Xu Hướng 1/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 10: Nỗi Thương Mình (Truyện Kiều) # Top 3 View | Englishhouse.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 10: Nỗi Thương Mình (Truyện Kiều) # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Ngữ Văn 10: Nỗi Thương Mình (Truyện Kiều) được cập nhật mới nhất trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Người soạn: Lê Thị Thu Hằng Mục tiêu Giúp HS: – Hiểu được tình cảnh trớ trêu mà Kiều phải đương đầu và ý thức sâu sắc của nàng về phẩm giá. Thấy được vai trò của các phép tu từ, nhất là đối. Rèn kĩ năng phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình. Biết thông cảm với nỗi đau của con người. II/Chuẩn bị của thầy, trò 1. GV – Phương tiện: SGK, SGV, giáo án 2. HS: SGK, vở soạn IV/ Tiến trình dạy học A. ổn định lớp, kiểm tra sĩ số (1p) B. Tiến trình 1. Kiểm tra bài cũ: Bi kịch tình yêu trong đoạn trích “Trao duyên” đặc biệt ở điểm nào? Qua đó, em nhận xét gì về số phận và nhân cách của Thuý Kiều? TL: – Bi kịch tình yêu: Bi kịch 1: yêu tha thiết song phải tuân theo chữ hiếu mà bỏ tình yêu. Bi kịch 2: trao duyên cho em gái song vẫn không nguôi day dứt về tình yêu. – Kiều có thân phận đau khổ về tinh thần. Song nàng có nhân cách cao đẹp của con người chung thuỷ, luôn biết hi sinh vì người khác. 2. Bài mới (44 p) LVB: Nhận xét về Thuý Kiều (TK), có hai luồn ý kiến: “Kiều là cô gái trinh tiết” và “Kiều là cô gái tà dâm”. Em đồng ý ý kiến nào? Muốn trả lời câu hỏi đó, ta đi vào tìm hiểu đoạn trích. T Hoạt động Nội dung 5p Hoạt động 1:Tiểu dẫn ? Vị trí văn bản? I. Tiểu dẫn Vị trí văn bản: câu 1229 – 1248 5p Hoạt động 2: Đọc – GV lưu ý giọng đọc: buồn, thiết tha. – HS đọc diễn cảm. – HS xác định bố cục, ND từng phần. * Bố cục: 30p Hoạt động 3: Tìm hiểu văn bản ? Em hãy xác định các biện pháp NT được sử dụng ở đây? – Đọc chú thích SGK để tìm hiểu hình ảnh ước lệ. Tác dụng? (Gợi ý: đưa ra 2 cách nói để HS so sánh: “Sớm đưa TN, tối tìm TK” và “Sớm tối tiếp khách làng chơi”. Cách nào ẩn ý hơn?) – Tác giả sử dụng dạng đối gì: đối trong cụm từ, trong câu hay giữa câu – câu?) – Tìm các hình ảnh, câu văn sử dụng phép đối. Tác dụng? ? Tìm những câu có sử dụng biện pháp đảo ngữ. Tác dụng? ? Qua đó, em thấy gì về tình cảnh của TK? ? Hai câu 5, 6 cho ta thấy hoàn cảnh trực tiếp bày tỏ nỗi thương thân của K như thế nào? – HS trình bày cách ngắt nhịp trong câu 6 và tác dụng. ? Tìm các biện pháp NT trong đoạn và nêu tác dụng? (dành cho HS khá) ? Kiều đã bày tỏ những tâm sự gì? ? Đoạn thơ kể lại tình cảnh gì? Tâm trạng TK như thế nào trong tình cảnh đó? II. Văn bản – Hình ảnh ước lệ: + Ba hình ảnh (chú thích – SGK) + Tác dụng: tả thực tình cảnh của TK và khung cảnh chung của lầu xanh tuy vậy vẫn đảm bảo sự tôn trọng TK. Việc dùng điển tích làm ý thơ tả thực mà vẫn trang trọng, tránh đi cụ thể, chi tiết vào hiện thực xấu xa của lầu xanh. – Biện pháp đối: + Tiểu đối trong cụm từ: “Bướm lả ong lơi”, “lá gió cành chim”: một cụm từ được biến hoá từ thành ngữ “bướm ong lả lơi” (so sánh: nếu sử dụng đúng thành ngữ này, ý nghĩa vẫn đảm bảo song không có sự nhấn mạnh). chúng tôi đã đảo thành hai hình ảnh đối nhằm tô đậm hoàn cảnh của Kiều. Đó là hoàn cảnh không được tốt đẹp và lặp đi lặp lại nhiều lần. + Tiểu đối trong câu, đối 2 cặp câu (1-2 với 3-4): “Cuộc saysuốt đêm”, “Sớm đưaTK”: mô tả chân thực quãng thời gian Kiều ở lầu xanh. Biện pháp đối làm quãng thời gian dài vô tận, ở thời điểm nào người kĩ nữ cũng phải tiếp khách và phải tiếp nhiều loại người. – Biện pháp đảo ngữ: “Biết baolơi”, “Dập dìuchim” 2. Phần 2 (16 câu tiếp) – Hai câu đầu: Hoàn cảnh thương thân của Kiều + Sau những lúc tiếp khách, có thời điểm TK ở một mình. Đó là lúc đã gần sáng, khi đã tỉnh rượu và cảm thấy mỏi mệt vì những cuộc truy hoan. Lúc đó, K mới chợt giật mình nhận rõ tình cảnh bản thân. Thời gian đêm gần sáng là lúc con người ý thức rõ về bản thân. Trong thơ HXH, “CPN”, TX, các tác giả cũng dùng thời gian này để gợi tâm tình. + Trong thời điểm đó, chỉ có một mình bản thân NVTT tự đối diện. TK cũng vậy. Một câu thơ có ba chữ “mình” càng nhấn mạnh sự cô đơn của TK, cho thấy ý thức về bản thân đang trỗi dậy trong K. Câu thơ cũng thay đổi cách ngắt nhịp: 2/4/2 