Xu Hướng 3/2024 # Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

NS: 28/9/08 Tác giả: NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU NG: 29/9/08 Mục tiêu cần đạt: Giúp hoc sinh. Nắm đươc thân thế sự nghiệp và giá trị nội dung nghệ thuật của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu ( NĐC ). NĐC là một tấm gương sáng ngời về nghị lực, đạo đức, đặc biệt là thái độ suốt đời gắn bó và chiến đấu không mệt mỏi cho lẽ phải cho quyền lợi của nhân dân, đất nước. Về văn chương: sáng tác của NĐC là bông hoa nghệ thuật tiêu biểu cho dòng văn chương đạo đức chữ tình, là lá cờ đầu của văn chương chống thực dân pháp B. Chuẩn bị. Thầy: soạn giáo án Trò: soạn bài Tiến trình tổ chức các hoạt động Hoạt động 1: kiểm tra bài cũ Đọc thuộc lòng văn bản “Lẽ ghét thương”( Trích Lục Vân Tiên ) và cho biết ông Quán thương ai, vì sao mà ông thương, cơ sở tình thương là gì? Hoạt đông 2: Giáo trìng bài mới. Hoạt động 3: Bài mới. Hoạt động của thầy. HĐ của trò Nội dung cần đạt Em hãy nêu những nét cơ bản về hoàn cảnh xuất thân của NĐC Cuộc đời NĐC có thể chia mấy giai đoạn trình bầy những nét chính của từng giai đoạn Giáo viên: khi ông đỗ tú tài có gia đình đã hứa gả con gái cho, xong sau đó thấy ông bị mù nên gia đình đó bội ước. Một học trò “Lê Tăng Quỳnh” cảm nghĩa thấy gả em gái là Lê Thi Điền cho. Đó là một người vợ đẹp cả người lẫn nết. + Từ cuộc đời của NĐC em thấy ông tóa lên những phong cách đáng quý nào? – Ý chí nghị lực sống – Giàu lòng yêu nước thương dân – Tư tưởng bất khuất trước kẻ thù + Kể tên những tác phẩm chính của NĐC + Nội dung thơ văn NĐC chia thành mấy giai đoạn – Trước khi thưc dân pháp xâm lược – Sau khi thực dân pháp xâm lược + Qua tác phẩm truyện “LVT” tác giả muốn đề cập đến vấn dề gì? Lấy ví dụ minh họa. “Khoan khoan ngồi đó chớ ra nàng là phận gái ta là phận trai” -“Gặp đây đương lúc giữa đàng, Của tiền chẳng có, bạc vàng cũng không Gẩm cầu báo đức thủ công, Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi Vân Tiên nghe nói liền cười Làm ơn há dễ cho người chả ơn” – “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” + Qua những câu thơ trên, NĐC muốn nói gì – Tưởng đạo đức của NĐC mang đậm lễ giáo nhà nho: Nam nữ thụ thụ bất thân – Tư tưởng hiệp nghĩa: sẵ sàng xả thân cứu người vì nghĩa hiệp ( chữ không cần báo ơn) Em có nhận xét gì về nhân vật trong chuyện LVT? Nhân vật chia thành 2 tuyến rõ rệt: – Nhân vật phản diện: Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, gia đình võ thể công … – Nhân vật chính diện: LVT, Tử Trực, hớn minh, ông quán,ông ngư, ông tiều, lão bà dệt vải là những con người không màng danh lợi không tham phú quý “xin tròn nhân nghĩa còn hơn bạc vàmg” + Đoạn trích “lẽ ghét thương, NĐC muốn liên tưởng điều gì? – So sánh tư tưởng nhân nghĩa trong thời kì phong kiến với tư tưởng nhân xã trong giai đoạn của NĐC có gì khác biệt. + Tư tương nhân nghĩa thòi kì phong kiến là trung quân nhưng tương nhân nghĩa của NĐC là xuất phát từ dân, quyền lợi của nhân dân khi thực dân pháp xâm lược, thơ văn của NĐC có sự thay đổi như thế nào? VD1: Bài thơ chạy giặc “NĐC” muốn thể hiện điều gì? VD2: Tắc đát sau ơn chúa tác bối cho nước ta; Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi cha ông nó “Văn tế xẽ sĩ cần giuộc”. VD3: “Viên đạn nghịch thần treo trước mắt lưỡi gươm địch khái nằm trong tay” “Thơ điếu Phan