Xu Hướng 1/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 26, 27: Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa # Top 3 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 26, 27: Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 26, 27: Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tiết 26, 27 : Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa A. Mục đích –yêu cầu: 1. Nội dung: … 2.Kĩ năng: . 3.Tư tưởng:. B. Chuẩn bị và phương pháp: – Chuẩn bị: .. -Phương pháp: C. Tiến trình lên lớp. 1. ổn định lớp, kiểm tra sĩ số. 2. Kiểm tra bài cũ: Hãy nêu đặc trưng của thể loại , phân tích truyện cười vừa học? 3.Bài mới. – Vào bài: các em đã học qua các thể loại VHDG, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu sang một thể loại rất có giá trị nữa-được mệnh danh là viên ngọc quý trong kho tàng VHDG là ca dao. Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt -Em hãy nêu những điểm chính về thể loại ca dao? -GV cho hs đọc các bài.Chia các loại nhỏ? -HS dựa vào bài khái quát, suy nghĩ trả lời. -Điểm chung của các bài ca dao này là gì? -Sự mở đầu bằng hai từ thân em cho ta hiểu đây là lời của ai?Đọc lên có cảm giác gì không? -Em biết những bài ca dao nào cũng bắt đầu như thế? -Hình thức lặp lại nhiều lần như thế với tần số khá lớn đã nói lên điều gì? -Hãy phân tích nét riêng của mỗi bài ca dao?Hình ảnh tấm lụa đào nói lên điều gì? -Hs phân tích, dựa vào các hình ảnh. -Theo em bài 2 than về điều gì?So với bài trên ntn?Người con gái có ý thức về vẻ đẹp của mình hay không? vẻ đẹp ấy có khác gì với bài trên? – Lời mời mọc của cô gái tạo cho em suy nghĩ gì? cho ta hiểu một sự thật gì? -HS suy nghĩ trả lời. -Em liên tưởng bài thơ nào trong VHV Có nội dung khá gần gũi ? -HS dựa vào kiến thức đã học so sánh với bài Bánh trôi nước. Tiết 2( hỏi bài cũ tiết 1) -Đọc diễn cảm bài số 3 và nhận xét về cách kết cấu, diễn đạt, nghệ thuật? -Hs trả lời. -Từ ai trong bài này có khác gì với hai bài trên? -Hs xác định, trả lời. -ở đây có biện pháp tu từ gì ?ý nghĩa như thế nào? -Em có nhận xét gì về các hình ảnh ở câu thơ tiếp?Giọng điệu của chàng trai như thế nào? -HS trả lời. -HS đọc, xác định cảm hứng trong bài ca dao này? -Bài ca dao đã dùng những biểu tượng nào để diễn tả nỗi nhớ ấy? -Hs suy nghĩ và liệt kê các hình ảnh. -Hình ảnh chiếc khăn xuất hiện như thế nào và gợi lên điều gì? -Học sinh phân tích. – Biểu tượng ngọn đèn xuất hiện như thế nào? ý nghĩa? -HS phân tích ý nghĩa của hình ảnh ngọn đèn. -Phép hoán dụ đôi mắt để chỉ tâm trạng cô gái ra sao?Có tăng tiến ntn so với trước? -HS suy nghĩ trả lời. -Hai câu cuối có thay đổi gì so với các câu trên, nó nói lên điều gì? -HS suy nghĩ trả lời. -Học sinh nhận xét về bài ca dao. -Học sinh xác định cảm hứng của bài ca dao này. -Em có nhận xét gì về hình ảnh cây cầu nói chung trong ca dao? -HS so sánh, liên hệ, liệt kê. – Hình ảnh chiếc cầu dải yếm có ý nghĩa như thế nào? -Học sinh phân tích hình ảnh. -Em có nhận xét gì về bài ca dao này? -HS nhận xét chung về bài ca dao. -Bài ca dao này sử dụng mô típ gì? ý nghĩa của những hình ảnh này? -Hs suy nghĩ trả lời. -Em hãy nêu nhận xét về bài ca dao? -Em có nhận xét gì về nội dung, nghệ thuật của các bài ca dao này? -Học sinh dựa vào bài học, ghi nhớ để rút ra tổng kết. I.Tiểu dẫn: – Ca dao: là lời thơ của bài hát dân gian. Ca dao là lời, dân ca là nhạc, là giai điệu.Ca dao thuộc loại trữ tình dân gian. – Nội dung: ca dao diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ gia đình, xã hội, đất nước (thiên về trữ tình, khác với truyện dân gian là thể loại tự sự) – Nghệ thuật:Thường viết theo thể 6/8; giàu hình ảnh so sánh-ẩn dụ, diến đạt bằng một số công thức II.Đọc hiểu: 1.Tiếng hát than thân:(bài 1, 2) – Điểm chung: + Mô típ mở đầu: Thân em đã xác định rõ đây là lời than của người phụ nữ. Cách mở đầu như thế khiến cho lời than thêm ngậm ngùi, có tác dụng nhấn mạnh, gây sự chú ý đôí với người nghe, người đọc – Hình thức lặp lại nhiều lần như thế với tần số khá lớn đã nói lên họ là loại người khổ nhất trong xã hội cũ. + Âm hưởng chung của hai bài ca dao đều là than thở về nỗi khổ, số phận. + Tự ý thức được sắc đẹp, phẩm hạnh của mình + Biện pháp so sánh, tượng trưng. – Nét riêng: *Bài 1: – Qua hình ảnh so sánh – tượng trưng: tấm lụa đào phất phơ giữa chợ, ta hiểu được: + Tấm lụa đào mềm mại, duyên dáng, óng ả chính là sự tự ý thức về sắc đẹp, tuổi xuân và giá trị của mình. + Nhưng sắc đẹp đó thật chông chênh, không có gì đảm bảo, không biết ai sẽ mua tấm lụa đó? Thân người con gái xưa nào có khác chi một món hàng để mua bán. + Nỗi đau xót nhất của nhân vật trữ tình trong lời than thở chính là khi bước vào cái tuổi đẹp nhất, hạnh phúc nhất của cuộc đời thì nối lo về thân phận lại ập đến ngay với họ. Cô gái không làm chủ được tương lai số phận của mình. Sư đối lập giữa hai dòng thơ càng giúp ta thấm thía nỗi đau của họ: một nỗi lo mơ hồ, ám ảnh chưa biết cuộc đời mình sẽ dạt về đâu. *Bài 2: – So với bài trên, bài này có số dòng gấp đôi. Sự tự ý thức được nhấn mạnh, lời bộc bạch rõ hơn và lời mời mọc càng da diết. – Nếu bài trên nghiêng về vẻ đẹp phơi phới của tuổi xuân thì bài này nhấn mạnh giá trị thực của người con gái: Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen. Giá trị bản chất bên trong không dễ gì nhận ra, hoặc có khi bởi lãng quên vì vẻ bên ngoài gai góc, đen đủi không được hấp dẫn. – Thái độ của cô gái cùng mạnh dạn hơn, thể hiện trong lời mời gọi da diết, đáng thương.Lời mời mọc của cô gái mong muón được khẳng định giá trị thực đó: Ai ơi, nếm thử mà xem Sự bộc bạch kĩ với lời mời da diết như thế chứng tổ một sự thật đắng cay: giá trị của họ không một ai biết đến. Vì thế trong sự khẳng định giá trị của mình còn có bao nối ngậm ngùi chua xót cho thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. 