nhằm diễn tả sự thay đổi trong bài thơ: thay đổi từ khung cảnh ồn ào sang yên lặng, thay đổi trong tâm trạng NVTT: từ vô thức sang có ý thức về bản thân. Chứng tỏ, trong cảnh sống lầu xanh, K vẫn không quên đi nỗi khổ nhục của bản thân. Nếu quên đi thì TK sẽ không đau khổ nhưng còn ý thức được điều đó thì nỗi đau càng tăng lên. – Bốn câu tiếp: Tâm sự của Kiều Từ “khi”, “giờ” chỉ khoảng thời gian không xác định, gần với thời điểm NVTT đang nói. Dường như mọi việc vẫn ở trước mắt, quá khứ tươi đẹp mới thoáng qua chứ chưa xa xôi. Câu thơ sử dụng biện pháp so sánh “Giờđường” cho thấy hoàn cảnh bơ vơ, bị coi thường của TK. Hai câu 9, 10 sử dụng phép đối và tiểu đối trong cụm từ: dày gió – dạn sương, bướm chán – ong chường để nhấn mạnh sự chán chường, đau khổ đến chai lì cảm xúc của nàng. Câu 10 là câu cảm thán với kết cấu vòng tròn, điệp lại chữ “thân” ở đầu và cuối câu như sự day dứt, khinh ghét chính bản thân mình. Từ“sao” điệp lại 4 lần làm tâm trạng TK như trải dài qua các dòng thơ, mỗi dòng thơ là mỗi lời chất vấn số phận thấm đầy nước mắt. – Mười câu cuối: Thái độ của Kiều trước thú vui lầu xanh + Tình cảnh : Nhiều lần TK phải chịu sự lả lơi của khách làng chơi trong khung cảnh đầy chất lãng mạn với nhiều thú vui. + Tâm trạng: Với sự vui thú ở lầu xanh, TK tỏ thái độ thờ ơ. Để khách vui, người kĩ nữ nhận về mình nỗi buồn. “Mưa Sở mây Tần” là thành ngữ chỉ quan hệ thân xác nam nữ. Trước sự việc đó, TK “nào biết có xuân là gì”, nàng không quan tâm và cũng không thấy vui. Không thấy vui thú thì sự gần gũi biến thành cực hình, nó như con dao hai lưỡi mà TK là nạn nhân. Mặc dù cảnh TN rất đẹp song nàng không thấy vui thú. Câu hỏi tu từ “Ngườibao giờ” nhằm khẳng định ảnh hưởng của tâm trạng TK với cảnh vật. Đây cũng là qui luật tất yếu về mối liên hệ giữa tâm trạng với cái nhìn cảnh vật của con người. Cái vui chỉ là gượng gạo. Trong “Chinh phụ ngâm” khi miêu tả người thiếu phụ đánh đàn, tác giả cũng dùng chữ “gượng”. TK và người chinh phụ đã gặp nhau ở tâm trạng chán chường trước những thú vui quen thuộc. Nàng chán chường vì không có ai tri âm. Câu hỏi đặt ra cuối đoạn để tìm người tri âm mà cũng để khẳng định: chẳng có ai cả. Từ “ai” xuất hiện hai lần. “Ai” ở đầu câu là sự tìm kiếm nhưng khi nó xuất hiện ở cuối câu thì là sự phủ định hoàn toàn. HĐ 4: Tổng kết ? Nhận xét gì về tình cảnh – tâm trạng TK? Từ đó, em đánh giá gì về nhân phẩm TK? K là cô gái trinh tiết hay tà dâm? ? “Nỗi thương mình” của nhân vật có ý nghĩa mới mẻ thế nào với văn học trung đại? Từ đó, rút ra giá trị nhân đạo mới mẻ của tác phẩm? ? Văn bản sử dụng chủ yếu biện pháp nào? – HS đọc Ghi nhớ III. Tổng kết Nội dung – TK rơi vào tình cảnh trớ trêu, dễ làm con người đánh mất nhân phẩm. K ý thức rõ thân phận khổ đau của mình, tiếc nuối quá khứ, khinh ghét bản thân và thờ ơ với những thú vui ở lầu xanh. – chúng tôi không chỉ thương xót chung chung mà ông chú ý đến nỗi đau cá nhân của con người. Sau lối xưng “ta” đặc trưng của văn học trung đại, ta chợt nghe thấy một giọng ca riêng cùng nỗi thương thân của cái “tôi”. Thương mình là nền tảng vững chắc cho lòng thương người. Với đoạn trích này, ND đã kế thừa được tư tưởng tiến bộ của VHDG. Hơn nữa, đây là “nỗi thương mình” của con người dưới đáy xã hội nên nó càng mới lạ và giàu tính nhân đạo. Nó cho thấy, chúng tôi quan tâm tới mọi loại người chứ không chỉ những người ở tầng lớp trên. Không phải những người ở hoàn cảnh xấu đều xấu cả. Nó còn cho thấy ý thức bản thân và sự phản kháng của con người bị đè nén với xã hội đặc biệt là của người phụ nữ Nghệ thuật Sử dụng tối đa phép đối để nhấn mạnh tình cảnh – tâm trạng TK và nhiều hình ảnh tượng trưng, ước lệ nhằm miêu tả chân thực cuộc sống lầu xanh mà vẫn đảm bảo sự tôn trọng TK. HĐ 5: Luyện tập HS làm bài trắc nghiệm Đáp án: c IV. Luyện tập Dòng nào sau đây không đúng với đoạn trích “Nỗi thương mình”? a. Tình cảnh trớ trêu mà Kiều gặp phải khi rơi vào lầu xanh. b. Nỗi niềm thương thân xót phận của Kiều. c. Sự đau khổ của Kiều khi phải trao duyên cho em. C. 1. Giao nhiệm vụ – Học thuộc bài thơ. – Nắm được nội dung cơ bản của tác phẩm. 2. Dặn dò HS chuẩn bị bài sau – Soạn bài “Chí khí anh hùng”. – Một HS chuẩn bị thuyết trình tiểu dẫn.