Tòng” VD4: “Văn tế xã sĩ cần giuộc” “ văn tế xã sĩ trận vong lục tỉnh” VD5: “Chừng nào thánh đế ân soi thấu một trân mua nhuần rưa núi rừng” (xúc cảnh) VD6: “Sự đời thà khuất đôi trong thịt lòng đạo xin tròn một tâm gương” (ngư tiều y thuật vấn đáp) > trái lại từ những ví dụ trên em hãy khái quát lại nhân dân yêu nước trong thơ văn NĐC + Em hãy cho biết những giá trị nghệ thuật trong thơ văn NĐC. – Giáo viên: Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói “thơ văn của ông như những vì sao có ánh sáng khác thường mắt chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng” > Vẻ đep thơ văn NĐC là tiềm ẩn + Em hãy khái quát lại cuộc đời và sự nghiệp văn chương của NĐC. HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HS nhớ lại đoan trích “LVT cứu KNN” HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL HSTL Đọc ghi nhớ Cuộc đời. * Hoàn cảnh xuất thân – NĐC ( 1822-1888 ) tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai ( Căn nhà tối ) – Quê: Làng Tân Thời, huyện Bình Dương tỉnh Gia Định – Cha: Nguyễn Đình Huy làm thư lại tại dinh tổng trấn Lê Văn Duyệt ở Gia Định – Mẹ: Trương Thị Thiết: vợ hai * Cuộc đời. Chia làm hai giai đoạn. Trước khi pháp xâm lược 1843 ông đỗ tú tài + 1846 ông ra Huế học chuẩn bị thi tiếp thì nhận được tin mẹ mất phải bỏ thi về Nam chịu tang ( 1949 ). Dọc đường về NĐC bị đau mắt nặng rồi bị mù cả hai mắt. + ông về quê dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân. – Sau khi thực dân pháp xâm lược (1858) – 1859 NĐCcùng các vị lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sánh tác những vần thơ cháy bỏng căm hơn sôi sục ý chí chiến đấu. – Nam Kì mất ông ở lại Ba Tri (Bến Tre) thực dân pháp tìm mọi cách dụ dỗ mua chuộc nhưng ông khẳng khái khước từ tất cả giữ trọn tấm lòng thủy chung son sắc với nước với dân đến hơi thở cuối cùng. II. Sự nghiệp văn chương. 1.Những tác phẩm chính. ( SGK/T57 ) 2.Nội dung thơ văn a,Trước khi thực dân pháp xâm lược. Truyện “LVT” nêu cao lý tưởng đạo đức nhân nghĩa, là những bài học đạo lý làm người. – Đặc biệt ông đề cao chữ nghĩa: Biểu dương những lý tưởng đạo đức tốt đẹp giữa con người với con người quan tâm sâu sác đến quyên lợi và nguyện vọng của nhân dân. b. Sau khi thực dân pháp xâm lược Thơ văn yêu nước chống thực dân pháp + NĐC khóc than cho tổ quốc gặp buổi thương đau + là tiếng nói căm phẫn quất thẳng vào mặt kẻ thù. + Ô hết lời ca ngợi các vị lãnh tụ khởi nghĩa vì nước vì dân + Xây dựng bức tượng đai sừng sững về người xã sĩ người dân, xả thân vì nước. + Giữ niềm tin vào ngày mai tươi sáng của đất nước + Giữ thái độ bất hợp tác với thực dân pháp, với tư tưởng bất khuất. – Thơ văn yêu nước của NĐC có tác dụng cổ vũ cuộc chiến đấu chống pháp của nhân dân ta – NĐC xứng đáng là lá cờ đầu của văn học yêu nước, chống thực dân pháp, sử dụng ngòi bút làm vũ khí sắc bén để chiến đấu chống lại kẻ thù. 3. Nghệ thuật thơ văn NĐC – Văn chương NĐC không cầu kì mà chân thật giản dị. – Hình tương nhân vật mang đậm sắc thai mìên Nam. – Phong cách nổi bật: Chất chữ tình đạo đức kết hợp với chữ tình yêu nước và hình thức nóng hổi III. Tổng kết. Ghi nhớ SGK/59 IV. Luyện tập. Cảm nhân của em về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của NĐC. Hoạt động 4: Hướng dẫn học bài Nắm được những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của NĐC Soạn văn tế nghĩa sĩ cần giuộc