2.Tiếng hát yêu thương tình nghĩa: a.Bài 3: – Bài ca dao này thuộc vào những bai ca yêu thương tình nghĩa. Cụ thể là tình yêu đối lứa bị lỡ dở nên đâu đớn, chua xót, nên càngthương nhó đợi chờ.Là lời chàng trai – Mô típ mở đầu của các bài ca này là: Trèo lên cây khế, trèo lên câu bưởi hái hoa, trèo lên cây gạo cao cao với lối hứng thường để gây cảm xúc, dẫn dắt tâm trạng. Trò truyện than thở với cây khế như một đối tương trữ tình nhưng cũng chính là đang trò chuyện với lòng mình. – Từ ai phiếm chỉ không hoàn toàn giống với từ ai ở bài trên – chủ yếu chỉ các chàng trai, những người đàn ông mà cô gái đang mong chờ.Từ ai ở đây hướng dến đối tượng làm tình yêu tan vỡ: Có thể là lễ giáo phong kiến, sự bất công, bất bình đẳng – Thủ pháp chơi chữ: khế chua, lòng ta cùng bao chua xót – Hình ảnh so sánh vói mặt trăng, mặt trời, sao Hôm, sao Mai ,sao Vượt mang tầm vóc vũ trụ phi thường, mãi mãi sánh đôi với nhau. – Cách nói dứt khoát triệt để, điệp ngữ so sánh với tính từ bổ sung: chằng chằng như càng khẳng định thêm sự bền chặt, khăng khít, không thể tách rời.Nó cho thấy sự chung thuỷ, sẵn sàng chờ đợi của chàng trai với người yêu. b.Bài 4:. Nỗi thương nhớ người yêu của cô gái: – Tâm trạng của nhân vật trữ tình: Nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu. + Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung nhất, nhất là sự thương nhớ ngươi yêu. Dân gian ta đã từng nói: -Nhớ ai bổi hồi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than – Nhớ ai ra nhẩn vào ngơ Nhớ ai, ai nhớ bây giờ nhớ ai +Các hình ảnh biểu tượng: Khăn-đèn -mắt, đặc biệt chiếc khăn là một mô típ nghệ thuật trong ca dao trữ tình + Khăn, đèn- hay chính là cô gái đã được nhân hóa, con mắt là phép hoán dụ (dùng một bộ phận để chỉ toàn thể) để nói lên tâm trạng nhân vật trữ tình. Cô gái hỏi khăn, đèn, mắt chính là cô tự hỏi lòng mình. – Cái khăn: Được nói đến đầu tiên trong bài ca dao và được hỏi nhiểu nhất trong 6 dòng thơ- nửa bài ca.Với nhiều trạng thái theo chiều không gian: rơi xuống đất-vắt lên vai Đó là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người yêu, lại luôn quấn quýt bên mình người con gái như chia xẻ với họ niềm thương nỗi nhớ. + Đằng sau chiếc khăn là hình bóng và nỗi niềm thương nhớ của cô gái. Nỗi nhớ khiến cô gái không làm chủ dược mình, như đứng đống lửa như ngồi đống rơm, ra ngẩn vào ngơ.Phải thương nhớ đến ntn thì chiếc khăn mới rơi, vắt. – Cái đèn: + ngọn đèn – tín hiệu thời gian: nỗi nhớ từ ngày chuyển sang đêm. + Ngọn đèn- nỗi nhớ: Đèn thương nhớ ai? mà đèn không tắt hay chính là hình ảnh cô gái đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng với thời gian. Cái khăn biết giãi bày thì ngọn đèn cũng như biết thổ lộ, nó đã nói nhiều điều không có trong lời ca. – Đôi mắt + Mắt thương nhớ, mắt ngủ không yên – Nỗi ưu tư, thương nhớ vẫn nặng trĩu, thao thức trong đêm. Đôi mắt là của sổ của tâm hồn .Cô gái xuất hiện ngày càng trực tiếp hơn để giãi bày tâm trạng -Hai câu cuối: thể lục bát-tâm sự cô gái trào ra bằng một niềm lo âu mênh mông cho hạnh phúc lứa đôi của mình. Cô gái thương nhớ người yêu nhưng vẫn lo lằng cho số phận của mình, cho duyên phận đôi lứa. Đặt trong hệ thống bài ca dao than thân ta hiểu thêm về ý nghĩa của hai câu kết. c.Bài 5: – Đây là ước muốn cô gái, cũng là lời cô gái thầm nói với người yêu mình. Cô thổ lộ ước muốn đó trong một ý tưởng táo bạo bằng một hình ảnh độc đáo: bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi. – Vẻ đẹp độc đáo của cây cầu dải yếm: + cây cầu là một chi tiết nghệ thuật quen thuộc và đặc sắc, xuất hiện với tần số lớn trở thành biểu tượng của nơi gặp gỡ hẹn hò của những đôi lứa yêu nhau: -Gần nhà mà chẳng sang chơi Để em hái ngọn mùng tơi bắc cầu -Hỡi cô cắt cỏ bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang + Cô gái mong ước con sông chỉ rộng một gang để bắc chiếc cầu bằng dải yếm. – mềm mại, mang hơi ấm, nhịp đập trài tim đầy yêu thương của mình. Đây đích thực là cây cầu tình yêu trong ca dao. Trong hệ thống mô típ cây cầu của ca dao, nó là cái cầu tình độc đáo nhất và đẹp nhất . d.Bài 6: -Hình ảnh: gừng, muối – vốn rất quen thuộc trong ca dao xưa: Tay nâng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quen nhau III.Tổng kết: 1.Nội dung: Các bài ca dao yêu thương, tình nghĩa nói lên tình yêu lòng chung thuỷ của nhân dân lao động.Làm toát lên vẻ đẹp tâm hồn họ: chung thuỷ, coi trọng tình nghĩa-đạo lý và cũng rất lãng mạn.. 2.Nghệ thuật:Tiêu biểu cho nghệ thuật ca dao với các phép so sánh, ẩn dụ, các hình ảnh quen thuộc trong đời sống được dùng sáng tạo d.kết thúc bài học: 1.Củng cố: Em hãy rút ra nhận xét về những nội dung và đặc điểm nghệ thuật chủ yếu của ca dao yêu thương tình nghĩa? 2.Dặn học sinh: Học thuộc thơ, chuẩn bị bài: Ngôn ngữ nói – viết. e.rút kinh nghiệm bài dạy:

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa

CA DAOCa dao thuộc loại hình trữ tình của văn học dân gian, diễn tả đời sống tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của nhân dân trong các quan hệ gia đình, lứa đôi, quê hương, đất nước và trong các mối quan hệ xã hội khác. Đó là những tiếng hát than thân, những lời ca yêu thương, tình nghĩa, những bài ca hài hước… của người bình dân Việt Nam sau lũy tre xanh, bên giếng nước, gốc đa, sân đình,…

Ca dao kết tinh nghệ thuật ngôn từ của nhân dân, mang những đặc trưng riêng khác với thơ của văn học viết. Ca dao thường ngắn gọn, ngôn ngữ thơ gần gũi với lời nói hằng ngày, giàu hình ảnh so sánh ẩn dụ, biểu tượng truyền thống và đặc biệt là hình thức lặp lại, lối diễn đạt bằng một số công thức in đậm sắc thái dân gian.

Ca dao được nhân dân yêu chuộng, được các nhà thơ lớn đánh giá cao về tính chân thực, hồn nhiên, cô đúc, về sức gợi cảm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi ca dao là “những hòn ngọc quý”.

CHÙM CA DAO TRỮ TÌNHI. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

Chùm ca dao trữ tình gồm 6 bài, tiêu biểu cho nhiều mặt của đời sống tình cảm của người bình dân Việt Nam trong xã hội phong kiến xưa. Các em cần tập đọc diễn cảm các bài ca dao này:

– Đọc các bài ca than thân với giọng xót xa, thông cảm.

– Đọc các bài ca yêu thương, tình nghĩa với giọng tha thiết, lắng sâu.

2. Tìm hiểu, cảm nhận các bài ca daoCâu 1 Tiếng hát than thân (bài 1, 2)

Cảm nhận về hai bài ca dao than thân này, cần tìm hiểu nét chung của hai bài ca dao và sắc thái tình cảm riêng của từng bài.

– Nét chung: Ca dao than thân thường đề cập đến một loại người khổ nhất trong xã hội cũ: đó là người phụ nữ (mô thức mở đầu Thân em như… được lặp lại, vừa phiếm chỉ lại mang ý nghĩa xác định). Khổ vì thân phận của họ bị phụ thuộc, giá trị của họ không được ai biết đến (hình ảnh so sánh ẩn dụ và câu miêu tả bổ sung hình ảnh so sánh đã nói lên một cách thấm thía nỗi khổ đó):

+ Tấm lụa đào phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? + Củ ấu gai ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen…

– Sắc thái tình cảm riêng:

+ Bài 1: Vẻ đẹp phơi phới tuổi xuân của người phụ nữ cũng chỉ là một món hàng để mua bán giữa chợ. Nỗi đau xót nhất chính là ở chỗ khi người con gái bước vào cái tuổi đẹp nhất, hanh phúc nhất của đời mình thì nỗi lo về thân phận lại ập đến ngay với họ. Nỗi đau và nỗi lo đó được bộc lộ qua sự đối lập giữa hai dòng thơ: Thân em như tấm lụa đào (đẹp, hạnh phúc)

+ Bài 2: Sự tự ý thức rõ hơn, và ở đây được nhấn mạnh đến giá trị thực của người con gái: Ruột trong thì trắng / vỏ ngoài thì đen. Họ phải bộc bạch kĩ và mời mọc da diết (Ai ơi, nếm thử mà xem – Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi) vì giá trị của họ không được ai biết đến. Và đó chính là nỗi ngậm ngùi chua xót cho thân phận người con gái trong xã hội cũ. Cảm hứng này đã được Hồ Xuân Hương nói đến trong bài Bánh trôi nước (“Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non…”).