Soạn Bài Nỗi Thương Mình Trích Truyện Kiều Của Nguyễn Du

Soạn bài Nỗi thương mình trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

1. Tìm hiểu xuất xứ bài thơ.

– Trích đoạn “Nỗi thương mình” thuộc phần hai của tác phẩm Truyện Kiều “Gia biến và lưu lạc”, đoạn trích miêu tả tâm trạng đau khổ, chán chường của Thúy Kiều trong cuộc sống đầy tủi nhục, ê chề nơi lầu xanh.

Sau khi bị Sở Khanh lừa trốn khỏi lầu Ngưng Bích, Thúy Kiều đã bị Tú Bà bắt lại đánh đập dã man, và ép phải tiếp khách, đoạn trích “Nỗi thương minh” là sự tủi hờn của Thúy Kiều khi tỉnh dậy lúc tàn canh.

2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích

– Trích đoạn “Nỗi thương mình” có thể chia bố cục làm hai phần chính như sau:

+ Phần 1: 12 câu thơ đầu: Khắc họa lại cuộc sống dâm ô, bát nháo nơi lầu xanh.

+ Phần 2: Còn lại: Công việc nơi lầu xanh cùng thái độ chán ghét, ghê sợ của Thúy Kiều.

3. Nhận xét nghệ thuật sử dụng từ ngữ

– Trong đoạn trích này, tác giả Nguyễn Du đã vô cùng sáng tạo trong cách thức sử dụng từ ngữ của mình, tác giả mượn những hình ảnh của tự nhiên như những biểu tượng gợi tả đến cuộc sống và số phận hiện tại của Thúy Kiều:

+ “Bướm lả ong lơi”

+ “Lá gió cành chim”

+ “Dày gió dạn sương”

+ “Gió tựa hoa kề”

+ “Bướm chán ong chường”

– Những hình ảnh ước lệ tượng trưng được sử dụng như một biện pháp hữu hiệu trong việc khắc họa lại không khí bát nháo, trăng hoa nơi lầu xanh. Sống trong cảnh lầu xanh như vậy, Thúy Kiều luôn mang tâm trạng chán chường, đau khổ, nàng thương xót cho số phận đầy chìm nổi của mình, thương lấy tấm thân bị dày xéo, sỉ nhục.