Giới Thiệu Về Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Ngữ Văn 11

Giới thiệu về tác giả Nguyễn Đình Chiểu ngữ văn 11 Doi net ve Nguyen Dinh Chieu – Nguyễn Đinh Chiểu, người đã “căng số phận mình trên sợi dây đàn độc nhất”

Trong số các nhà thơ Việt Nam, Nguyên Đình Chiểu là người chịu nhiều đau khổ, bất hạnh nhất. Ông có tình cảm sâu nặng với mẹ, bà Trương Thi Thiệt, người Gia Định. Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi nghĩa chống lại triều đình. Thân sinh, ông Nguyền Đình Huy, đang làm thơ lại trong thành Gia Định, bỏ chạy về kinh đô Huế, đem Nguyễn Đình Chiểu theo. Nhà thơ tương lai phải mất 8 năm biền biệt xa mẹ, đến năm 1840 mới trở về Gia Định.

Năm sau, ông đỗ Tú tài và đến năm 1846 lại lặn lội ra kinh đô chờ thi Hương. Với một chàng trai mới lớn, biết mình có tài, hy vọng ở đường hoạn lộ thật thênh thang. Lúc thanh bình, thời phong kiến, đấy là con đường duy nhất để đấng nam nhi tiến thân, cống hiến cho đời. Nhưng oái ăm thay! Đúng năm thi Hương (1849), Nguyễn Đình Chiểu nghe tin mẹ mất từ cuối năm trước. Người con trai vốn dạt dào tình thương mẹ tức tốc về Nam, bỏ cả việc thi cử. Đường về xa xôi, cám cảnh mẹ mất, khóc thương đến độ mù lòa. Vậy, chưa đầy hai năm, chàng trai trẻ liên tiếp chịu nhiều bất hạnh lớn. Chưa hết! Năm đỗ Tú tài, có nhà giàu họ Võ hứa gã con với tham vọng chàng rể sớm muộn gì cũng chiếm bảng vàng, nay lỡ làng mọi thứ, lại còn mang thương tật suốt đời, bèn quay quắt từ hôn. Mất mẹ, mù lòa, nhà thơ mất chỗ dựa tinh thần bền vững nhất. Bỏ thi, mất luôn cơ hội đua tranh trên đường hoạn lộ. Những mất mát ấy chẳng có gì bù đắp được, lại lấp đầy bằng nỗi đắng cay của thói đời đen bạc. Chừng đó nỗi đau đủ khiến cho một người có tâm hồn thi sĩ vụt trở thành thi nhân. Song, điều kì lạ là ở tác phẩm đầu tay viết trong “căn nhà tối” (tên hiệu Nguyễn Đình Chiểu là Hối Trai, nghĩa là căn nhà tối) – truyện thơ dài Truyện Lục Vân Tiên, người đời không tìm thấy nỗi chán chường, cay tức. Trái lại, rất ngọt ngào tình nghĩa mến thương, đùm bọc, thủy chung trọn vẹn như lời hẹn hò trong ca dao:

Tay bưng đĩa muối chấm gừng

Gừng cay muối mặn ta đừng quên nhau!

Năm 1858, giặc Pháp đánh Đà Nẵng. Sang năm 1859, chúng hạ thành Gia Định khởi đầu cho thời kì hoạn nạn, đau khổ triền miên của cả dân tộc. Đồ Chiểu không trông thấy nhưng sống trong cảnh ấy. Nhà thơ cùng gia đình dắt díu nhau chạy giặc hết nơi này đến nơi khác. Không trông thấy gì nhưng lòng nhà thổn thức, đau xót và uất ức nữa. Trước kia, ông sống với anh em, cha mẹ, bè bạn trọn nghĩa, vẹn tình bao nhiêu thì nay, với đất nước, non sông, xóm giềng, làng mạc thêm dạt dào bấy nhiêu. Những nỗi đau riêng đã hòa đẫm vào một nỗi đau chung: mất nước! Tiếng thơ Đồ Chiểu trở thành tiếng khóc, lời than, niềm réo gọi của nhân dân trước cảnh nước mất nhà tan. Ông đã trở thành nhà thơ nhân dân bằng chính tấm lòng và thân phận mình. Trước nỗi mất mát hy sinh của nhân dân, thơ Đồ Chiểu là tiếng khóc của non sông, là nỗi đau của cả dân tộc:

…Đoái sông Cần Giuộc cỏ cây mấy dậm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình già trẻ hai hàng lụy nhỏ…

Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuy leo lét trong lều não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Thơ ca Việt Nam, cho đến trước Đồ Chiểu, chưa bao giờ có một hình tượng nhân dân trọn vẹn như thế! Từ sau năm 1858, trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, nếu có một “số phận” thì đó là “nhân dân”. Nhân dân cả tâm hồn, cốt cách, trí tuệ, hành động. Nhân dân cả niềm vui và nỗi buồn, đau thương và căm giận, đứng lên và ngã xuống, thất vọng và hy vọng…Với những nhà thơ Việt Nam ngày trước, một con người bình thường được đưa vào thơ văn là cả một sự dũng cảm, dám làm khác thời đại. Đồ Chiểu không có sự băn khoăn ấy. Những nông dân bước vào thơ Nguyễn Đình Chiểu nguyên vẹn hình hài lấm láp nhưng hết sức tự nhiên. Sau này, Thanh Thảo viết: Họ lấm láp sình lầy bước vào thơ Đồ Chiểu… không áo mão cân đai phẩm hàm văn võ nhưng đã để lại những vệt bùn làm vinh dự cho thơ. Ngày ấy, nhà thơ mù không nghĩ như thế. Ông chỉ yêu thương, gắn bó thân phận mình với những người “ngoài cật có một manh áo vải”, song đã dám “đâm ngang, chém ngược” kẻ thù cướp nước. Vì vậy, chỗ đứng cao sang nhất trong thơ ca là của họ. Điều đó giải thích vi sao nhà thơ mù, đất nước ly tán, mọi người cùng chạy giặc trong cảnh hỗn loạn, nhưng thơ văn của ông được lưu truyền sâu rộng trong lòng nhân dân!

Nhiều nhà thơ Việt Nam, mỗi khi đọc lại, chúng ta thích thú, cảm phục với những tư tưởng thanh cao, từ ngữ lộng lẫy, sang trọng. Còn Đồ Chiểu, mỗi lần đọc lại vẫn không dứt một tình cảm yêu thương:

Khóc là khóc nước nhà còn bấn loạn, hôm mai vắng chúa, thua buồn nhiều nỗi khúc nỗi: than là than bờ than cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phương tớ dại…

Ôi trời Bến Nghé, mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp bước gian truân: đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cám niềm thần tử hết lòng chung ái.

(Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Man mác trăm chiều tâm sự, sống những lo trả nợ cho đời phôi pha một mảnh hình hài, thác rồi bồ làm phân cho đất!

(Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)

Tiếng thơ ấy đã bật ra từ trái tim của một người sống cùng nhân dân, dám căng số phận mình trên sợi dây đàn dân tộc nhất để hát về nhăng ngọn sóng bình minh (Thanh Thảo – Những nghĩa sĩ Cần Giuộc). Những nghĩa sĩ dám đưa tấm thân mình cho lẽ sống cồn của đất nước, thì với nhà thơ mù Đồ Chiểu, người nghệ sĩ-nhân dân, cây đàn thơ chẳng vì lí do gì mà không hát khúc ca về thân phận dân tộc của mình!

Theo chúng tôi

Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 17: (Đọc Thêm) Chạy Giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây

Một bàn cờ thế phút sa tay

+ Thời điểm: tan chợ

+ Âm thanh: súng Tây

– Đất nước: bàn cơ thế/phút/sa tay

 giặc đến phá tan cuộc sống yên bình của nhân dân. Đất nước rơi vào tình trạng nguy ngập.

Tiết 17 Ngày soạn: 15/9/2014. CHẠY GIẶC ( Nguyễn Đình Chiểu ), I. Mục tiêu cần đạt Giúp HS: - Cảm nhận được tình cảnh "tan đàn xẻ nghé"; những mất mát của nhân dân khi giặc đến và tình cảm, thái độ của tác giả. - Hiểu được nghệ thuật tả thực kết hợp khái quát qua việc sử dụng hình ảnh, ngôn từ. Trọng tâm - Kiến thức + Đất nước rơi vào tay giặc, cảnh "xẻ nghé tan đàn", thái độ của tác giả + Lựa chọn từ ngữ, kết hợp tả thực, tạo hình ảnh. - Kĩ năng: đọc hiểu bài thơ theo thể loại. II. Chuẩn bị của thầy và trò - Thầy: - Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 - tập 1. - Sách giáo viên Ngữ Văn 11 - tập 1. - Sách thiết kế. - Trò: - Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 - tập 1. - Bài soạn chuẩn bị ở nhà III. Tiến trình lên lớp 1. Ổn định lớp 2. Kiểm tra bài cũ: Không có 3. Bài mới: : Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là nhà giáo, thầy thuốc; ông còn là người khởi xướng chống giặc bằng văn thơ. Từ đây ông được mệnh danh là "thư sinh giết giặc bằng ngòi bút". Và 'Chạy giặc' là bài thơ mở đầu cho sự nghiệp này. Cụ thể bài thơ thế nào chúng ta cùng tìm hiểu. HOẠT ĐỘNG CỦA GV & HS NỘI DUNG BÀI HỌC - GV: yêu cầu hs đọc tiểu dẫn sgk - HS đọc và trả lời câu hỏi + GV hỏi: Nội dung hai câu đề, phân tích một số từ ngữ trong hai câu để thấy được cục diện của đất nước? + GV : Cảnh chạy giặc của nhân dân ta được miêu tả như thế nào qua hai câu thực? Phân tích một số từ ngữ, hình ảnh trong hai câu để thấy rõ điều đó? + GV hỏi: Tội ác của thực dân Pháp còn được miêu tả như thế nào trong hai câu luận? + GV hỏi: Tâm trạng của nhà thơ trong hai câu kết? + GV :Nêu một vài nét về nội dung và nghệ thuật bài thơ. B. BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN v Hoạt động 4: Tìm hiểu về tác giả Chu Mạnh Trinh, xuất xứ và thể loại bài thơ + GV : Gọi HS đọc Tiểu dẫn giới thiệu về tác giả Chu Mạnh Trinh, yêu cầu HS gạch SGK những nét chính về tác giả. + GV nêu xuất xứ, thể loại của bài thơ. v Hoạt động 5: Yêu cầu HS đọc bài thơ và chia đoạn, nêu nội dung từng đoạn. v Hoạt động 6: Tìm hiểu nội dung bài thơ. + GV : Cảnh Hương Sơn được tác giả giới thiệu như thế nào? + GV: Không khí thần tiên của Hương Sơn được tác giả thể hiện như thế nào? + HS: Phát hiện, trả lời + GV : Bổ sung, giảng. + GV : Vẻ đẹp của phong cảnh Hương Sơn được tác giả miêu tả như thế nào? Qua biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó? + GV : Qua bài thơ tác giả thể hiện tâm sự gì? I. Tìm hiểu chung 1. Hoàn cảnh sáng tác Có thể được viết ngay sau khi thành Gia Định bị giặc Pháp bắt đầu tấn công năm 1859 2. Bố cục - 6 câu đầu: giặc đến, cảnh chạy giặc, hậu quả - 2 câu cuối: tâm trạng, thái độ của tác giả II. Đọc hiểu văn bản 1. Sáu câu đầu: a. Hai cầu đề Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay - giặc đến: + Thời điểm: tan chợ + Âm thanh: súng Tây - Đất nước: bàn cơ thế/phút/sa tay à giặc đến phá tan cuộc sống yên bình của nhân dân. Đất nước rơi vào tình trạng nguy