Câu 2 (bài 3)

Bài ca dao không mở đầu bằng Thân em như… mà bằng Trèo lên cây khế nửa ngày… (dùng lối đưa đẩy, gợi cảm hứng từ một sự việc bên ngoài). Lối mở đầu này cũng đã thành môtíp trong ca dao: Trèo lên cây bưởi hái hoa…, Trèo lèn cây gạo cao cao… thường được dùng trong trường hợp người con trai thất tình, lỡ duyên.

Nhân vật trữ tình trong bài ca này là một chàng trai như vậy. Mặc dầu duyên kiếp không thành nhưng tình nghĩa con người thì trước sau vẫn không thay đổi. Người bình dân đã lấy hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ là cái to lớn, vĩnh hằng để nói lên tình nghĩa con người bền vững, thủy chung. Tình nghĩa đó được ví như mặt trời, mặt trăng, sao từ xưa đến nay vẫn thế. Như nỗi lòng chàng trai đối với người yêu:

Mình ơi, có nhớ ta chăngTa như sao Vượt chờ trăng giữa trời.

Đây là sự đợi chờ trong vô vọng được gửi vào một hình ảnh so sánh ẩn dụ của thiên nhiên. Sao Vượt (từ cổ của sao Hôm) mọc rất sớm từ lúc chiều hôm và khi lên đến đỉnh bầu trời (lúc đã khuya) thì trăng mới mọc. Vậy mà vẫn đợi chờ thì đấy mới là nghĩa tình bền vững, tình yêu thủy chung của con người. Duyên kiếp có thể, và đã dở dang không thành (“Ai làm chưa xót lòng này, khế ơi !”), nhưng tình yêu thì mãi mãi vẫn còn, không thể đổi thay. Hình ảnh sao Vượt chờ trăng giữa trời có cái mỏi mòn của sự chờ đợi, cái cô đơn của sự ngóng trông, nhưng chính vì thế, nó mới cao đẹp.

Câu 3

Nỗi niềm của cô gái đối với người yêu đọng lại trong một tấm khăn thương nhớ (bài 4).

Thương nhớ vốn là một tình cảm khó hình dung – nhất là thương nhớ người yêu; nhưng ở bài ca dao này lại được diễn tả một cách thật cụ thể, tinh tế và gợi cảm.

Đó là cách nói bằng hình ảnh, biểu tượng mà ca dao rất hay dùng để diễn tả những điều trừu tượng. Ở đây, nỗi niềm thương nhớ của cô gái đối với người yêu đã được biểu hiện một cách cụ thể, sinh động bằng các biểu tượng khăn, đèn, mắt – đặc biệt là hình ảnh chiếc khăn như một môtíp nghệ thuật trong ca dao trữ tình của người bình dân Việt Nam.

Khăn, đèn chính là cô gái (đã được nhân hóa), còn mắt là phép hoán dụ (dùng một bộ phận để chỉ toàn thể) để nói lên nhân vật trữ tình. Cô gái hỏi khăn, hỏi đèn, hỏi mắt chính là cô tự hỏi lòng mình. Và hẳn là nhớ thương phải bồn chồn lắm thì cô mới hỏi dồn dập đến vậy.

– Cái khăn được nói đến đầu tiên và được hỏi nhiều nhất trong 6 dòng thơ (tức nửa bài ca). Đó là vật trao duyên, vật kỉ niệm gợi nhớ người yêu, lại luôn luôn quấn quýt bên mình người con gái như cùng chia sẻ với họ trong niềm thương nhớ. Nó mang màu sắc nữ tính. Nó chính là người con gái.

Hãy đọc lại 6 câu thơ và lắng nghe trong đó:

Có phải đằng sau chiếc khăn là một con người đang thương nhớ bồn chồn không nguôi? Thương nhớ đến không làm chủ được mình, đứng ngồi không yên, ra ngẩn vào ngơ, như đứng đống lửa, như ngồi đống than thì mới có cái cảnh khăn rơi, khăn vắt… như vậy. Sáu câu thơ được cấu trúc theo lối vắt dòng láy lại 6 lần từ “khăn” ở vị trí đầu câu và láy lại 3 lần “khăn thương nhớ ai” như một điệp khúc, cùng với cách gieo vần (cả vần chân và vần lưng) tạo nên những láy âm trong thể văn bốn (ai và ắt) đã bộc lộ rõ nỗi niềm thương nhớ của cô gái. Đó là nỗi nhớ có không gian (khăn rơi xuống đất, khăn vắt lên vai, khăn chùi nước mắt).

– Đến ngọn đèn, nỗi nhớ còn được đo theo thời gian: nhớ từ ngày sang đêm, từ “tấm khăn” đến “ngọn đèn”. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt – hay chính cô gái đang trằn trọc thâu đêm trong nỗi nhớ thương đằng đẵng với thời gian? “Cái khăn” biết giãi bày, thì “ngọn đèn” cũng biết thổ lộ, nó đã nói với ta nhiều điều không có trong lời ca..