4. Nhận xét về nghệ thuật miêu tả thời gian

– Thời gian mà Nguyễn Du lựa chọn để nói về tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích này chính là thời khắc “tàn canh”

“Khi tỉnh rượu lúc tàn canh

Giật mình mình lại thương mình xót xa”

Thời điểm Thúy Kiều tỉnh dậy chính là lúc tàn canh, khi hơi rượu đã tan, cuộc vui cũng hết, đây chính là lúc Thúy Kiều tỉnh táo nhất để ý thức về cuộc sống đầy ê chề của mình, cuộc sống mua vui cho khách làng chơi, sống cuộc sống lả lơi ong bướm khiến cho nàng chán chường, đau khổ. Nàng thương cho thân phận mình phải đi đến bước đường đọa đầy đau khổ, những suy nghĩ u uẩn bế tắc càng làm cho hình ảnh của Thúy Kiều trở nên đáng thương hơn.

Không phải ngẫu nhiên mà nhà văn Nguyễn Du lại lựa chọn thời khắc canh tàn, đây là thời khắc có khả năng gợi buồn, gợi sầu nhất, bởi chỉ khi đêm về thì không khí nơi lầu xanh bát nháo mới trở nên tĩnh lặng nhất. Đây cũng là lúc con người sống thật là mình, thấm thía nhất nỗi cô đơn, đau khổ của mình. Mặt khác, thời khắc đêm khuya cũng đem tối, u ám như chính cuộc sống đọa đầy đang bủa vây, chà đạp Thúy Kiều.

5. Nghệ thuật sử dụng hình thức lời kể nửa trực tiếp trong đoạn trích đã đạt hiệu quả như thế nào?

Điểm nhìn trần thuật của nhà thơ Nguyễn Du này có những nét đặc biệt, nhà thơ không kể bằng điểm nhìn của mình mà dường như nhập làm một với điểm nhìn của nhân vật Thúy Kiều để kể về cuộc sống của chính mình nơi lầu xanh. Trong tác phẩm, chủ thể của lời kể xưng “mình”,ta có thể hiểu đây chính là lời của Thúy Kiều. Việc lựa chọn điểm nhìn này tạo ra một hiệu quả nghệ thuật độc đáo, nhân vật có thể tự bộc lộ mình, vì vậy mà những tâm tư tình cảm của nhân vật cũng chân thực, sâu sắc và dễ gây đồng cảm, xót thương ở người đọc hơn.

6. Phân tích tâm trạng Thúy Kiều qua sáu câu thơ đầu của đoạn trích.

– Trong sáu câu thơ đầu tiên, thông qua việc khắc họa khung cảnh nơi lầu xanh thì nhà thơ Nguyễn Du đã để cho nhân vật Thúy Kiều tự bộc lộ tâm trạng của mình. Khung cảnh bát nháo, gió trăng không được tác giả khắc họa trực tiếp mà được biểu hiện thông qua những hình ảnh ẩn dụ: “Bướm lả ong lơi”, “lá gió cành chim”, “dày gió dạn sương”, “gió tựa hoa kề”. Thông qua những hình ảnh này, người đọc có thể hình dung rõ nét được không khí, cảnh vật nơi lầu xanh. Qua đó làm cơ sở để Thúy Kiều nhận thức được về hoàn cảnh của mình và bộc lộ những tâm trạng sầu muộn, sót thương.

Nàng cảm nhận thấm thía cuộc sống đọa đầy, tàn nhẫn nơi lầu xanh, ngày ngày phải làm những công việc mà mình chán ghét, đàn hát mua vui cho những kẻ đến mua vui khiến cho nàng tủi hờn, ê chề, đau khổ. Câu thơ thứ năm và thứ sáu khắc họa rõ nét nhất về tâm trạng này của nàng. Chỉ một từ “giật mình” thôi nhưng ta có thể thấy nó đáng sợ như thế nào, đây là cái giật mình của ý thức, cái giật mình đầy tuyệt vọng, đau khổ, khơi dậy những nỗi niềm u uẩn vốn triền miên tồn tại trong tâm hồn của Thúy Kiều.

Theo chúng tôi

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 86: Chí Khí Anh Hùng ( Trích ” Truyện Kiều”

( Trích ” Truyện Kiều” – Nguyễn Du)

A. Mục tiêu cần đạt:

– Hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du qua nhân vật Từ Hải.

– Thấy được nghệ thuật tả người anh hùng trong đoạn trích.

B. Phương pháp:

– Đọc hiểu tích cực

– Đàm thoại gợi mở

C. Phương tiện:

SGK, SGV, giáo án

D. Trọng tâm bài học:

– Lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du gửi gắm qua nhân vật Từ Hải

– Nghệ thuật tả người anh hùng trong đoạn trích nói riêng và thi pháp tả anh hùng trong văn học trung đại nói chung.