ngập. b.Hai câu thực - " Bỏ nhà", "lơ xơ chạy", "mất ổ", "dáo dát bay"" sự tan nát, tán loạn, hãi hùng - " Lũ trẻ", "đàn chim"" hai hình ảnh điển hình cho nỗi đau thương của nhân dân - Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh: bỏ nhà, mất ổ " tạo nỗi ám ảnh bi thương về cảnh chạy giặc của dân lành. ² Cảnh chạy giặc trong nỗi kinh hoàng của nhân dân. c.Hai câu luận à Địa danh nổi tiếng, cảnh bị hủy diệt Đẹp, bình yên đen tối, tan hoang à Cảnh quê hương trước và sau khi giặc đến đối lập kinh hoàng: sự tận diệt, tận hủy của quân thù. à Sáu câu thơ với hình ảnh chân thực, tiêu biểu đã vẽ lại toàn cảnh quê hương khi giặc đến. Một cuộc sống an bình ko còn. Thế vào đó là sự kinh hoàng, đau thương, tan hoang 2. Hai câu thơ cuối: Tâm trạng của tác giả - Bộc lộ qua câu hỏi tu từ Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng Lỡ để dân đen mắc nạn này à Tấm lòng yêu nước sâu sắc của Đồ Chiểu III. TỔNG KẾT -ND: Cảnh quê hương chân thực khi giặc đến tàn sát - NT: + từ ngữ giản dị, tiêu biểu, giàu sức gợi hình, biểu cảm + Nghệ thuật câu, từ tiêu biểu cho thơ Nôm Đường luật B. BÀI CA PHONG CẢNH HƯƠNG SƠN . Giới thiệu: 1. Tác giả: SGK. 2. Xuất xứ: Là một trong ba bài thơ viết về Hương Sơn, sáng tác khi ông đứng coi trùng tu, tôn tạo Hương Sơn. 3.Thể loại: Hát nói 4. Bố cục: 3 đoạn: - 4 câu đầu: Giới thiệu Hương Sơn - 10 câu giữa: Tả cảnh Hương Sơn + 4 câu trên: không khí thần tiên, cái thần của Hương Sơn + 6 câu dưới: vẻ đẹp của phong cảnh Hương Sơn - 5 câu cuối: Suy niệm của tác giả trước cảnh đẹp Hương Sơn. II. Đọc hiểu văn bản: Giới thiệu Hương Sơn: - Cảnh thần tiên, thoát tục "Bầu trời cảnh bụt" - Nghệ thuật: điệp từ + câu hỏi tu từ, Hương Sơn được giới thiệu từ nhiều gốc độ, rất hấp dẫn, thú vị, rất đẹp. " Niềm ao ước, khát khao của tác giả, niềm thích thú, vui mừng khi đặt chân đến Hương Sơn. Cảnh đẹp Hương Sơn: a. Không khí thần tiên, cái thần của Hương Sơn: - Nghệ thuật: miêu tả + nhân hoá " cảnh tĩnh lặng, nghiêm trang, cảnh vật, không gian, con người say sưa ngây ngất trong khí đạo mùi thiền. - Cảnh đẹp khiến con người thánh thiện, thanh cao. b. Vẻ đẹp phong cảnh: Nghệ thuật: liệt kê khắc hoạ vẻ đẹp hùng vĩ của một quần thể: suối, chùa, hang động đậm màu sắc đường nét " tạo ấn tượng trập trùng, cao, thấp, nhiều tầng của quần thể. ² Vẻ đẹp tuyệt vời, siêu thoát, gợi khao khát cho những ai chưa được chiêm ngưỡng. Suy niệm của tác giả: Với câu hỏi tu từ, khẳng định và trả lời ẩn, đó là lòng yêu nước kín đáo, mặc dù câu chữ còn mang nặng màu sắc tôn giáo. III. Chủ đề: Với những từ ngữ chọn lọc, tinh tế, nghệ thuật tả cảnh điêu luyện, tác giả làm nổi rõ cảnh thần tiên của Hương Sơn, vẻ đẹp gợi khao khát cho mỗi con người muốn đến Hương Sơn. Qua đó gửi gắm tâm sự yêu nước kín đáo của mình. V. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI - BÀI MỚI: 1. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI: - Cảnh chạy giặc và tâm trạng NĐC trong bài " Chạy giăc" - Cảnh Hương Sơn và tâm sự của Chu Mạnh Trinh. 2. BÀI MỚI: - Soạn bài " Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc". + Giới thiệu về cuộc đời nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. + Nêu nội dung thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. + Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác bài " Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc". + Chia bố cục bài văn tế và nội dung mỗi phần. + Hình tượng người nghĩa sĩ nông dân trong trận công đồn.

Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu

Tác giả: Nguyễn Đình Chiểu

1. Cuộc đời

– Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai

– Quê: làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định

– Ông xuất thân trong gia đình nho học, năm 1843 thi đỗ tú tài ở trường thi Gia Định.

