc sống gia đình, tổ ấm và niềm tin của con người trong cảnh khốn cùng. 3.Tình huống truyện:             – Sự ngạc nhiên của mọi người: Tràng là một nhân vật có ngoại hình xấu, lại là dân ngụ cư. Trong lúc không một ai (kể cả Tràng) nghĩ đến chuyện vợ con thì đột nhiên Tràng có vợ. Sự việc Tràng “nhặt” được vợ đồng nghĩa với gia đình tăng thêm một miệng ăn và đồng thời làm tăng them tai họa cho Tràng và gia đình anh ta, đẩy họ đến gần hơn với cái chết.             + Giá trị hiện thực: Tố cáo tội ác của thực dân, phát xít qua bức tranh xám xịt về thảm cảnh nạn đói. Cái đói quay quắt dồn đuổi đến mức nhân vật “thị” chủ động gợi ý mời ăn. Chỉ qua mấy lời nữa đùa, nữa thật mà thị đã chấp nhận theo không Tràng.             + Giá trị nhân đạo: tình thân ái, cưu mang đùm bọc lẫn nhau, khát vọng hướng tới sự sống và hạnh phúc đã được thể hiễn rõ nét qua hành động của Tràng. Điều mà Kim Lân muốn nói ở đây là: dù trong hoàn cảnh bi thảm nhất, giá trị nhân bản không mất đi, con người vẫn cứ khao khát được sống, được hạnh phúc. 4.    Diễn biến tâm trạng của các nhân vật:            a) Diễn biến tâm trạng của nhân vật Tràng            – Tràng “nhặt” được vợ trong hoàn cảnh nạn đói đang hoành hành. “Chậc kệ!”, cái tặc lưỡi của chàng không phải là sự liều lĩnh mà thể hiện một sự cưu mang, một tấm lòng nhân hậu không thể chối từ. Quyết định có vẻ giản đơn nhưng thể hiện tình thương của con người đối với nhau trong cảnh khốn cùng.           – Trên đường về xóm ngụ cư, Tràng không cúi xuống lầm lũi như mọi ngày mà “phởn phơ”. Trong một phút chốc, Tràng quên tất cả tăm tối, “chỉ còn tình nghĩa với người đàn bà đi bên” và Tràng có cảm giác êm dịu của người lần đầu tiên lần đầu tiên đi cạnh người vợ mới.           – Giới thiệu vợ mình với mẹ, Tràng tỏ ra tinh tế, tôn trọng và xác định gắn kết trăm năm, nên duyên chồng vợ. “Chúng tôi đã phải duyên phải kiếp với nhau, chẳng qua đó cũng là cái số cả”.           – Buổi sáng đầu tiên có vợ. Tràng biến đổi hẳn: “Hắn thấy bây giờ hắn mới nên người!” Tràng cảm thấy phải có trách nhiệm gắn bó với tổ ấm của mình.           b) Diễn biến tâm trạng của nhân vật người vợ nhặt.           – “Thị” theo về làm vợ Tràng trước hết là để chạy trốn cái đói. Trên đường theo Tràng về nhà, cái vẻ “cong cớn” biến mất, chỉ còn người phụ nữ e thẹn, ngượng ngùng và cũng đầy nữ tính (đi sau Tràng ba bốn bước, cái nón rách che nghiêng, ngồi mớm ở mép giường,) Điều này thể hiện một tâm trạng lo âu, băn khoăn, hồi hộp khi bước chân về “làm dâu nhà người”.           – Buổi sớm mai, vợ Tràng dậy sớm quét tước, dọn dẹp. Trong bữa cơm, chị cố nén niềm tủi thân, “điềm nhiên” và miếng cám nấu nghẹn bứ vào miệng. Đó chính là hình ảnh của một người vợ biết lo toan, thu vén, vun đắp cho cuộc sống gia đình, hình ảnh của một người “vợ hiền dâu thảo”.          – Người phụ nữ xuất hiện không tên, không tuổi, không quê quán như “rơi” vào giữa thiên truyện để Tràng “nhặt” làm vợ. Từ chỗ quẫn bách vì cái đói, thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức khi người phụ nữ này quyết định gắn số phận mình với Tràng. Chính “thị” cũng đã làm cho niềm hi vọng của mọi người trỗi dậy khi kể chuyện ở Bắc Giang, Thái Nguyên người ta đi phá kho thóc của Nhật.          c) Diễn biến tạm trạng nhân vật bà cụ Tứ          – Tâm trạng của bà cụ Tứ khi biết tin Tràng có vợ là những diễn biến phức tạp: lúc đầu ngạc nhiên, sau đó vừa mừng vui, vừa xót tủi, “vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Đối với vợ Tràng thì “lòng bà đầy xót thương”. Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “Ừ, thôi thì các con phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”.          – Trong bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hi vọng khi bàn tính: “Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà [] chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem”. Bà chăm chút cho bữa cơm để đem lại không khí hạnh phúc cho gia đình.          – Bà cự Tứ là hiện thân cho nỗi khổ của con người. Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của con thông qua toàn bộ nỗi đau khổ của cuộc đời bà. Bà lo lắng trước thực tế quá nghiệt ngã. Bà mừng một nỗi mừng sâu xa. Diễn biến tâm trạng bà từ ngạc nhiên đến xót thương sâu sắc. Điều đặc biệt là, chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai, một tương lai rất cụ thể, thiết thực với những gà, lợn, ruộng, vườn, một tương lai khiến các con tin tưởng bởi nó không qua xa vời. Kim Lân đã khám phá ra một nét độc đáo khi để cho một bà cụ nói nhiều với đôi trẻ về ngày mai. 5. Đoạn kết của tác phẩm:            Chi tiết là cờ đỏ hiện lên trong kí ức Tràng gợi mở một niềm hi vọng thay đổi số phận của những con người nghèo đói. Đó cũng là tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm.   III. TỔNG KẾT             – Truyện ngắn Vợ Nhặt tả chân dung thực thảm cảnh của những người nông dân trong nạn đói khủng khiếp năm 1945. Đặc biệt, truyện ngắn thể hiện được tấm lòng nhân ái, sức sống kì diệu của con người ngay bên bờ vực thẳm của cái chết vẫn hướng về sự sống và khát khao tổ ấm gia đình.             – Vợ Nhặt tạo được một tình huống truyện độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả độc đáo, cách kể chuyện hấp dẫn, miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, đối thoại sinh động. Đề 1 : Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân Yêu cầu chung : Về kĩ năng : Biết cách phân tích nhân vật, biết làm bài văn nghị luận văn học.       Bố cục mạch lạc, hành văn trôi chảy. Về kiến thức :   * Nội dung : Phân tích được diễn biến tâm trạng nhân vật và khái quát được đặc điểm tính cách nhân vật : – Bà cụ Tứ  là một người mẹ nông dân nghèo nhân hậu, hết lòng thương con và thương nàng dâu đói khổ. – Bà còn là một người mẹ nông dân từng trải và có niềm tin bền bỉ vào tương lai. * Nghệ thuật : – Miêu tả ngoại hình tính cách, tâm lý nhân vật bằng những chi tiết chân thật, xúc động. – Ngôn ngữ nhân vật đậm đà tính chất khẩu ngữ vùng nông thôn Bắc bộ. Dàn bài gợi ý         I. MỞ BÀI : – Giới thiệu chung về nhà văn Kim Lân và hoàn cảnh ra đời tác phẩm. – Nêu khái quát giá trị nhân đạo tác phẩm. – Giới thiệu chung về nhân vật bà cụ Tứ.       II. THÂN BÀI : Người mẹ nghèo có tấm lòng nhân hậu :   – Khi thấy con trai có vợ,  bà lão hết sức ngạc nhiên : con trai mình nghèo,  xấu xí, dân ngụ cư, lại đang buổi đói khát, nuôi thân còn chưa xong mà lại lấy vợ chỉ có trong một ngày. – Khi vỡ lẽ : “lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình”. Bà tủi cho phận con mình, lòng bà đầy lo âu : “trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt . .. biết rằng chúng nó nuôi nổi  nhau sống qua được cơn đói khát này không”. Cuối cùng bà cũng mừng cho hạnh phúc của các con : “Các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”, “cốt sao chúng mày hòa thuận là u mừng rồi. . . ” – Bà mở lòng đón nhận nàng dâu, thương con dâu, cảm thông cho nàng dâu đói khổ : “người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình”, “bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót. Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi.” Bà cụ Tứ là hình ảnh người mẹ mang truyền thống đạo lý dân tộc : “thương ngưới như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”. Người mẹ nghèo khổ ấy hết lòng thương con, thương những mảnh đời tội nghiệp. Lòng nhân hậu đã giúp bà vượt qua những định kiến thông thường của lễ giáo phong kiến để đùm bộc yêu thương nàng dâu đói khổ. Người mẹ có ý chí sống và niềm tin bền bỉ vào tương lai : – Bà cụ Tứ là người đầu tiên tạo nên sự thay đổi trong ngôi nhà lụp xụp, rách nát của ba mẹ con : “Bà lão xăm xắn thu dọn quét tước nhà cửa. Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng, thu xếp nhà cửa cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn”. – Bà thật sự cảm nhận được niềm hạnh phúc đến với gia đình bà : “Bà mẹ Tràng cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u  ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. – Nghèo,  đói nhưng bà cũng cố gắng tạo ra một bữa ăn sáng để đón nàng dâu mới dù chỉ là “niêu cháo lõng bõng” và “nồi chè cám”. – Trong bữa ăn,  bà chỉ nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này để động viên các con. Bà cố gắng vui vẻ, tạo không khí đầm ấm hoà thuận trong gia đình để nâng đỡ các con giữa cảnh tối tăm nghèo đói. – Người mẹ từng trải qua bao gian nan, vất vả ấy tin vào kinh nghiệm dân gian “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”, gieo vào trong lòng các con niềm tin vào tương lai phía trước để vượt qua khó khăn thực tại. Ở người mẹ nghèo, thân hình “lọng khọng” gia nua gầy yếu ấy tồn tại một ý chí sống mãnh liệt. Nhân vật bà cụ Tứ  góp phần thể hiện nội dung nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Nghệ thuật xây dựng nhân vật :  – Nhân vật xuất hiện sau cùng nhưng gây ấn tượng sâu sắc cho người đọc : từ hình ảnh “lọng khọng” nghèo khổ, đến “dòng nước mắt ròng ròng” và “khuôn mặt bủng beo u ám đã rạng rỡ hẳn lên”, từ giọng nói nhẹ nhàng ân cần với nàng dâu mới đến vẻ mặt “tươi cười đon đả”… Đặc biệt là tâm trạng nỗi niềm của người mẹ trong hoàn cảnh đói khổ. Tất cả là những chi tiết chân thực, giản dị mà đầy xúc động về người mẹ nông thôn dân dã chất phác mà giàu lòng nhân ái.      III. KẾT LUẬN – Khẳng định lại sự thành công của Kim Lân khi xây dựng nhân vật. – Liên hệ, so sánh mở rộng. Đề 2 : Phân tích giá trị nhân  đạo của truyện ngắn “Vợ nhặt” (Kim Lân) Yêu cầu chung          Về kĩ năng : – Học sinh nắm vững kiểu bài phân tích tác phẩm tự sự (phương diện nội dung). – Luận điểm rõ ràng, bố cục chặt chẽ. Biết lựa chọn dẫn chứng và phân tích dẫn chứng. Diễn đạt trôi chảy. Dàn bài gợi ý         I. MỞ BÀI : – Giới thiệu về nhà văn Kim Lân và đề tài sở trường của ông về người nông dân. – Vấn đề nạn đói năm 1945 đã từng được viết trong một số sáng tác của Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nam Cao và Kim Lân đã góp thêm một tiếng nói chân thực. – Giới thiệu khái quát nội dung nhân đạo trong “Vợ nhặt”.         II. THÂN BÀI : 1. Tác phẩm lên án tội ác của thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp năm 1945, đồng thời thể hiện sự đồng cảm, xót xa cho những người dân nghèo đói khổ. – Bối cảnh câu chuyện : nạn đói. Tác giả miêu tả khung cảnh “tối sầm lại vì đói khát”với những chi tiết đầy ám ảnh : + Cảnh đoàn người “đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như  những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ. Người chết như  ngả rạ”. + Không khí đầy mùi tử khí : “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người” + Con người như đang sống dưới âm phủ, đối diện với tử thần : “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma. Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết”. – Con người bị lâm vào tình cảnh đáng thương : vì đói mà thị (vợ Tràng), trông không còn ra hồn người “quần áo tả tơi như tổ đỉa . . . trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn lại hai con mắt”. Vì đói mà quên cả sĩ diện để xin ăn và cắm đầu ăn một chập bốn bát bánh đúc”. Vì đói,  thị theo không Tràng về làm vợ. – Bữa cơm ngày đói thảm hại : “giữa cái mẹt rách có một lùm rau chuối thái rối  và một đĩa muối ăn với cháo”. Niêu cháo “lõng bõng” toàn nước và món chính là “chè cám” đắng ngắt, nghẹn  bứ trong cổ. 2. Nhà văn phát hiện và trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo trong cảnh ngộ đói khổ :       a. Lòng nhân ái : biết đùm bọc, cưu mang nhau.         – Anh Tràng : cưu mang người đàn bà hoàn toàn xuất phát từ tình thương, không hề gợi lên rẻ rúng, thương hại         – Bà cụ Tứ : thương con, thương nàng dâu với tấm lòng nhân hậu, bao dung (xem đề 1). b. Khát vọng sống,  khát vọng hạnh phúc và mái ấm gia đình :    – Anh Tràng : đón nhận hạnh phúc mới mẻ, bất ngờ với tâm trạng mừng vui (gần 20 lần tác giả miêu tả nụ cười của Tràng), tâm trạng phấn chấn, vừa xấu hổ vừa hãnh diện “trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên. Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng có người đàn ông nghèo khốn khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hộ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng. Phút chốc Tràng “quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa”. Tràng lấy sự sống để đương đầu với cái chết, hạnh phúc thách thức với cái đói đang rình rập.    + Buổi sáng đầu tiên khi thức dậy :  Tràng vui mừng,  cảm động, yêu thương gắn bó và thấy mình có trách nhiệm với gia đình : “Bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình . . . cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng. Một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người . . .”         – Bà cụ Tứ : vui mừng thu xếp cuộc sống mới, tạo không khí đầm ấm hoà hợp cho gia đình, động viên an ủi con cái, hy vọng vào tương lai (xem đề 1).         – Vợ Tràng : bộc lộ khát vọng sống vô cùng cấp thiết. Khi  về làm vợ Tràng,  dẫu ban đầu có thất vọng về gia cảnh nhưng vẫn cố gắng làm vợ đảm, dâu hiền,  vun vén cho gia đình đã cưu mang chị. c. Tin tưởng vào tương lai,  dự cảm về cuộc đổi đời gắn liền với Cách mạng :         – Tác phẩm mở đầu bằng buổi chiều ảm đạm chết chóc đang đi dần vào đêm tối mênh mông và kết thúc bằng một buổi sáng nắng loá, tươi tắn với những đổi thay tốt đẹp từ trong gia đình Tràng:  gợi cảm hứng lạc quan.         – Con người không mất hy vọng, dự cảm về tương lai tốt đẹp, một sự đổi  đời thật sự khi nghĩ về “cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi phá kho thóc Nhật” và “lá cờ đỏ bay phất phới”. Họ nhất định sẽ giành sự sống thật sự cho mình khi có Cách mạng.         III. KẾT LUẬN – Khẳng định tấm lòng nhân đạo của Kim Lân dành cho người nông dân. – Khẳng định giá trị nhân đạo bền vững của truyện ngắn Vợ nhặt.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 12 Chi Tiết: Tiếng Hát Con Tàu trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!