Tiết 86 CHÍ KHÍ ANH HÙNG ( Trích " Truyện Kiều" - Nguyễn Du) Mục tiêu cần đạt: Giúp HS: Hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du qua nhân vật Từ Hải. Thấy được nghệ thuật tả người anh hùng trong đoạn trích. Phương pháp: Đọc hiểu tích cực Phát vấn Đàm thoại gợi mở Phương tiện: SGK, SGV, giáo án Trọng tâm bài học: Lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du gửi gắm qua nhân vật Từ Hải Nghệ thuật tả người anh hùng trong đoạn trích nói riêng và thi pháp tả anh hùng trong văn học trung đại nói chung. Tiến trình lên lớp: Ổn định tổ chức. Bài mới. GV dẫn: Trong ®êi KiÒu cã nhiÒu cuéc chia tay, chia tay ®ét ngét víi Kim Träng khi mèi t×nh ®Çu chím hÐ; chia tay Thóc Sinh trong t©m tr¹ng c" ®¬n, ®Çy dù c¶m kh"ng lµnh. Trong ®o¹n trÝch nµy t¸c gi¶ t¸i hiÖn c¶nh KiÒu chia tay Tõ H¶i ®Ó chµng ra ®i thùc hiÖn nghiÖp lín. Nh­ng t¹i sao ta l¹i ®Æt tªn cho ®o¹n trÝch nµy lµ "ChÝ khÝ anh hïng" mµ kh"ng ph¶i "Tõ H¶i chia tay Thuý KiÒu"? §ã lµ v× ®o¹n trÝch nµy kh"ng tËp trung kh¾c ho¹ c¶nh chia tay mµ muèn kh¾c ho¹ Tõ H¶i ë vÎ ®Ñp, tÇm vãc vµ quyÕt t©m ®¹t ®Õn kh¸t väng. Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt HĐ1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu chung về đoạn trích. - GV hỏi: Em hãy tóm tắt những nội dung chính của phần Tiểu dẫn? - HS suy nghĩ, trả lời - GV nhận xét, chốt HĐ2: Hướng dẫn đọc hiểu khái quát - GV gọi 1 HS đọc diễn cảm VB, 1 HS khác nhận xét cách đọc. - HS đọc, nhận xét - GV nhận xét cách đọc, hướng HS đến cách đọc đúng cho đoạn trích: giọng đọc chậm rãi, hào hùng thể hiện sự khâm phục, ngợi ca. - GV lưu ý HS phần chú giải từ khó chân trang113. - Hỏi: Em hãy cho biết trong đoạn trích trên có lời của những ai? GV hỏi: Theo em nên chia đoạn trích này thành mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần? HS trả lời GV gọi HS bổ sung GV chốt HĐ3. Hướng dẫn đọc hiểu chi tiết GV yêu cầu 1 HS đọc diễn cảm 4 câu thơ đầu. Gv hỏi: Em hãy cho biết Từ Hải ra đi trong hoàn cảnh nào? HS suy nghĩ, trả lời GV bình: Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn cũng chính là lúc cuộc sống lứa đôi với Thúy Kiều mới đang bắt đầu và vô cùng mặn nồng hạnh phúc. Đó là cuộc sống của "Trai anh hùng, gái thuyền quyên Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng". Thúy Kiều là tri kỉ của anh hùng, Từ Hải là tri kỉ của giai nhân, họ đã nhận ra nhau ngay từ buổi đầu gặp gỡ " Cười rằng " Tri kỉ trước sau mấy người". Thế nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm nhưng chật hẹp, tù túng mà luôn khao khát giấc mộng anh hùng nên đã dứt áo ra đi. - GV hỏi: Hình ảnh Từ Hải được hiện lên qua những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nào trong 4 câu thơ trên? - HS phát hiện chi tiết - GV nhận xét và yêu cầu HS trình bày cách hiểu về các chi tiết, hình ảnh đã tìm ra. GV bình cụm "lòng bốn phương":Bốn phương ở đây là đông, tây, nam, bắc có nghĩa là thiên hạ thế giới. Theo Kinh lễ, xưa sinh con trai, người ta làm cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng gọi tắt là tang bồng, bắn ra bốn phương, tượng trưng cho mong muốn sau này người con trai làm nên sự nghiệp lớn. Nên khi nói đến lòng bốn phương là nói đến chí tang bồng, chí làm trai của nam tử thời xưa.Ngày xưa chí làm trai là phải "xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên". Chính Nguyễn Công Trứ cũng từng khẳng định " Chí làm trai nam bắc Đông Tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể. Vốn là một bậc anh hùng cái thế " đội trời đạp đất" với " gươm đàn nửa gánh non sông một chèo, Từ Hải làm sao có thể say sưa trong hạnh phúc lứa đôi khi mà chí lớn chưa thành? Chính vì vậy chàng đã quyết chí "lên đường thẳng rong"dứt khoát và mau lẹ chứ hề không bịn rịn, quyến luyến gia đình. GV: Em có nhận xét gì về tâm thế ra đi của Từ Hải? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV bình:Từ Hải ra đi một cách mau lẹ, dứt khoát trong không gian mênh mang cao rộng của trời đất: "Trông vời trời bể mênh mang"Câu thơ miêu tả hành động nhìn ra xa, đồng thời khắc hoạ dáng vẻ phóng khoáng của Từ Hải. Nguyễn Du đã xây dựng hình ảnh Từ Hải song song, sánh ngang với hình ảnh trời đất. Nhắc đến Từ Hải là thấy hình ảnh cao rộng của trời đất, vũ trụ. Những từ láy, từ biểu cảm chỉ độ rộng, độ cao càng khắc hoạ rõ hơn tư thế của Từ Hải. Cái nhìn của chàng không phải là trông hay nhìn bình thường mà là "trông vời" - cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt và suy nghĩ phi thường. Từ Hải một mình ra đi thực hiện ý nguyện của mình. Việc xây dựng Từ Hải độc lập một mình không làm chân dung chàng đơn độc mà càng cho thấy sự dũng mãnh của chàng. Hành động được miêu tả đầy sự dứt khoát, nhanh nhẹn. Đã nghĩ là làm, Từ Hải không bao giờ chần chừ, do dự, suy tính lâu. "Thoắt đã động lòng bốn phương" là "lên đường thẳng rong" ngay. GV: Nguyễn Du đã xuất phát từ cảm hứng gì khi miêu tả khi miêu tả người anh hùng? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV: Tóm lại qua bốn câu thơ đầu tác giả cho chúng ta thấy được điều gì ở nhân vật Từ Hải? HS trả lời GV chốt GV gọi HS đọc, cho HS xác định lời của Thúy Kiều và Từ Hải. GV: Trước quyết định ra đi của Từ Hải, Thúy Kiều có thái độ ntn? Thái độ ấy được thể hiện qua những hình ảnh, chi tiết nào? HS trả lời GV nhận xét, chốt ý (GV có bình thêm về chữ "tòng" trong quan niệm của Nho giáo) GV: Qua câu nói này em thấy Kiều là một người vợ ntn? HS trả lời GV chốt ý GV yêu cầu HS đọc toàn bộ những câu lời của TH GV: Trước thái độ của TK như vậy, TH đã trả lời ra sao? HS phát hiện, trả lời. GV nhận xét, chốt GV giải thích cụm " tâm phúc tương tri": hai người đã hiểu biết lòng dạ nhau, tức là đã hiểu nhau sâu sắc. GV bình: Trong lời đáp của mình Từ Hải đã từ chối mong muốn của Kiều và khẳng định tình cảm chân thành đối với K, coi nàng là người tri ân, tri kỉ vì trong cuộc hội ngộ ở lầu xanh chính K đã nhìn ra TH bằng con mắt tinh đời của mình: "Khen cho con mắt tinh đời Anh hùng đoán giữa trần ai mới già". TH khuyên K nên vượt lên thói tầm thường nhi nữ. Lời trách khéo của Từ với Kiều đồng thời cũng là lời khẳng định và nâng vị thế của nàng ( một kĩ nữ lầu xanh" lên ngang tầm với mình ( một vị anh hùng). Đằng sau lời trách ấy là ý chí dứt khoát, kiên quyết,ko bị níu kéo bởi thê nhi của TH. GV: Sau khi từ chối TK, Từ Hải muốn nói gì với nàng qua bốn câu thơ tiếp theo? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV bình: Nguyễn Du đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh thuộc phạm trù không gian như " mười vạn tinh binh" với bóng cờ, tiếng chiêng gợi nên khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng TH. Khát vọng " làm cho rõ mặt phi thường" chính là khát vọng xây dựng một sự nghiệp, công danh lừng lẫy, xuất chúng, hơn người. Thành công ấy sẽ là sính lễ để TH rước người tri kỉ. " Nghi gia" là nghi thức đón người con gái về làm vợ, làm dâu, một nghi thức có nhiều bước chu đáo và trang trọng. Thế là so với lần chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh trước đây thì lời hứa thực hiện những nghi thức trang trọng này chính là món quà và là hành động rửa sạch vết nhơ của đời kĩ nữ cho Kiều. GV: Em có nhận xét gì về TH qua lời hứa với TK? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV : Ngoài lời hứa trở về đón TK, TH còn nói những gì với TK qua 4 câu thơ tiếp. HS trả lời (GV bình qua về lời khẳng định của TH) GV nhận xét, chốt GV bình: Người ta học nghề mất vài ba năm, phải mất hàng chục năm nghề nghiệp mới tinh thông vững vàng. Sự nghiệp lớn muốn hoàn thành có khi phải hiến dâng trọn đời người. TH quyết việc lớn ấy sẽ được thực hiện trong một năm. Phải là một người quyết đoán, tự tin, đầy tài năng mới dám đặt ra một thời hạn như thế cho một sự nghiệp long trời lở đất. GV: Tóm lại, em có nhận xét gì về TH qua đoạn đối thoại với TK? HS trả lời GV nhận xét, chốt GV: Hai câu thơ cuối cho ta thấy hành động gì của TH? HS trả lời GV nhận xét, chốt ý GV bình: Theo sách xưa kể rằng chim bằng là một giống chim rất lớn, đập cánh làm động nước trong ba ngàn dặm, cưỡi gió mà bay lên chín ngàn dặm. Chim bằng trong thơ văn thường tượng trưng cho khát vọng của người anh hùng có bản lĩnh phi thường, khao khát làm nên sự nghiệp lớn. Đem hình ảnh chim bằng để