– Trên đường ra Huế học chuẩn bị thi tiếp (năm 1846) ông nhận được tin mẹ mất, phải bỏ thi về quê chịu tang, dọc đường ông bị đau mắt nặng rồi bị mù

– Không chịu khuất phục trước số phận, về quê ông mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân, tiếng thơ ông Đồ Chiểu vang khắp lục tỉnh

– Khi Pháp xâm lược ông hăng hái giúp các nghĩa quân bàn mưu tính kế, bị giặc dụ dỗ mua chuộc ông khẳng khái khước từ

⇒ Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương sáng ngời về nghi lực và đạo đức đặc biệt là thái độ một đời gắn bó chiến đấu không mệt mỏi vì lẽ phải, vì lợi ích của nước của dân

2. Sự nghiệp sáng tác

– Các tác phẩm chính: chủ yếu bằng chữ Nôm

+ truyện thơ dài: truyện Lục Vân Tiên, Dương Tử- Hà Mậu được sáng tác trước khi thực dân Pháp xâm lược

+ một số tác phẩm mang nội dung tư tưởng tình cảm, nghệ thuật: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Ngư tiều y thuật vấn đáp,… sáng tác sau khi Pháp xâm lược

– Nội dung thơ văn

+ Mang nặng lí tưởng đạo đức nhân nghĩa:

* Đạo lí làm người của ông mang tinh thần nhân nghĩa của đạo Nho nhưng lại đậm đà tính nhân dân và truyền thống dân tộc

* Những mẫu người lí tưởng trong sáng tác của ông là những con người nhân hậu, ngay thẳng, thủy chung, dám đấu tranh với các thế lực tàn bạo, cứu độ nhân thế

+ Lòng yêu nước thương dân:

* Thơ văn chống Pháp của ông ghi lại chân thực một thời đại đau thương của đất nước, tố cáo tội ác kẻ thù: Chạy giặc, Văn tế nghĩa sĩ trong trận vong Lục tỉnh,…

* Khích lệ lòng căm thù giặc và ý chí cứu nước của nhân dân ta

* Biểu dương các anh hùng, nghĩa sĩ đã chiến đấu vì đất nước: Văn tế Trương Định, Kì Nhân Sư trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp

– Nghệ thuật thơ văn

+ Bút pháp trữ tình nồng đậm hơi thở cuộc sống

+ Đậm đà sắc thái Nam Bộ

+ Lối thơ thiên về kể mang màu sắc diễn xướng

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

tac-gia-tac-pham-lop-11.jsp

Soạn Bài Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu Trang 56 Sgk Văn 11

Soạn bài tác giả Nguyễn Đình Chiểu trang 56 SGK Văn 11

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương giàu nghị lực, giàu lòng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường trước kẻ thù xâm lược.

GỢI Ý LÀM BÀI 1. Những nét chính về cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu:

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), người làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Ong xuất thân trong một gia đinh nhà nho, cha người gốc Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ tú tài tại trường thi Gia Định. Năm 1846, ông ra Huế học, chuẩn bị thi tiê’p thì nhận được tin mẹ mất, ông phải bỏ thi về chịu tang mẹ. Dọc đường về, Nguyễn Đình Chiểu đau mắt nặng rồi bị mù. Về quê, không khuất phục trước số phận oan nghiệt, nhà thơ mở trường dạy học, bốc thuốc chữa bệnh cho dân rồi cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn mưu tính kế đánh giặc và sáng tác những vần thơ đánh giặc cháy bỏng căm hờn, sôi sục ý chí chiến đấu.

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương giàu nghị lực, giàu lòng yêu nước và tinh thần bất khuất kiên cường trước kẻ thù xâm lược. Dù bị tàn tật, ông vẫn là một thầy giáo tận tâm, là một thầy thuốc giàu y đức và là một nhà thơ xuất sắc. Ớ cương vị nào ông cũng làm việc và cống hiến hết mình.

2. Câu 2 trang 59 SGK Văn 11

a) Nguvễn Đình Chiếu là mộl nhà nho, bởi thế mà tư tưứng đạo đức, nhân nghĩa của ông mang tinh thần của Nho giáo. Mặc dù vậy, Nguyễn Đình Chiểu còn là một trí thức nhân dân, suốt đời sống nơi thôn xóm, giữa những người “dân ấp, dân lân” tâm hồn thuần hậu, chất phác nên tư tướng đạo đức của ông có những nét mang phong cách rất dân dã của những người nông dân thuần phác. Nguyễn Đình Chiểu thấm nhuần tư tướng nhân nghĩa là tình thương yêu con người, sẵn sàng cưu mang con người trong cơn hoạn nạn; nghĩa là những quan hệ tốt đẹp giữa con ngưừi với con người trong xã hội, tình cha con, nghĩa chồng vợ, tình bạn bè, xóm giềng, tinh thần hiệp nghĩa sẵn sàng cứu khốn phò nguy,…

Những nhân vật lí tưởng trong Truyện Lục Vân Tiên hầu hết là đều là những người dân thường, sinh trướng trong những nưi thôn ấp nghèo khó (những nho sinh như Vân Tiền, Tử Trực, Hớn Minh; những ông Ngư, ông Quán, ông Tiều, bà lão dệt vải,…). Tâm hồn của họ ngay thắng, không màng danh lợi, không tham phú quý, sẵn sàng ra tay cứu giúp người hoạn nạn. Trước Nguyễn Đinh Chiểu, nhân nghĩa vẫn được xcm là phạm trù đạo đức lí tưởng, chỉ có ớ bậc thánh nhân, những người quân tử thuộc tầng lớp trên. Đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa cũng đã hướng đến người dân. Ông kêu gọi nhà cầm quyền nhân nghĩa với dân, thời chiến thì lấy nhân nghĩa để thắng quân bạo ngược, thời bình thì đưa nhân nghĩa vào chính sự, khoan sức cho dân. Tuy nhiên, phải đến Nguyền Đình Chiểu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mớ rộng đến nhàn dân. Điều đó giải thích tại sao nhân dân, đặc biệt là cư dân vùng dất mứi Nam Kì, vốn rất xcm trọng mối liên hệ gắn kết giữa con người với con người trên cơ sở chữ nghĩa Irưyền thống, tiếp nhận tác phẩm của Nguyễn Đình Chiếu nồng nhiệt đến thế.