– Cuối cùng là đôi mắt của chính cô gái. “Cái khăn”, “ngọn đèn” gợi nhiều liên tưởng nhưng chỉ là cách nói gián tiếp theo lối biểu tượng, nhân hóa. Đến đây, như không kìm lòng được nữa, cô gái đã hỏi trực tiếp chính mình: Mắt thương nhớ ai, Mắt ngủ không yên. ỞA trên “đèn không tắt” thì ở đây “mắt ngủ không yên”: hình tượng thật là hợp lí, nhất quán, và đôi mắt không ngủ ấy xoáy vào lòng ta một niềm khắc khoải khôn nguôi…

– Những câu hỏi không có câu trả lời liên tiếp cất lên như nén chặt nỗi thương nhớ trong lòng, để rồi cuối cùng trào ra bằng một niềm lo âu mênh mông cho hạnh phúc lứa đôi của mình:

Đêm qua em những lo phiền Lo vì một nỗi không yên một bề…

Trong cuộc sống của người phụ nữ xưa, một nỗi lo như thế là hoàn toàn có thể có.

Câu 4 Cái cầu – dải yếm trong ca dao tình yêu (bài 5)

Bài ca dao là lời ước muốn của cô gái, cũng là lời cô thầm nói với người yêu của mình. Cô đã thổ lộ ước muốn đó trong một ý tưởng táo bạo bằng một hình ảnh độc đáo:

Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi.

Ước muốn đã độc đáo, tạo ra cái cầu để thực hiện ước muốn đó lại càng độc đáo hơn. Ở đây, con sông không thực mà cái cầu lại càng ảo. Có con sông ấy thì mới có cái cầu ấy. Song, cái hay của bài ca dao lại chính là ở những cái không thực ấy và tình ý mà chúng gợi lên. Và đó mới là ước muốn táo bạo, tình yêu mãnh liệt, là nghệ thuật của ca dao.

Cái cầu – dải yếm đích thực là cái cầu tình yêu trong ca dao. Mà lại là cái cầu của người con gái chủ động bắc cho người mình yêu trong sự ràng buộc, tỏa chiết của lễ giáo phong kiến thời xưa. Nó táo bạo, mãnh liệt nhưng đằm thắm, đầy nữ tính bởi nó là cái dải yếm, cái vật cụ thể mềm mại luôn luôn quấn quýt bên thân hình người con gái: nó chính là người con gái! Cái cầu – dải yếm đã được tạo nên bằng chính máu thịt, cuộc đời, trái tim rạo rực yêu đương của những người con gái làng quê.

Họ muốn dùng cái vật thân thiết, gần gũi nhất của mình để bắc cầu mời mọc người mình yêu. Trong cái phi lí lại có cái có lí. Dải yếm nhỏ và mềm làm sao bắc thành cầu được, nhưng tình yêu của người con gái đã khiến nó trở nên bền vững để có thể bắc thành cái cầu tình cho “chàng sang chơi”. Trong hệ thống môtíp cái cầu của ca dao (xem phần giải bài tập ở dưới), nó là cái cầu tình yêu độc đáo và đẹp nhất, và chỉ có tư duy nghệ thuật dân gian thì mới sáng tạo ra được một cái cầu như thế.

Câu 5 Tình nghĩa thủy chung của người bình dân trong ca dao (bài 6)

Muối ba năm muối đang còn mặnĐôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. Gừng chín tháng gừng hãy còn cay.

Ca dao có nhiều biểu tượng nói lên tình nghĩa thủy chung của con người. Nếu thuyền – bến, trúc – mai là của những đôi lứa đang yêu thì gừng cay – muối mặn lại dành cho những cặp vợ chồng, bởi vợ chồng đã từng chung sống với nhau thì mới trải qua những ngày gừng cay – muối mặn, mới thấm thía nghĩa tình thủy chung. Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay, muối mặn (Nguyễn Khoa Điềm – Đất Nước).

II. LUYỆN TẬP– Thân em như hạt mưa rào– Thân em như miếng cau khô– Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ– Nhớ khi khăn mở trầu traoMiệng chỉ cười nụ biết bao nhiêu tình. Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai? – Cách nhau có một con đầm– Gần đây mà chẳng sang chơi Để em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu.Sợ rằng chàng chả đi cầuCho tốn công thợ, cho sầu lòng em. Muốn sang anh bẻ cành trầm cho sang.Cành trầm lá dọc lá ngang Đố người bèn ấy bước sang cành trầm. Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày.– Thân em như cá ở trong lờHết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu. Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa. Bài tập 1: Gợi ý một số câu ca dao có mô thức mở đầu Thân em như…, các em tìm thêm cho đủ 5 câu:

Nghĩa tình ấy bền vững như:

Và hương vị của gừng – muối đã thành hương vị của tình người:

Ở câu lục, nghĩa được nói trước (nghĩa nặng) rồi mới đến tình (tình dày) cho thấy nhân dân ta chú trọng đến nghĩa nhiều hơn. Đường mòn ân nghĩa không mòn (tục ngữ). Còn câu bát được kéo dài thành 13 tiếng đã khẳng định mạnh mẽ cái đạo lí đó của nhân dân ta. Chú ý: Ba vạn sáu ngàn ngày mới xa có nghĩa là không bao giờ xa cách cả vì đó chính là một trăm năm, chỉ một đời người.

Câu 6 Những biện pháp nghệ thuật mà ca dao thường sử dụng:

– Sự lặp lại mô thức mở đầu bài ca: Thân em như… – Các môtíp đã thành biểu tượng trong ca dao: Cái cầu, bến nước, con thuyền, tấm khăn, ngọn đền, gừng cay – muối mặn,… – Hình ảnh so sánh ẩn dụ lấy từ trong cuộc sống đời thường: tấm lụa đào…, củ ấu gai… – Thời gian và không gian nghệ thuật có sức gợi cảm (bài 4). – Thể thơ lục bát; lục bát biến thể; thể vãn bốn; song thất lục bát (biến thể).