ẩn dụ cho tư thế ra đi của TH, Nguyễn Du muốn khẳng định TH chính là bậc anh hùng cái thế có tầm vóc phi thường, sánh ngang đất trời, vũ trụ. GV: Theo em Nguyễn Du đã gửi gắm điều gì qua nhân vật TH? HS trả lời GV chốt GV bình: Trong KVK truyện, TH chỉ đơn thuần là một tên tướng cướp từng thi hỏng và đi buôn... Nhưng trong TK, ND đã nhận thức lại nhân vật TH, nhất quán miêu tả nhân vật với một sự cảm phục không che giấu, trao cho nhân vật TH lí tưởng anh hùng của ông. Đó là lí tưởng về một con người có phẩm chất, chí khí phi thường, một khát vọng làm nên sự nghiệp lớn. HĐ4: Hướng dẫn tổng kết bài GV: Em hãy nhận xét giá trị nghệ thuật và nội dung của đoạn trích " Chí khí anh hùng"? Theo em, vì sao tác giả lại đặt tên là CKAH? GV chốt lại những ý chính. Tìm hiểu chung Tóm tắt cuộc gặp gỡ giữa Từ Hải và Thúy Kiều Vị trí đoạn trích Câu 2213 - 2230 II. Đọc hiểu khái quát 1.Đọc, chú giải từ khó Lời tác giả Lời Thúy Kiều Lời Từ Hải 2.Bố cục: 3 phần P1: 4 câu thơ đầu→ Cuộc chia tay giữa Từ Hải và Thúy Kiều sau nửa năm chung sống P2: 12 câu thơ tiếp→ Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải - tính cách anh hùng của Từ P3: 2 câu cuối: Hình ảnh Từ Hải dứt áo ra đi. III. Đọc hiểu chi tiết. 4 câu đầu: "Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong." Thúy Kiều và Từ Hải đang có cuộc sống vô cùng hạnh phúc "hương lửa đương nồng" Trượng phu: chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng → Thái độ trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải. Thoắt: dứt khoát, mau lẹ,nhanh chóng. Động lòng bốn phương: trong lòng náo nức chí tung hoành ở bốn phương Lên đường thẳng rong: đi liền một mạch → Một tư thế đẹp, hiên ngang không vướng bận, không lệ bộ của người quân tử sẵn sàng lên đường. → Cảm hứng vũ trụ, con người vũ trụ với kích thước phi thường, không gian bát ngát, ngợi ca, khâm phục. 2. 12 câu tiếp: a. Lời Thúy Kiều: - Xưng hô: Chàng - thiếp: tình cảm vợ chồng mặn nồng, tha thiết. - Phận gái chữ tòng: bổn phận của người vợ phải theo chồng. - Một lòng xin đi: quyết tâm theo Từ Hải → Muốn ra đi để tiếp sức, chia sẻ, gánh vác công việc với chồng b. Lời Từ Hải * Lời đáp: "Từ rằng: "Tâm phúc tương tri Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình" Từ chối mong muốn của Kiều Khuyên Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng làm vợ một người anh hùng. Coi Kiều là người tri kỉ, hiểu mình → Tính cách anh hùng của Từ Hải. * Lời hứa: "Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường. Làm cho rỡ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia." - Rõ mặt phi thường: tạo nên sự nghiệp xuất chúng, phi thường→ niềm tin sắt đá vào bản thân, sự nghiệp của mình. - Rước nàng nghi gia: hứa trở về đón Kiều → Người anh hùng có chí khí, sự thống nhất giữa khát vọng phi thường và tình cảm sâu nặng với người tri kỉ. * 4 câu thơ tiếp: "Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu? Đành lòng chờ đó ít lâu Chầy chăng là một năm sau vội gì!" Bốn bể không nhà: khẳng định thực tế gian nan, vất vả, khó khăn của buổi đầu lập nghiệp. Lời hẹn: " một năm" : mốc thời gian cụ thể, nhanh chóng → Khẳng định ý chí, bản lĩnh, sự tự tin → Lời hẹn ước ngắn gọn, dứt khoát, tự tin 3. Hai câu cuối "Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi" Hành động : + quyết lời + dứt áo ra đi →thái độ, cử chỉ, hành động dứt khoát, không hề do dự, không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc và cản bước ý chí người anh hùng Hình ảnh chim bằng : → ẩn dụ tượng trưng về người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi thường, mang tầm vóc vũ trụ. Thể hiện ước mơ về người anh hùng lí tưởng của Nguyễn Du ( chân dung kì vĩ, chí khí, tài năng, bản lĩnh phi thường, thực hiện giấc mơ công lí). IV. Tổng kết 1.Nghệ thuật * Bút pháp lí tưởng hóa : - Từ ngữ : trượng phu, thoắt... - Hình ảnh kì vĩ, ước lệ: lòng bốn phương, trời bể... 2.Nội dung Qua hình tượng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du thể hiện quan niệm về người anh hùng lí tưởng và gửi gắm ước mơ công lý. Dặn dò: HS học thuộc lòng đoạn trích, nắm được các nét chính về ND và NT