b) Nguyễn Đình Chiểu sáng tác thơ văn yêu nước ở thời kì đầu chống Pháp xâm lược đé bảo vệ Tổ quốc. Đây là thời kì khổ nhục nhưng vĩ dại (Phạm Văn Đồng) của dân tộc. Đất nước mất dần vào tay giặc trước mắt nhà thơ. Các phong trào chống Pháp cũng lần lượt thất bại, người yêu nước thế hệ này nối tiếp thế hệ khác đã ngã xuống chiến trường. Nhưng “Súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ”. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu đã làm sáng tỏ chân lí đó. Ông khóc than cho Tổ quốc buổi đầu gặp thương đau:

Khốc là khóc nước nhà cơn bẩn loạn, hỏm mai vắng chúa; thua buồn nhiều nỗi khúc nhôi; Than là than bờ cõi lúc qua phân, ngày tháng trông vua, ngơ ngẩn một phường trẻ dại. (Văn tê Trương Định)

Ông cãm uất chửi mắng vào mặt kẻ thù:

Tấc dất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta; Bát cơm manh áo ở dời, mắc mớ chi ông cha nó. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)

Ông hết lòng ngợi ca những sĩ phu như Trương Định đã một lòng vì nước, vì dân:

Bởi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu, đón ngăn mấy dặm mã tiền; Theo bụng dân phái chịu tướng quân thù, gánh vác một vai khổ ngoại. (Văn tế Trương Định)

Ông dựng bức tượng đài bất tử về những người dân ấp, dân lân: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh” (Văn tế nghĩa sĩ cán Giuộc). Ngay cả lúc bờ cõi đã “chia đất khác”, Nguyễn Đình Chiểu vẫn nuôi giữ một niềm tin vào ngày mai: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” (Xúc cảnh), vẫn kiên trì một thái độ bất khuất trước kẻ thù: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” {Ngư Tiều y thuật vấn dáp). Với những nội dung trên, có thể nói thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu đã đáp ứng xuất sắc những yêu cầu của cuộc sống và chiến đấu đương thời. Nó có tác dụng động viên, khích lê không nhỏ tinh thần và ý chí cứu nước của nhân dân ta.

c) Sắc thái Nam Bộ độc đáo trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu thể hiện rõ ở từng nhân vật trong tác phẩm của ông. Mỗi người dân Nam Bộ có thể bắt gặp mình ỡ các nhân vật của ông từ lời ăn tiếng nói, ở sự mộc mạc, chất phác đến tấm lòng nặng tình, nặng nghĩa, yêu thương rất mực và căm ghét đến điều. Họ sống vô tư, phóng khoáng, ít bị ràng buộc bởi những phép tắc, lễ nghi và sẵn sàng xả thân vì nghĩa. Họ nóng nảy, bộc trực nhưng lại rất đằm thắm, ân tình. Đó là những nét rất riêng trong vẻ đẹp chung của con người Việt Nam.

3. Câu 3 trang 59 SGK Văn 11

Như đã nói ở trên, Nguyễn Đình Chiểu và Nguyễn Trãi có những điểu gần gũi về tư tướng nhân nghĩa. Nguyễn Trãi cũng lấy cái nén tảng của sự nhân nghĩa là quyển lợi của nhân dân nhưng đến Nguyễn Đình Chiéu thì phạm trù nhân nghĩa mới thực sự mở rộng đến nhân dân, gần gũi thực sự với nhân dân. Đó thực sự là một bước tiến dài của tư tưởng.

Giáo Án Ngữ Văn 11Cb Tiết 19: Bài Đọc Thêm Chạy Giặc Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu

– Hướng dẫn HS nắm được những nét chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

– Qua bài Chạy giặc : thấy được tình cảm của tác giả dành cho nhân dân Nam kì lục tỉnh qua ngôn ngữ thơ giản dị, mang sắc thái Nam bộ

-GV : sgk- sgv , Bình giảng bài thơ

-HS : Đọc bài & soạn bài .