Bài tập 2 a) Ca dao về nỗi nhớ người yêu:– Nhớ ai bổi hổi bồi hồiNhư đứng đống lửa, như ngồi đống than.

b) Ca dao về cái khăn:– Gửi khăn, gửi áo, gửi lờiGửi đôi chàng mạng cho người đàng xa.

c)Bài ca dao Khăn thương nhớ ai vừa nằm trong hệ thống các bài ca dao nói trên, lại vừa có một vị trí riêng: nó cụ thể, sinh động hơn và cũng tổng hợp, trọn vẹn hơn. Có thể xem đây là bài ca dao hoàn chỉnh và hay nhất về nỗi nhớ của cô gái Việt ngày xưa. Nỗi nhớ của cô gái đã thành một nét đẹp trong tâm hồn của dân tộc: “Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” (Nguyễn Khoa Điềm)

Bài tập (bổ sung) Ngoài cái cầu – dải yếm, trong hệ thống môtíp cái cầu của ca dao còn có những cái cầu nào khác, mang những sắc thái ý nghĩa khác nhau như thế nào?

Gợi ý:– Hai ta cách một con sôngMuốn sang anh ngả cành hồng cho sang.

Các em đọc kĩ để phân biệt sắc thái ý nghĩa của chiếc cầu cành hồng, cành trầm và ngọn mồng tơi.

Soạn Bài Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 84 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Bài 1,2 a. Hai lời than thân đều mở đầu bằng Thân em như … với âm điệu xót xa, ngậm ngùi. Người than thân là ai và thân phận họ như thế nào? b. Anh chị cảm nhận được nỗi đau gì qua mỗi hình ảnh. Trong nỗi đau đó ta vẫn thấy nét đẹp của họ. Đó là nét đẹp gì và nó được ẩn chứa trong lời than thân như thế nào? Lời giải chi tiết:

a.

Hai lời than thân này đều có hình thức mở đầu là cụm từ ” thân em như….” kèm theo một âm điệu ngậm ngùi, xa xót. Có thể xác định đây là lời than của những cô gái đang đến độ xuân thì. Tuy có phẩm chất đẹp thế nhưng vẻ đẹp ấy lại không được nâng niu và trân trọng. Họ không thể tự quyết định được tương lai và hạnh phúc của mình. Họ khát khao và chờ mong nhưng vẫn phải gửi cuộc sống của mình cho số phận.

b.

– Bài 1:

“Thân em như tấm lụa đào – Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?” có ý nghĩa biểu thị nỗi đau của người con gái đẹp (được ví như tấm lụa đào) không biết sẽ phải lấy người chồng như thế nào? Đây cũng là nỗi đau của những thân phận con người bị rẻ rúng, bị coi như món hàng, đem ra để mua bán, đổi chác.

Nét đẹp của người con gái trong câu ca này mang màu sắc sang trọng, cao quý, kiêu kì (được ví như tấm lụa đào).

“Thân em như củ ấu gai

Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

Ai ơi nếm thử mà xem

Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”,

Nỗi đau của người con gái lại được biểu hiện trong hoàn cảnh không được đánh giá đúng mức chỉ vì hình thức bên ngoài xấu xí (như củ ấu). Sự trái ngược giữa hình thức với nội dung “Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen” khiến cho cô gái bị hiểu nhầm (Tuy nhiên, cũng có thể hiểu đâu là một cách nói khiêm nhường cốt để nhấn mạnh vẻ đẹp bên trong).

Nét đẹp của cô gái trong bài ca này chủ yếu nhấn mạnh vẻ đẹp nội tâm.

Câu 2 Câu 2 (trang 84 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Bài 3 a. Cách mở đầu bài ca dao này khác gì với hai bài ca dao trên? Anh (chị) hiểu từ “ai” trong câu “Ai làm chua xót lòng này, khế ơi!” như thế nào? b. Mặc dù lỡ duyên nhưng vẫn thủy chung. Điều đó được nói lên bằng hệ thống so sánh, ẩn dụ như thế nào? Vì sao tác giả dân gian lại lấy những hình ảnh thiên nhiên, vũ trụ để khẳng định tình nghĩa của con người. c. Phân tích để làm rõ vẻ đẹp câu thơ cuối. Lời giải chi tiết:

a.

– Trong ca dao, mô típ dùng từ “ai” để chỉ các thế lực ép gả hay cản ngăn tình yêu nam nữ xuất hiện nhiều lần.

– “Ai” là đại từ phiếm chỉ. Nó chỉ chung tất cả mọi người. Trong bài ca này từ ai chỉ người trong cuộc (chàng trai hoặc cô gái) hoặc cha mẹ ép duyên mà chia cắt mối tình của họ, hay những đối tượng khác. Từ “ai” gợi ra sự trách móc, oán giận, nghe xót xa đến tận đáy lòng.

b.

– Bị lỡ duyên, tình nghĩa vẫn bền vững thủy chung. Điều đó được khẳng định qua các cặp ẩn dụ. Sao Hôm, sao Mai, mặt Trăng – mặt Trời (để chỉ hai người vừa đôi phải lứa); còn thể hiện qua hình ảnh so sánh “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”, ý nói tình duyên tuy không thành nhưng lòng người vẫn đơn phương chờ đợi, vẫn mong có ngày gặp nhau.

– Tác giả lấy các hình ảnh thiên nhiên vũ trụ này (sao Hôm, sao Mai, sao Vượt, mặt Trăng, mặt Trời) gắn bó với cuộc sông lao động của những chàng trai, cô gái nông thôn (trong lao động họ thường phải đi sớm, vê khuya, một sương, hai nắng…) cho nên, những hình ảnh này dễ đi vào liên tưởng, suy nghĩ cảm xúc của họ. Hơn nữa, điểm đặc biệt của những hình ảnh nghệ thuật này là tính bền vững, không thay đổi trong quy luật hoạt động của nó. Lấy cái bất biến của vũ trụ, của thiên nhiên để khẳng định cái tình thuỷ chung son sắt của lòng người chính là chủ ý của tác giả dân gian.