Giáo Án Bài Kiều Ở Lầu Ngưng Bích (Trích Truyện Kiều) (Tiết 1) – Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9

Tải word giáo án: Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều) (Tiết 1)

– Thông qua bài học giúp học sinh hiểu đuợc:

1. Kiến thức

– Cảm nhận đc nỗi bễ bàng, cô đơn, buồn tủi của TK khi bị giam lỏng ở lầu NB và tấm lòng thuỷ chung,hiếu thảo của nàng.

– Ngôn ngữ độc thoại và n/t tả cảnh ngụ tình đặc sắc của ND.

2. Kĩ năng

– Bổ sung k/t đọc hiểu truyện thơ trung đại. Nhận ra và thấy đc t/d của ngôn ngữ độc thoại, của n/t tả cảnh ngụ tình .

– Phân tích tâm trạng nv qua một đoạn trích trong t/p Truyện Kiều.

– Cảm nhận sự cảm thông sâu sắc của ND đối với nv trong truyện.

3. Thái độ

– Căm phẫn khinh bỉ bọn buôn thịt bán người, đau đớn xót xa trước cảnh con người bị chà đạp

1. Giáo viên

   + Soạn bài, tranh, đọc các tài liệu tham khảo, tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng.

2. Học sinh

   + Đọc trước bài, chuẩn bị bài, (trả lời câu hỏi đọc hiểu sgk)

1. Ổn định tổ chức

Kiểm diện: Sĩ số

9A:

9C:

2. Kiểm tra

– Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh.;

H: Đọc thuộc lòng đoạn trích “Cảnh ngày xuân, nêu giá trị nội dung và NT?

3. Bài mới

– Gia đình gặp tai hoạ, Kiều phải bán mình cứu cha và em. Tưởng là bán mình làm vợ lẽ không ngờ bị MGS, Sở Khanh lừa gạt bán vào lầu xanh.Ở đó Tú Bà bắt nàng tiếp khách làng chơi Kiều nhất quyết không chịu nên đã bị TBà mắng nhiếc, đánh đập; đau đớn, phẫn uất, tủi nhục nàng định rút dao tự vẫn nhưng vì có Đạm Tiên báo mộng ngăn cản nên đành thôi. Tú Bà sợ Kiều chết thì mất cả chì lẫn chài nên tìm cách xoa dịu, lập kế đưa Kiều ra ở tạm lầu Ngưng Bích để chờ dịp tìm người đứng đắn sẽ gả cho nhưng thực chất là bày mưu nham hiểm, giam lỏng nàng để thực hiện âm mưu mới đê tiện hơn .. Đoạn trích: “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là 1 bức tranh tâm tình đầy xúc động. Đoạn trích giúp ta cảm nhận được tấm lòng chung thuỷ với người yêu và tấm lòng hiếu thảo của nàng đối với cha mẹ thật sâu sắc.

4. Củng cố – luyện tập

H: Đọc thuộc 6 câu thơ đầu? Nêu nội dung và giá trị nghệ thuật?

5. Hướng dẫn học sinh về nhà:

– Chuẩn bị tiết 2 Kiều ở lầu Ngưng Bích: đọc thuộc lòng đoạn trích

   + Phân tích nỗi nhớ của Thuý Kiều

   + Phân tích tâm trạng của TK ở 8 câu thơ cuối?

   + Nêu những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong toàn đoạn trích

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 10: Nỗi Thương Mình (Truyện Kiều) trên website Englishhouse.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!