Tuần: 5 Tiết : 19 Nguyeãn Ñình Chieåu I - MỤC TIÊU: - Hướng dẫn HS nắm được những nét chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm - Qua bài Chạy giặc : thấy được tình cảm của tác giả dành cho nhân dân Nam kì lục tỉnh qua ngôn ngữ thơ giản dị, mang sắc thái Nam bộ II- CHUẨN BỊ -GV : sgk- sgv , Bình giảng bài thơ -HS : Đọc bài & soạn bài . III - TIẾN TRÌNH BÀI DẠY: Ổn định lớp: Kiểm tra: Hãy cho biết trong đoạn trích "Lẽ ghét thương" ông Qúan ghét ai? Vì ai mà ghét ? Bài mới: Nói đến thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu chúng ta không thể bỏ qua bài "Chạy giặc". Bài thơ viết về tình cảnh lịch sử của Nam bộ thời kì 1859 Hoạt động của GV Hoạt động của HS Yêu cầu cần đạt HĐ1: Tìm hiểu về bài thơ *GV: Cho học sinh đọc tiểu dẫn rút ý chính. HĐ2: Hướng dẫn đọc hiểu chi tiết *GV: Gọi học sinh đọc bài thơ *GV hỏi hs câu hỏi 1 sgk * Định hướng - Tác giả miêu tả rất chân thực và sinh động. Câu mở đầu là lời trần thuật, tả thực về khung cảnh của đất nước khi giặc Pháp tấn công vào nước ta. Chợ" trong quan niệm của người Việt là không gian văn hoá mang ý nghĩa cộng đồng nhưng không gian ấy bây giờ bị phá vỡ. Tiếng súng mở màn cho cuộc xâm lăng đột ngột bất ngờ của thực dân Pháp. - Từ nỗi đau mất nước tác giả khắc họa nỗi đau của nhân dân, nỗi đau của những sinh linh ,bé nhỏ "Lơ xơ" gợi lên dáng vẻ hốt hoảng, bơ vơ của những đứa trẻ, những thân phận biểu thị cho nỗi đau trong thời chiến. Ngay cả đến những cánh chim bây giờ cũng không tìm được chốn dung thân, - Bến Nghé, Đồng Nai: vốn là những miền đất thanh bình, bây giờ chỉ còn là hoang tàn đổ nát. * GV hỏi hs câu hỏi 2, 3 sgk Tâm trạng bao trùm bài thơ là nỗi đau Nỗi đau ấy thấm sâu và đậm nét nhất là ở hai câu kết. *GV gọi hs nhận xét tổng kết bài học -HS trả lời: Bài thơ "Chạy giặc" chưa rõ thời điểm sáng tác. Là một trong những tác phẩm đầu tiên của VH yêu nước chống Pháp nửa cuối thế kỷ 19. - HS đọc bài thơ +Bài thơ mở đầu là cảnh tan chợ- nghe tiếng súng tây đất nước ta đã rơi vào thế nguy nan thực đân P đã chiếm Gia Định +"Một bàn cờ thế phút sa tay" Cờ thế là cơ quyết định thắng thua trong một nước đi sai lầm trong nước cờ của triều đình nhà Nguyễn đã dẫn nước ta vào thế nguy nan - Một số hình ảnh thể hiện tình hình hiện tại ở Nam bộ + Bỏ nhà - mất ổ + Lơ xơ chạy - dáo dác bay + Lũ trẻ - đàn chim Hai câu luận cũng tạo nên bởi những hình ảnh sóng đôi, những miền đất, những địa danh được nhắc đến trong hai câu thơ càng làm cho nỗi đau của tác giả mà cũng là nhân dân được đậm nét hơn. - HS tìm ý trả lời +Trang dẹp loạn: là cách nói trang trọng thường để chỉ những đấng anh hùng. + Câu thơ cuối còn là tiếng kêu cứu : Cứu nước , cứu đời. -HS phát biểu nhận xét Bài thơ là nỗi đau nước, đau dân, đau lòng. Trong nỗi đau ấy còn có cả nỗi đau của một tấm lòng trung quân đã cảm thấy sự đỗ vỡ niềm tin, sự hy vọng vào triều đình phong kiến. I. TIỂU DẪN Bài thơ được sáng tác sau khi thành Gia Định bị thực dân Pháp tấn công. II. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 1. Tình cảnh đất nước và nhân dân khi giặc Pháp đến xâm lựơc - Âm thanh " tiếng súng tây"báo hiệu sự tấn công của thực dân Pháp - Hình ảnh tả thực: + Trẻ nhỏ " lơ xơ chạy" Từ láy gợi tả sự thất thần , sợ hãi ,không định hướng . + Bầy chim "dáo dát bay" sự hốt hỏang ,ngơ ngác, mất phương hướng. + Bến Nghé..tan bọt nước + Đồng Nainhuốm màu mây nghệ thuật đối hư hao ,tổn thất lớn về tài sản 2. Tâm trạng, tình cảm ,thái độ của tác giả. -Câu hỏi tu từ "Hỏivắng" xưng hô trang trọng tìm kiếm trông mong anh hùng hào kiệt giúp dân ,giúp nước . - Câu thơ cuối "Nỡnày?" tình cảm đau đớn, xót xa trước cảnh nhân đói khổ , lầm than. 3. Tổng kết Bằng bút pháp tả thực đặc sắc tác giả đã khắc họa tình cảnh thật thảm thương của đất nước .Qua đó tác giả thể hiện niềm hi vọng sẽ có anh hùng ra sức giúp dân,giúp nước . 4. Củng cố - Hình ảnh đất nước và nhân dân khi bị thực dân Pháp xâm lượcđược NĐC cảm nhận ntn? - Tâm trạng và tình cảm của tác giả dược thể hiện ntn? 5. Dặn dò: - Đọc kĩ chú thích, học bài thơ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 11: Đọc Văn Tác Giả: Nguyễn Đình Chiểu trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!