– Các hình ảnh thiên nhiên có vẻ đẹp riêng, có thể trở thành nơi gửi tình, ngụ ý, diễn tả tâm hồn.

c. Phân tích câu cuối. “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời”

– Ý nghĩa của câu cuối: Dù mình không còn nhớ đến ta, thì ta vẫn chờ đợi tình yêu của mình không bao giờ thôi, giống như sao Vượt cứ đứng giữa trời chờ đợi trăng lên.

– Sao Vượt là tên cổ của sao Hôm. Nó thường mọc sớm vào buổi chiều, lên đến đỉnh của bầu trời thì trăng mới mọc. Vì thế câu thơ cuối “Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời” như là một lời khẳng định về tình nghĩa thuỷ chung son sắt và ý chí quyết tâm vượt qua những rào cản của tình yêu. Câu thơ là một lời nhắn nhủ với bạn tình, đồng thời cũng là một khát khao mong tình yêu có thể cập đến bền bờ hạnh phúc.

Câu 3 Câu 3 (trang 84 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Bài 4 Trong bài ca dao diễn tả nỗi nhớ thật tinh tế, cụ thể. Đó là nhờ thủ pháp gì và thủ pháp đó đã tạo hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Lời giải chi tiết:

Các thủ pháp diễn tả tình thương nhớ trong bài ca dao và tác dụng của chúng:

a. Ẩn dụ và hoán dụ: “Khăn thương nhớ ai… ” (Chiếc khăn là ẩn dụ gửi gắm nỗi lòng thương nhớ); “Đèn thương nhớ ai… (Chiếc đèn là ẩn dụ nói lên nỗi nhớ khôn nguôi); “Mắt thương nhớ ai… . ” (đôi mắt là hoán dụ nói lên nỗi lòng thao thức vì thương nhớ).

b. Phép lặp (lặp từ ngữ và mô hình cú pháp)

Các từ thương, nhớ…được lặp lại nhiều lần, có tác dụng nhấn mạnh, tăng thêm nỗi nhớ thương. Các từ khăn, đèn, mắt cũng được lặp lại nhiều lần để tô đậm các hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ, gây dấu ấn trong lòng người đọc.

Mô hình câu:

“Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai…”

c. Các câu hỏi tu từ được sử dụng liên tục: “Khăn thương nhớ ai – Khăn rơi xuống đất?… Đèn thương nhớ ai – Mà đèn chẳng tắt? Mắt thương nhớ ai – Mà mắt không yên?…

Tác dụng của những câu hỏi tu từ liên tục làm cho tình cảm láy đi láy lại, hợp với tâm trạng bồn chồn, không yên vì thương nhớ.

d. Những câu thơ ngắn gọn gồm 4 tiếng (hình thức văn bản) có tác dụng như một sự thôi thúc, diễn tả tâm trạng bồn chồn. Sự phối hợp với câu lục bát ở cuối càng làm nổi bật sắc thái sốt ruột trong những câu thơ bốn chữ.

Câu 4 Câu 4 (trang 84 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Bài 5 Chiếc cầu – dải yếm là một hình ảnh nghệ thuật chỉ có trong ca dao, nói lên ước muốn mãnh liệt của người bình dân trong tình yêu. Hãy phân tích để làm rõ vẻ đẹp độc đáo của hình ảnh nghệ thuật này. Lời giải chi tiết:

– Mô-tip là gì? Là khuôn, dạng, kiểu trong tiếng Việt nhằm chỉ những tổ hợp, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian.

– “Chiếc cầu” có ý nghĩa tượng trưng cho sự nối liền khoảng cách tình cảm giữa con người với con người. “Chiếc cầu – dải yếm” là một hình tượng độc đáo trong ca dao thể hiện khát vọng tình cảm mãnh liệt của các trang nam nữ thanh niên.

– Xưa nay, ước mong được ở gần nhau là ước mơ chính đáng của các đôi lứa yêu nhau. Ca dao đã thể hiện ước mong đó một cách sâu sắc, duyên dáng. Cô gái ước mong “sông rộng một gang” để “bắc cầu dải yếm” cho chàng sang chơi. Hình ảnh chiếc cầu giải yếm mãnh liệt và cũng là một ý tưởng táo bạo của cô gái.

– Những câu ca dao khác có sử dụng hình ảnh chiếc cầu khác trong ca dao về tình yêu:

Ước gì sông rộng một gang

Để em ngắt ngọn mồng tới bắc cầu Câu 5 Câu 5 (trang 84 SGK Ngữ văn 10 tâp 1) Bài 6 Vì sao khi nói đến tình nghĩa của con người, ca dao lại dùng hình ảnh muối – gừng? Phân tích ý nghĩa biểu tượng và giá trị biểu cảm mà hình ảnh này trong bài ca dao và tìm thêm một số câu ca dao khác có sử dụng hình ảnh muối gừng để minh họa. Lời giải chi tiết:

a. Tác giả dân gian đã sử dụng những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc mang tính truyền thống của ca dao ( gừng cay – muối mặn).

– Muối và gừng là hai hình ảnh nghệ thuật cũng được xây dựng từ những hình ảnh có thực trong đời sống (những gia vị trong bữa ăn). Gừng có vị cay nồng nhưng thơm, muối có vị mặn đậm đà.

– Từ hai ý nghĩa ấy, gừng và muối đã được chọn để biểu trưng cho hương vị của tình người trong cuộc sống – tình nghĩa thủy chung gắn bó sắt son.

b. Phân tích ý nghĩa biểu trưng của gừng và muối trong bài ca dao:

Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày Có xa nhau đi chăng nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa

– Muối mặn, gừng cay biểu trưng cho nghĩa tình mặn nồng.

– Ba năm, chín tháng biểu trưng cho sự bền lâu, vĩnh cửu.

– Ba vạn sáu ngàn ngày tức 100 năm, biểu trưng cho suốt cuộc đời, cũng có nghĩa là vĩnh hằng.

– Những câu ca dao tương tự:

Tay bưng chén muối đĩa gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau Muối càng mặn, gừng càng cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày em ơi! Câu 6 Câu 6 (trang 84 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Những biện pháp nghệ thuật thường được dùng trong ca dao? Những biện pháp đó có gì khác với nghệ thuật thơ trong văn học viết? Lời giải chi tiết:

a. Các biện pháp nghệ thuật thường dùng trong ca dao (qua các bài vừa học) là:

– Biện pháp so sánh (trong các bài 1, 2, 3)

– Biện pháp ẩn dụ (bài 2, 3, 4, 5, 6)

– Hoán dụ (bài 4)

– Nói quá (bài 5, 6)

b. Những biện pháp nghệ thuật trong ca dao có nét riêng: Lấy những sự vật gần gũi cụ thể với đời sống của người lao động để so sánh, để gọi tên, để trò chuyện như: nhện, sao, mận, đào, vườn hồng, cái đó, con sông, chiếc cầu, chiếc khăn, cái đèn, đôi mắt…Trong khi đó thơ bác học trong văn học viết sử dụng trang trọng hơn, có những nét khó hiểu hơn, uyên thâm hơn. Một bên đậm chất dân gian. Một bên mang tính chất bác học.

Luyện tập Câu 1 (trang 85 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Tìm 5 bài ca dao mở dầu bằng “Thân em như…” (SGK) Trả lời:

– Thân em như miếng cau khô

ND chính

Nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương, chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ được bộc lộ chân tình và sâu sắc qua chùm ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa. Đồng thời, qua đó tô đậm thêm vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong các câu ca và lên án, tố cáo, phê phán những thế lực phong kiến đã chà đạp quyền sống, quyền hạnh phúc, yêu thương và hạnh phúc lứa đôi của con người.

Loigiaihay.com

Tuần 9. Ca Dao Than Thân, Yêu Thương Tình Nghĩa

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

1.Khái niệm : – Là lời thơ trữ tình dân gian thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng; được sáng tác để diễn đạt thế giới nội tâm của con người.

2.Phân loại ca dao : – Ca dao trữ tình. – Ca dao hài hước.I.TIỂU DẪN3.Hình thức nghệ thuật : – Thể thơ :

– Ngôn ngữ :

– Biện pháp nghệ thuật :I.TIỂU DẪNCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

phần lớn là lục bát, lục bát biến thể.ngắn gọn, giàu hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng.

ngôn ngữ gần gũi với lời nói hàng ngày so sánh, ẩn dụ, diễn đạt 1 số công thức1.Khái niệm :2.Phân loại1.Ca dao than thân : bài 1, 2. a.Bài 1 Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUngười phụ nữ.dịu dàng.1.Ca dao than thân : bài 1, 2. a.Bài 1 -Tấm lụa đào

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUđẹpquícó giá trịnhư món hàng.câu hỏi tu từ lời than vì không thể quyết định được số phận. chúng tôi dao than thân : bài 1, 2. a.Bài 1

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUgiá trị thực : vẻ đẹp tâm hồn.– “Ai ơi, nếm thử”2.Bài 3 : Yêu thương Trèo lên cây khế nữa ngàyAi làm chua xót lòng này, khế ơi! Mặt Trăng sánh với Mặt TrờiSao Hôm sánh với Sao Mai chằng chằng. Mình ơi! Có nhớ ta chăng?Ta như Sao Vượt chờ trăng giữa trời.CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂU1.Bài 1,2 Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất. Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai. Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt. Đèn thương nhớ ai, Mà đèn không tắt. Mắt thương nhớ ai, Mắt không ngủ yên. Đêm qua em những lo phiền, Lo vì một nỗi không yên một bề…CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

CA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂU“Gần đây mà chẳng sang chơiĐể em ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu” “Hai ta cách một con sôngMuốn sang anh ngả cành hồng cho sang”“Cách nhau có một con sôngMuốn sang anh bẻ cành trầm cho sang”1.Bài 1,22.Bài 33.Bài 45.Bài 6 : Tình nghĩa Muối ba năm muối đang còn mặn Rừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dàyCó xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xaCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

2.Bài 31.Bài 1,23.Bài 44.Bài 5Nội dung : Nỗi niềm chua xót, đắng cay và tình cảm yêu thương chung thủy của người bình dân trong xã hội cũ được bộc lộ chân tình và sâu sắc. Nghệ thuật : Hình ảnh so sánh, ẩn dụ, tượng trưng. Ngôn ngữ : giản dị, gần gũi, mộc mạc. Giọng điệu : nhẹ nhàng, tình cảm.I.TIỂU DẪNII.ĐỌC HIỂUCA DAO THAN THÂNYÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA

III.TỔNG KẾT2.Bài 31.Bài 1,23.Bài 44.Bài 5 ” Chòng chành như nón không quaiNhư thuyền không lái, như ai không chồng Gái có chồng như gông đeo cổ,Gái không chồng như phản gỗ long lanh. Phản gỗ long lanh anh còn chữa được,Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi. Không chồng, khổ lắm chị em ơi!”

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 26, 27: Ca Dao Than Thân, Yêu Thương, Tình Nghĩa trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!